LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi tiến hành đổi mới nền kinh tế nước ta đang đạt những thành tựu
hết sức to lớn và đang từng bước hội nhập và thích nghi với nền kinh tế thế giới.
Cùng với sự phát triển về kinh tế thì các ngành nghề ở Việt Nam cũng phong
phú và đa dạng hơn điều này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho lao động trong
nước có thể lựa chọn cho mình một ngành nghề phù hợp đồng thời nó cũng đặt
ra một thách thức không nhỏ đó là đứng trước quá nhiều ngành nghề như vậy thì
làm sao có thể chọn cho mình một ngành nghề hợp lý.
Thực tế ở Việt Nam trong những năm qua đã cho thấy một điều
rằng đa số sinh viên chưa có sự hiểu biết rõ ràng về ngành mình học, sinh viên
chọn ngành học còn theo cảm tính, theo trào lưu hay theo định hướng gia đình
mà chưa cân nhăc kỹ xem ngành mình lựa chọn có phù hợp với bản thân không.
Theo số liệu điều tra của đề tài nghiên cứu khoa học “Nâng cao chất
lượng giảng dạy các môn học chuyên ngành cho giảng viên trẻ khoa Quản lý
lao động” tại trường Đại học Lao động Xã hội “có 45% sinh viên được khảo sát
trả lời rằng họ vào trường theo nguyện vọng 1, số còn lại 55% sinh viên vào
trường theo nguyện vọng 2. Số lượng sinh viên vào trường theo nguyên vọng 2
là khá lớn, vì vậy, sau mỗi năm học số lương sinh sinh viên cũng có sự thay đổi
do các bạn sinh viên thi lại và chuyển sang các trường, các cơ sở đào tạo khác”.
Điều này chứng tỏ rằng khâu định hướng ngành nghề của sinh viên trong
trường chưa được tốt gây lãng phí thời gian và tiền bạc không nhỏ cho gia đình
và xã hội đồng thời nó gây ảnh hưởng không tốt đến bản thân sinh viên . Để làm
rõ hơn vấn đề này chúng em xin lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn ngành học của sinh viên Trường Đại học Lao động – Xã hội”
làm báo cáo khoa học của mình nhằm mục đích tìm hiểu xem các nhân tố nào
đang ảnh hưởng đến việc chọn ngành của sinh viên trường Đại học Lao Động xã
hội và việc chọn ngành như vậy có ảnh hưởng gì đến kết quả học tập của sinh
viên không từ đó chúng em đưa ra các giải pháp, khuyến nghị giúp nâng cao
hiệu quả của việc chọn ngành cho sinh viên trường Đại học Lao động xã hội nói
riêng và sinh viên cả nước nói chung.
I. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
khác nhau trong sản xuất.
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng
sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối
tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích,
yêu cầu và lợi ích của con người.
Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, khái niệm nghề có ý nghĩa
rất to lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến bản chất và hình thức của việc làm.
3
HỆ THỐNG HƯỚNG NGHIỆP
4
Đánh giá về cá nhân
- Khả năng và kỹ năng
- Sở thích
- Tính cách
- Năng lực
Công cụ đánh giá
Loại
- Năng lực
- Sở thích
- Tính cách
Ứng dụng
- Tự đánh giá
- Có hướng dẫn
Phương pháp
- Tự động
- Thủ công
Nguồn hỗ trợ
- Hướng
nghiệp
- Giáo viên
lao động
LMIS
- Phạm vi cả
nước
- Ở địa
phương
Dịch vụ việc làm
- Đại học
- Cơ sở Nhà nước
- Cơ sở tư nhân
- Tự tìm hiểu
1.1.2. Khái niệm định hướng nghề nghiệp.
Định hướng nghề nghiệp hay còn gọi là hướng nghiệp là hệ thống những
biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học và
nhiều khoa học khác nhằm giúp học sinh, sinh viên định hướng nghề nghiệp một
cách đứng đắn để có thể lựa chọn nghề một cách phù hợp với nhu cầu xã hội,
đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và
điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như hoàn cảnh sống của mỗi người để họ có
thể phát triển đến đỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến được nhiều cho xã hội
cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp hơn cho bàn thân. Định hướng nghiệp
bao gồm các nội dung sau:
- Tư vấn, giới thiệu về ngành, chuyên ngành đào tạo của nhà trường, cơ
hội tìm việc làm sau khi tốt nghiệp cho đối tượng tuyển sinh của nhà trường.
- Tổ chức các hoạt động tư vấn về phương pháp học tập, nội dung, đặc
điểm của ngành, nghề và trình độ đang được đào tạo; các vấn đề về chính sách,
pháp luật của Nhà nước liên quan đến ngành, nghề được đào tạo cho người học
của nhà trường.
- Tổ chức câu lạc bộ hướng nghiệp, hoạt động ngoại khoá, giao lưu với
đơn vị sử dụng lao động, giúp người học bổ sung kiến thức thực tế và các kỹ
năng cần thiết để hoà nhập với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp.
yêu thích thì bản thân nó sẽ là động lực mạnh mẽ nhất để phấn đấu đạt kết quả
cao nhất.
Hơn nữa, với việc lựa chọn đúng ngành phù hợp, ta đã khắc họa ra tương
lai nghề nghiệp của mình vô cùng rõ ràng, từ đó xác định rõ những nghề nghiệp
mà ta có thể sẽ đảm nhận trong tương lai.
1.2.2 Đối với xã hội
Tác động của hoạt động định hướng nghề nghiệp không chỉ ảnh hưởng
đến bản thân sinh viên mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội. Sự ảnh hưởng
này chính là tác động của cầu lao động đến cung lao động. Định hướng nghề
nghiệp cho sinh viên phải theo định hướng của thị trường hay định hướng của
cầu lao động mà cầu lao động quyết định cung lao động về số lượng, chất lượng
và cơ cấu ngành nghề, khu vực, vùng, miền. Tuy nhiên, cung lao động cũng tác
động mạnh trở lại cầu lao động tức là định hướng nghề nghiệp cho sinh viên sẽ
tác động trở lại thị trường lao động rất lớn. Những tác động này được thể hiện
chủ yếu trên các mặt:
Thị trường lao động hoạt động theo quy luật khách quan, là công cụ chủ
yếu để phân bố và xử lý hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế. Các nguồn
lực không phù hợp sẽ bị đào thải. Vì vậy, định hướng nghề nghiệp cho sinh viên
sẽ tác động góp phần nâng cao chất lượng, phù hợp với cơ cấu ngành nghề, khu
vực kinh tế, vùng, miền và bù đắp được những lực lượng thiếu hụt. Từ đó thị
trường lao động sẽ thực hiện chức năng phân phối nguồn lực tốt hơn đồng thời
nâng cao hiệu quả hoạt động.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự cạnh tranh cũng
ngày càng gay gắt hơn, nếu người lao động không có được sự chuẩn bị tốt thì rất
6
khó đứng vững. Định hướng nghề nghiệp sẽ thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị này
cho người lao động, có được công việc phù hợp với khả năng, thu nhập tốt sẽ
đảm bảo cuộc sống cho bản thân và góp phần phát triển xã hội.
Mặt khác, với những trường hợp không có sự định hướng ban đầu đúng
đắn, sau khi ra trường thường phải làm những công việc trái với ngành đào tạo.
7
người đang làm. Ví dụ như một gia đình có bố mẹ, anh chị làm bác sĩ, giáo viên
thì các thành viên khác đều bị “gò” phải học theo “khuôn” đó của gia đình.
Chính vì vậy, sinh viên nên tham khảo ý kiến từ phía gia đình để có cái
nhìn toàn diện và tổng quát hơn nhưng phải tự đưa ra quyết định của bản thân
mình vì ngành học mà mình lựa chọn sẽ là công việc mình gắn bó tương lai.
1.3.2. Sự hiểu biết của bản thân sinh viên.
Quyết định lựa chọn cuối cùng thuộc về bản thân cá nhân sinh viên do
vậy, sự hiểu biết của bản thân sinh viên đóng vai trò không thể thiếu được.
Sự hiểu biết ở đây không chỉ bao gồm sự hiểu biết về năng lực, khả năng,
sở thích, đam mê của bản thân mà còn cần có sự tìm hiểu về những ngành nghề,
công việc mình có khả năng đảm nhận.
Không ai hiểu rõ bản thân hơn chính mình, vì vậy trước khi quyết định
chọn hướng đi cho mình, cần phải biết được mình có những gì, những yếu tố
này có phù hợp với nghề mà mình lựa chọn hay không. Những yếu tố căn bản
cần phải nắm được đó là các yếu tố về sức khỏe, năng lực, tố chất, năng khiếu,
… Với một người có sức khỏe tốt, học lực luôn ở hạng đầu với chỉ số IQ trên
110 và đặc biệt có tố chất với nghề bác sĩ vậy thì không có lí do gì để không
quyết định trở thành một bác sĩ trong tương lai.
Ngược lại, với những tố chất trên nhưng bạn rất sợ mùi bệnh viện, không
có tính nhẫn nại thì quyết định trở thành bác sĩ chưa chắc đã là lựa chọn phù hợp
nhất đối với bản thân.
Bên cạnh đó, để đưa ra được quyết định hợp lý còn phải dựa trên những
thông tin về ngành nghề, công việc mà bạn lựa chọn. Không nên chỉ dựa theo
nhu cầu ngành “hot” thời điểm này mà nên có sự phân tích hướng phát triển của
ngành đó khi mình ra trường. Vào thời điểm năm 2007, 2008 thì ngành Tài
chính ngân hàng, chứng khoán rất được ưa chuộng, số hồ sơ thi vào rất đông
nhưng hiện nay, thị trường công việc cho ngành này đã “hạ nhiệt”, nhiều sinh
viên đã phải rất cố gắng để có được tấm bằng của ngành này ra trường không
tìm được việc làm.
hội, lấy tên là Trường Cán bộ Lao động – Xã hội. Tháng 1/1997 trường được
nâng cấp lên thành trường Cao đẳng Lao động Xã hội.
Đến ngày 31/1/2005, Chính phủ đã ra Quyết định số 26/2005/QĐ-TTg,
thành lập trường Đại học Lao động – Xã hội trên cơ sở nâng cấp trường Cao
đẳng Lao động Xã hội.
• Quản lý lao động
• Kế toán
• Bảo hiểm xã hội
• Công tác xã hội
• Kỹ thuật chỉnh hình
Với 50 năm hình thành và phát triển, Trường đã đào tạo và bồi dưỡng
được nhiều cán bộ phục vụ cho ngành Lao động - Xã hội cũng như nhiều ngành
kinh tế quốc dân khác, được Đảng và Nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều phần
thưởng cao quý như:
• Huân chương lao động hạng 3 (1981)
• Huân chương lao động hạng nhì (1991)
• Huân chương lao động hạng nhất (1996)
• Huân chương độc lập hạng ba (2001)
• Huân chương độc lập hạng nhì (2006)
• Huân chương độc lập hạng nhất (2011)
10
2.2. Phân tích thực trạng sinh viên ở các ngành học qua số liệu
điều tra các ngành học.
2.2.1 Phân tích việc lựa chọn ngành học của sinh viên theo giới tính.
Trên cơ sở thu thập và phân tích số liệu, nhóm nghiên cứu đưa ra được
biểu đồ sau:
Biểu 2.1. Cơ cấu sinh viên trong 4 ngành học được điều tra theo giới tính
Đơn vị : %
Nguồn : Số liệu điều tra bằng bảng hỏi sinh viên trường ĐHLĐXH
Dựa trên cơ sở phân tích số liệu từ 350 phiếu điều tra thu về cho thấy,
được những thông tin cập nhật nhất về các ngành nghề, lĩnh vực học để quyết
định ngành nghề theo học. Còn đối với phần lớn sinh viên ở nông thôn, điển
hình nhất để tìm hiểu và nghiên cứu thông tin là sử dụng máy tính truy cập
Internet thì vẫn rất khó khăn, máy tính trang bị rất hạn chế bên cạnh việc hướng
dẫn sử dụng còn hạn chế.
Một tình trạng phổ biến ở các vùng nông thôn hiện nay đó là khi lựa chọn
ngành học không có thông tin thêm nào quyển “Những điều cần biết về tuyển
sinh Đại học, cao đẳng”, đa phần thí sinh sẽ đọc và lựa chọn theo cảm tính.
Mặt khác. hiện nay ở các vùng nông thôn, tỷ lệ học sinh học tốt nghiệp
trung học phổ thông xong quyết định thi Đại học là không lớn, năm 2008 mới
chỉ đạt 62% tổng số học sinh tốt nghiệp.
12
Biểu 2.2 Cơ cấu sinh viên trong các ngành học được điều tra
theo nơi ở hiện tại của gia đình
Đơn vị :%
Nguồn: Số liệu điều tra bằng bảng hỏi sinh viên trường ĐHLĐXH
Biểu trên có thể thấy rõ tỷ lệ sinh viên ở khu vực nông thôn chiếm tỷ khá
lớn so với số sinh viên ở khu vực thành thị. Chuyên ngành Bảo hiểm có sự
chênh lệch rõ nhất, tỷ lệ sinh viên ở khu vực thành thị chỉ chiếm hơn 1/4, cụ thể
là 28,75% tổng số sinh viên trong ngành còn tỷ lệ sinh viên ở khu vực nông thôn
chiếm 72,25%.
Tỷ lệ cân đối giữa số sinh viên giữa hai khu vực thành thị và nông thôn là
ở ngành Kế toán, sinh viên ở khu vực thành thị chiếm 46,42% còn sinh viên ở
khu vực nông thôn chiếm 53,58%
Còn các chuyên ngành còn lại có tỉ lệ sinh viên ở khu vực nông thôn
chiếm tỉ lệ rất cao, trên 68%.Tỷ lệ điều tra này đã khẳng định xu hướng lựa chọn
ngành của sinh viên ở khu vực nông thôn là những ngành phù hợp với khả năng,
không đòi hỏi cao về trình độ tin học, ngoại ngữ, là điểm yếu so với những sinh
viên ở khu vực thành thị và quan trọng là dễ tìm được việc làm ngay khi ra
trường.
14
Đơn vị :%
Nguồn: Số liệu điều tra bằng bảng hỏi sinh viên trường ĐHLĐXH
Kết quả trên cho thấy ảnh hưởng chính của gia đình đối với quyết định
lựa chọn ngành đang học của sinh viên là định hướng và gợi ý, chiếm 53,86%,
những gia đình này giúp sinh viên hiểu được vấn đề và đưa ra các thông tin
tham khảo góp phần định hướng con đường sẽ đi cho con cái mình; 28% trường
hợp gia đình cho sinh viên toàn quyền quyết định, được lựa chọn theo sở thích,
nguyện vọng của bản thân; còn 65 trong số 350 sinh viên được điều tra, chiếm
17,71% thì lựa chọn ngành học theo sự quyết định của gia đình.
Ngoài ra, theo kết quả điều tra thu được ở bảng 2.1, có thể thấy vai trò
quyết định của gia đình thể hiện rõ nhất là đối với sinh viên chuyên ngành Kế
toán, chiếm 33,33%. Vai trò định hướng và gợi ý của gia đình có tác dụng nhất
đối với sinh viên ngành Bảo hiểm, chiếm 33,75%. Còn tỷ lệ sinh viên được toàn
quyền quyết định chuyên ngành đang học lớn nhất là sinh viên ngành Công tác
xã hội, chiếm 67,14%. Kết quả này có thể thấy khá phù hợp vì ngành Kế toán là
một trong những ngành có đầu ra dễ tìm kiếm được việc làm nhất hiện nay nên
đa phần phụ huynh đều mong muốn con em mình học ngành này. Ngành Bảo
hiểm không mới nhưng thời gian gần đây cũng phát triển đáng kể trên thị trường
việc làm, thu hút một lượng lớn lao động, còn ngành Công tác xã hội được sinh
viên tự quyết định khá đông vì môi trường và lĩnh vực hoạt động của ngành này
trong tương lai là khá rộng, phù hợp với sự nhiệt tình và năng động của tuổi trẻ.
Bên cạnh đó, trong số những sinh viên do gia đình quyết định ngành học
thì có 35,48% là lựa chọn theo truyền thống gia đình, còn lại 64,52% là do gia
đình đã chuẩn bị được chỗ làm sau khi ra trường nên muốn con cái học ngành
15
đó. Như vậy, gia đình đóng vai trò khá lớn cho sinh viên khi họ lựa chọn chuyên
ngành mà họ đang theo học.
Ngoài ra, khi điều tra sâu với những sinh viên được toàn quyền quyết định
ngành học về lý do lựa chọn ngành đang học thu được kết quả như sau:
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Có
hiểu biết về
chuyên
ngành khi
lựa chọn
ngành học
85 73,28 76 90,47 58 72,5 52 74,28
Không
hiểu biết về
chuyên
ngành khi
lựa chọn
ngành học
31 26,72 8 9,53 22 27,5 18 25,72
Nguồn : Số liệu điều tra bằng bảng hỏi sinh viên trường ĐHLĐXH
Đối với những sinh viên mà bản thân họ đóng vai trò quyết định đến việc
lựa chọn ngành học thì có những sinh viên đã tìm hiểu về chuyên ngành mà
mình định theo học nhưng cũng có những sinh viên lựa chọn chuyên ngành chỉ
theo cảm tính thấy ngành đó có vẻ hay hay nên đăng ký và họ không có hiểu biết
gì về chuyên ngành định đăng ký theo học.
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy so với sinh viên chưa có sự hiểu biết về
viên thuộc chuyên ngành này đều bắt đầu học một thời gian rồi mới tìm hiểu và
biết được ngành mình học là nghiên cứu những vấn đề gì, liên quan đến mảng
lĩnh vực nào của xã hội, cũng như sau này sẽ làm những công việc gì. Tỷ lệ sinh
viên hiểu biết về chuyên ngành sau khi học một thời gian trong trường lên đến
68,24%
Chuyên ngành Bảo hiểm có số sinh viên hiểu biết về chuyên ngành trước
và sau khi vào học một thời gian tương đương nhau, sự chênh lệch rất nhỏ, chỉ
đạt 3,46%, tương đương 2 sinh viên trong tổng số sinh viên điều tra. Cụ thể số
sinh viên có sự hiểu biết về chuyên ngành trước khi vào trường chiếm 48,27%
còn số sinh viên có hiểu biết về ngành học sau khi vào học một thời gian trong
trường đạt 51,73%.
Còn hai chuyên ngành là Kế toán và Công tác xã hội, số sinh viên có sự
hiểu biết về chuyên ngành trước khi vào học là khá lớn so với số sinh viên phải
cần một thời gian vào học mới có được những hiểu biết cần thiết. Cụ thể ở
chuyên ngành Kế toán, tỷ lệ sinh viên có được sự hiểu biết về ngành học trước
khi lựa chọn là 69,74% còn tỷ lệ sinh viên hiểu biết về ngành học sau một thời
gian chỉ là 30,26%. Tỷ lệ này ở ngành Công tác xã hội là 71,15% và 28,85%.
Nhìn chung sự chênh lệch giữa sinh viên hiểu biết về ngành học trước khi
lựa chọn ngành và sinh viên cần một thời gian sau khi vào học để hiểu được
ngành mình đang theo học của trường Đại học Lao động Xã hội là khá lớn, tỷ lệ
18
và sự phân loại khác nhau tùy vào chuyên ngành khác nhau. Nguyên nhân có thể
là do chuyên ngành Kế toán là một chuyên ngành có đầu ra rộng, thông tin về
công việc được nói đến nhiều, chuyên ngành Công tác xã hội và Bảo hiểm có
thể tìm hiểu qua nhiều kênh thông tin như báo chí, gia đinh, bạn bè,… còn
ngành Quản lý lao động thì kênh thông tin còn hạn chế.
Biểu 2.4: Số liệu về tỷ lệ sinh viên hiểu biết về chuyên ngành học
Đơn vị: %, Sinh viên
Khoa
Chỉ tiêu
đảm bảo khi ra trường có thể tìm được những công việc đúng ngành nghề như
mong muốn.
Trước hết, muốn quyết định chọn một ngành học nào, ta cần phải biết
được những thông tin tối thiểu như có bao nhiêu ngành học? Những ngành học
nào đang chiếm lĩnh trên thị trường lao động? Những trường nào tổ chức đào tạo
ngành học đó?
Để có được những thông tin này, sinh viên đều phải tìm hiểu qua các kênh
thông tin, từ thầy cô, từ những người thân trong gia đình, bạn bè đến các phương
tiện truyền thông như sách báo, tivi,…
Dưới đây là bảng kết quả điều tra thu được khi tìm hiểu về các nguồn thu
thập thông tin trước khi lựa chọn ngành học của các bạn sinh viên:
Bảng 2.4: Số liệu về nguồn thu thập thông tin khi lựa chọn ngành học
Đơn vị: sinh viên; %
Kênh thông tin Số lượng Tỷ lệ %
Gia đình, bạn bè 350 100
Thầy cô 238 68
Trung tâm tư vấn 12 3,43
Sách, báo, tạp chí 350 100
20
Truyền hình 337 96,28
Internet 198 56,57
Khác 26 7,43
Nguồn : Bảng điều tra thực tế sinh viên trưòng ĐHLĐXH
Kết quả trên cho thấy các kênh thông tin phổ biến với sinh viên chính là
gia đình, bạn bè, sách, báo, tạp chí, truyền hình với tỷ lệ kết quả điều tra thu
được là 100% và 96,28%. Gia đình là nguồn cung cấp thông tin rất hữu ích nhưn
vẫn còn mang nặng ý kiến chủ quan, định hướng của gia đình. Khi được hỏi cụ
thể sách, báo hay tạp chí thường được sinh viên sử dụng để tham khảo trước khi
lựa chọn ngành thì kết quả thu được đến 89% chỉ là quyển “Những điều cần biết
về tuyển sinh Đại học – Cao đảng”. Mà như đã biết, sách này chỉ nêu những
Ngoài ra, theo điều tra, các kênh thông tin khác chiếm 7,43% bao gồm
thông tin tìm hiểu từ các tờ rơi, quảng cáo, thông tin tuyển dụng, nhưng thực
tế các nguồn thông tin này đều không chính xác, mà mang tính thời vụ.
Bên cạnh đó, theo kết quả điều tra sự ảnh hưởng của các nhân tố xã hội
khi quyết định ngành học của sinh viên trường Đại học Lao động Xã hội thu
được bảng số liệu sau:
Bảng 2.5. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến việc lựa chọn
ngành học của sinh viên
Đơn vị: Sinh viên; %
Chỉ tiêu
QLLĐ Kế toán Bảo hiểm CTXH
SV % SV % SV % SV %
Ngành nghề
xã hội cần, dễ
xin việc
52 44,83 53 63,10 27 33,75 31 44,29
Công việc ổn
định, nhẹ
nhàng
23 19,83 24 28,57 41 51,25 9 12,86
Có mức lương
cao
35 30,17 7 8,33 12 15,00 22 31,43
Các nguyên
nhân khác
6 5,17 0 0 0 0 8 11,43
Tổng 116 100 84 100 80 100 70 100
Nguồn : Số liệu điều tra bằng bảng hỏi sinh viên trường ĐHLĐXH
22
Biểu 2.5: Sự ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến quyết định ngành học
hưởng không nhỏ tới sự chọn lựa chuyên ngành của sinh viên
2.4 Phân tích mối quan hệ của việc lựa chọn ngành với kết quả
học tập của sinh viên
Trong quá trình học tập thì việc lựa chọn chuyên ngành của sinh viên khi
vào trưòng rõ ràng có ảnh hưởng tới quá trình học tập của sinh viên trong suốt
quá trình học tập trên ghế giảng đường. Việc lựa chọn ấy có thể làm tăng hay
giảm khả năng học tập của sinh viên, hay cũng có thể làm kết quả học tập của
sinh viên không mấy thay đổi trong quá trình học tập. Kết quả này có thể xem
xét thông qua việc kết quả học tập của sinh viên tăng, giảm hay ít thay đổi với
việc khi sinh viên vào chuyên ngành thì năng lực và sở thích của sinh viên có
phù hợp với chuyên ngành đang theo học hay không.
2.4.1 Phân tích kết quả học tập của sinh viên trong các ngành học
Kết quả học tập năm thứ nhất của sinh viên trường đại học lao động xã
hội được thể hiện như sau:
24
Biểu 2.6: Kết quả học tập năm thứ 1 và năm thứ 3 của sinh viên Trường
Đại học Lao động Xã hội.
Đơn vị: %
Nguồn: Số liệu điều tra bằng bảng hỏi sinh viên trường ĐHLĐXH
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy kết quả học tập của sinh viên năm thứ
nhất chỉ có ba loại : Giỏi, khá và trung bình. Trong ba loại trên thì loại trung
bình có tỷ lệ cao nhất chiếm 76,57%, tiếp theo đó là loại khá chiếm tỷ lệ 22%
cuối cùng là loại giỏi chiếm 1,43%. Sở dĩ sinh viên có lực học trung bình ở năm
thứ nhất chiếm tỷ lệ rất cao vì đây là năm đầu tiên sinh viên còn nhiều bỡ ngỡ về
phương pháp và hình thức học ở môi trường đại học, mặt khác đa số sinh viên
có tâm lý vui chơi thoải mãi để giải tỏa căng thẳng sau kỳ thi đại học thêm vào
đó những khó khăn trong việc phải thích nghi với môi trường mới, phải làm chủ
cuộc sống đã phần nào đã làm kết quả học tập của sinh viên không được tốt. Số
lượng sinh viên đạt loại khá và giỏi còn ít.
Cùng với việc tìm hiểu về kết quả học tập năm thứ nhất chúng em cũng