Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong kể chuyện - Pdf 19

Bàn về một vài thuật ngữ
thông dụng trong kể chuyện
Hẳn là từ thuở sơ khai, kể chuyện (và nghe chuyện) đã là một nhu cầu không thể
thiếu ở con người, nên trong số luận bàn về “thuật kể chuyện” đã có những tác phẩm
kinh điển như của Aristote mà đến nay người ta vẫn đối chiếu và vận dụng. Song mặt
khác, hiện nay, lại có những ý kiến nói đến “narratology” như “những mối quan tâm mới
đối với lí thuyết chung và sự vận dụng truyện kể trong mọi hình thức văn chương”
(1)
. Sự
đổi mới ấy rõ ràng là do cách tiếp cận mới của những khoa học mới mang lại theo hướng
quan tâm toàn diện tới mối liên hệ của cả ba tác nhân dựng nên câu chuyện. Nếu trước
đây lí luận về trần thuật chủ yếu tập trung vào mối liên hệ Người kể chuyện (NKC) –
Nhân vật (NV) thì giờ đây nó được mở rộng tới một mối liên hệ hoàn chỉnh hơn: Người
kể – Nhân vật – Người nghe. Liên quan tới mối liên hệ trên, có ba vấn đề (điểm nhìn,
giọng điệu, ngôi phát ngôn) vốn đã được lí giải nhiều trong thời gian gần đây, song
chúng tôi nhận thấy đã có những sự khác biệt giữa một số cuốn sách có tính chất công
cụ.
*
I. Mối liên hệ điểm nhìn (hoặc tiêu điểm) và Người kể chuyện
Về thuật ngữ, nhãn quan (vision), điểm nhìn (point de vue) và tiêu điểm
(focalisation) đã được sách lí luận coi là một. Theo từ điển thông thường, “tiêu điểm”,
trong văn học được định nghĩa là “Điểm nhìn do tác giả lựa chọn trong khi dẫn dắt câu
chuyện”
(2)
. Genette quyết định lựa chọn từ “tiêu điểm” thay cho “điểm nhìn”, cũng như

một số cuốn lí luận và thuật ngữ công cụ vẫn thường được sử dụng, đặc biệt trong sinh
viên.
Sau đây là một đoạn trong mục “NKC và Điểm nhìn” của từ điển Wikipedia:
“Một câu chuyện hay phải có một người kể chuyện xác định rõ và kiên định (…). NKC
là một thực thể đơn nhất (single entity) và giới hạn. NKC không thể truyền đạt bất cứ
điều gì mà anh ta không đối mặt với nó. Nói một cách khác, NKC nhìn câu chuyện từ
điểm nhìn của anh ta trong thế giới hư cấu. Điều này được gọi là điểm nhìn”. Theo suy
nghĩ của chúng tôi, vế thứ nhất của định nghĩa đặt ra một yêu cầu không chính xác đối
với NKC, kể cả đối với loại truyện ta gọi là “cổ điển”. Cũng tương tự như vậy, John
Peek và Martin Coyle phân chia một cách chi li “NKC đáng tin cậy” và “NKC hão
huyền” (unreliable)
(7)
. Nhưng điều đáng nói là Wikipedia đã coi “NKC xác định và kiên
định” như một tiêu chí giá trị. Trong khi đó, qua cuộc tranh luận về “telling” và
“showing”, lối kể chuyện “trưng ra” đã được coi như một đổi mới (nghĩa là thiên hướng
về NKC không kiên định).
2. Chúng tôi nghĩ rằng kể chuyện là một trò chơi giữa NKC hão huyền và NKC
đáng tin cậy. Kể cả trường hợp mà điểm nhìn đặt từ bên trong, NKC vẫn không đáng tin,
đặc biệt khi anh ta đã quyết định dùng trò chơi không muốn truyền đạt một điều mà anh
ta “đối mặt”. Ví dụ trường hợp đặt điểm nhìn từ bên trong ở cuốn Armance của
Stendhal: rất nhiều độc thoại nội tâm và phân tích tâm lí nói về những bất thường trong
tình yêu của Octave, nhưng nguyên nhân gây ra trạng thái ấy (bệnh bất lực) lại bị NKC
tỉnh lược. Sự tỉnh lược ở đây gây ra một hiệu quả ngược đối với điểm nhìn (từ bên
trong). Lẽ ra nó chiếu dọi vào tiêu điểm của nhân vật chính nhưng lại giấu diếm nó đi
(Genette gọi đây là nghịch lực pháp – paralipse). Cũng như vậy, đối với Mặt trời vẫn
mọc của Hemingway. Ở một vài cuốn trinh thám “phá cách” của A. Christie, Barthes đã
phân tích trò “giấu nhẹm” thủ phạm đích thực bằng cách cho thủ phạm kể lại chính vụ
án và những ý nghĩ của mình, trừ ý nghĩ về vụ giết người, cho đến cuối truyện…
Một khi tiêu điểm đặt bên ngoài, thì NKC càng không đáng tin cậy. Tuy nhiên,
giá trị của nó không mất đi, mà lại kích thích sự đồng sáng tạo của người đọc. Dẫn

nhất nhãn quan (vision) với những phương tiện lời nói vốn dĩ chứa đựng một sự đa dạng
trong chức năng biểu thị rất khác nhau…”
(10)
. Genette cũng nhấn mạnh nhiều lần: “Việc
sử dụng ngôi thứ nhất, nói một cách khác, sự đồng nhất về con người (identité de
personne) của NKC và NV không hề quy định một tiêu điểm của câu chuyện hướng về
NV”
(11)
. Còn cuốnThế kỉ XX thì cảnh báo: “Vấn đề tiêu điểm không được đồng nhất với
việc kể chuyện, và tiêu điểm bên trong không nhất thiết đặt ra với việc sử dụng ngôi thứ
nhất”
(12)
. Genette và Stanzel đều coi ngôi phát ngôn liên quan tới sự lựa chọn tình huống
kể (NKC hiện diện hay vắng mặt trong câu chuyện – mà ngôi thứ nhất chỉ là một trường
hợp ở tình huống thứ nhất), ta không thể dùng ngôi phát ngôn thay thế cho thuật ngữ
điểm nhìn.
Có thể thấy rõ điều này qua hai trường hợp cùng sử dụng NKC ở ngôi thứ
nhất Người xa lạ của Camus và David Copperfield của Dickens. Trường hợp đầu, điểm
nhìn bao trùm là từ bên ngoài, còn ở cuốn của Dickens, tiêu điểm chủ yếu đặt bên trong.
Cũng có thể lấy trường hợp của truyện trinh thám: kể ở ngôi thứ ba hay ngôi thứ nhất,
nhìn chung, chúng phải duy trì một điểm nhìn từ bên ngoài trong hầu hết diễn biến
truyện, nếu không thì thể loại ấy đã bị huỷ hoại.
III. Vấn đề Giọng nói (tiếng Pháp = Voix; tiếng Anh = Voice; hoặc ít dùng
hơn: Tone = Âm sắc)
1. Về điểm này, cũng vẫn còn có đôi cuốn lí luận có sự ngộ nhận. Ví dụ: sau khi
đồng nhất giọng điệu với điểm nhìn, từ điển thuật ngữ của Merriam Webster lại đồng
nhất chúng với giọng điệu
(13)
.
Nói một cách đơn giản, “tiêu điểm” trả lời cho câu hỏi ai nhìn, và “giọng” trả lời

vấn đề có tính đặc trưng cho “Giọng điệu” như một khái niệm độc lập – tiêu biểu là
Genette. Ông cho rằng khi phân tích, cần “bóc tách chất liệu của những mối liên hệ giữa
hành động kể, các vai chính, xác định không – thời gian, những mối liên hệ với các tình
huống kể chuyện khác của câu chuyện, v.v ”. Nhiều sách lí luận đề cập tới ngôi phát
ngôn trong mối liên hệ với tình huống kể.
IV. Đồng sự và dị sự qua ngôi phát ngôn
Giới lí luận thường đề cập tới ngôi phát ngôn khi phân loại hai kiểu NKC: truyện
được giao phó cho NKC như một trong số nhiều NV hiện diện trong truyện hay giao phó
cho một NKC vắng mặt – mà trường hợp NKC xưng tôi là ở kiểu thứ nhất.
Tuy nhiên, Genette cho rằng xét đến cùng, đây không phải là tác giả lựa chọn giữa
hai hình thức ngữ pháp mà là hai thái độ kể chuyện. Từ đó ông chuyển thành hai kiểu
với tên gọi khác: homodiégétique và hétérodiégétique. M. Jahn cho rằng có thể lấy hai
khái niệm này để thay thế thuật ngữ “ngôi thứ nhất” và “ngôi thứ ba”
(16)
. Song không
phải ngẫu nhiên mà khi xếp NKC xưng tôi vào homodiégétique, M. Jahn phải chua thêm
những chữ “đại khái” (ở dạng đồng sự). Bởi lẽ, theo Jahn, Genette đã nhắc tới hiện
tượng métalepse (thay đổi cấp độ phát ngôn khi kể chuyện): NKC dị sự có lúc nói về
mình ở ngôi thứ nhất, và trường hợp hiếm hoi hơn, lại là NKC đồng sự nói đến mình ở
ngôi thứ ba
(17)
.
Ở đây chúng tôi muốn bổ sung thêm hai trường hợp:
1. Sự can thiệp đột ngột của tác giả vào câu chuyện làm xuất hiện một NKC
xưng tôi trong kể chuyện dị sự. Ví dụ: đại từ “Chúng ta” (khá nổi bật) trong Hội chợ
phù hoa của Thackeray hoặc những chương rất độc đáo của Những người khốn khổcó
tính chất trữ tình ngoại đề. Dẫu ở đó có xuất hiện đại từ nhân xưng “tôi” hay không, thì
vẫn lộ diện một cái tôi trong truyện kể ở ngôi thứ ba này. Huống chi, ít nhất, khá nhiều
lần, đại từ “chúng tôi” xuất hiện ở những chương nói về Waterloo (Quyển 1 – “Phần
thứ hai: Cosette”). Vậy thì NKC xưng tôi ở những trường hợp này không thể xác định



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status