Bài viết số 1:
“HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM” 1/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1 Bài viết số 1: “HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT
NAM”
GIÁO VIÊN BỘ MÔN: TS LẠI TIẾN DĨNH
Học viên thực hiện : VŨ CHU BẢO NGỌC.
n
và được tính bằng công thức sau:
S
n
= U
1
/ (1- q)
2/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1 Trong đó: q là công bội cấp số nhân; 1 - q là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
- Chức năng “sản xuất”:
Chức năng sản xuất của NHTM được hiểu là việc huy động các nguồn lực để sử dụng
tạo ra các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Tuy nhiên, chữ sản xuất
ở đây nên hiểu theo nghĩa trong ngoặc kép, vì có thể còn nhiều tranh cãi chưa thống nhất.
Mục đích nhấn mạnh “chức năng sản xuất” để cho các nhà quản trị NHTM cũng giống
như các doanh nghiệp sản xuất và điều này có thể làm thay đổi sâu sắc trong nhận thức chiến
lược và quản trị NHTM. Vì có sản xuất mới có sản phẩm và vì có sản phẩm nên phải chú ý
những điểm quan trọng sau đây trong quản trị NHTM:
Thứ nhất, NHTM muốn tồn tại và phát triển thì phải tiêu thụ được sản phẩm của mình,
do vậy cần chú ý đến tiếp thị, bán hàng. Khuyến mãi,và thậm chí đến cả dịch vụ hậu mãi nữa.
Thứ hai, NHTM phải chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và thiết kế sản
phẩm sao cho thỏa mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Thứ ba, NHTM phải không ngừng quan tâm đến phát triển và đổi mới công nghệ ngân
hàng, đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay công nghệ ngân hàng thay đổi
rất chóng mặt. Một sự chậm chạp hoặc đầu tư công nghệ có thể dẫn đến tai họa cho NHTM
trong thời đại cạnh tranh gay gắt hiện nay.
1.3 Vai trò, vị trí của NHTM trong nền kinh tế:
NHTM là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng của nền kinh tế.
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các tổ chức, cá nhân vay vốn đáp ứng
nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vù và đời sống,
- Bảo lãnh,
- Chiết khấu,
- Cho thuê tài chính,
- Bao thanh toán,
- Tài trợ xuất nhập khẩu,
- Cho vay thấu chi,
- Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng.
1.4.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán,
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và các dịch vụ thanh toán khác theo
quy định của NHNN,
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép,
1.4.4 Các hoạt động khác:
- Góp vốn và mua cổ phần,
- Tham gia thị trường tiền tệ,
- Kinh doanh ngoại tệ,
- Ủy thác và nhận ủy thác,
- Cung cấp dịch vụ bảo hiểm,
- Tư vấn tài chính,
- Bảo quản vật quý giá.
PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN 2006-2008:
2.1 Hệ thống NHTM ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008:
Đây là giai đoạn các NHTM đẩy mạnh tiến trình cơ cấu lại toàn diện hệ thống ngân
hàng để thích nghi với lộ trình cam kết mà Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) về tổ chức bộ máy, tăng cường năng lực hoạt động, quản lý
4/15
đối với nền kinh tế thời kỳ 2006 - 2008
Năm 2006 2007 2008
GDP (tỷ đồng) 839.200 974.200 1.144.000
Dư nợ cho vay (tỷ đông) 732.023 992.013 1.124.723
Tốc độ tăng trưởng (%) 22,8 25,2 53,7
(Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước)
Ngoài ra, các sản phẩm dịch vụ, nhất là dịch vụ ngân hàng bán lẻ, ngày càng đa dạng
và phong phú hơn. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gia tăng, các NHTM cổ
phần, ngân hàng nước ngoài ngày càng đóng vai trò tích cực.
5/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1 Đối với tình hình cho vay, Với mức tăng trưởng tín dụng bình quân của ngành là 54%
năm 2007 thì giới hạn 30% tăng trưởng tín dụng năm nay được các ngân hàng đánh giá là
cào bằng tất cả, giống như chỉ thị 03 đối với cho vay chứng khoán và Quyết định số 02 của
NHNN về trần lãi suất huy động. Theo báo cáo tài chính năm 2007, tổng dư nợ cho vay của
ngân hàng Nam Á: 2.698 tỷ đồng, ngân hàng Thái Bình Dương: 2.700 tỷ đồng, ngân hàng
Việt Á: 5.764 tỷ đồng, ngân hàng An Bình: 6.858 tỷ đồng, ngân hàng Mỹ Xuyên: 1.264 tỷ
đồng … Hầu như tất cả các ngân hàng này đều đã sử dụng hết và vượt hạn mức qui định chỉ
trong 02 tháng đầu năm 2008. Hiện nay dư nợ của Ngân hàng Thái Bình Dương khoảng
4.800 tỷ đồng, tăng hơn 77% so với cả năm 2007 và đang bị buộc phải giảm dư nợ. Trong
khi đó ở các ngân hàng TMQD, hạn mức vẫn còn khá nhiều.
Hậu quả của việc bất chấp các nguyên tắc cơ bản của tín dụng, năm 2007 vừa qua dư nợ tại
các ngân hàng tăng vọt khi chất lượng tín dụng không đảm bảo. Dưới áp lực của lợi nhuận và
vì “lợi ích cá nhân”, công tác thẩm định được tiến hành sơ sài, chiếu lệ, tình trạng cán bộ tín
dụng và lãnh đạo ngân hàng “bắt tay” khách hàng, cò tín dụng trở nên phổ biến… là những
nguyên nhân đặt các khoản vay trong tình trạng “bất ổn”, có nguy cơ quá hạn hiện nay tại
Tốc độ tăng tín dụng (%) 53,70 25,44 22,03
Để có thêm minh chứng cụ thể trong điều hành hoạt động của Ngân hàng Thương mại
Việt Nam, chúng ta sẽ xem xét biểu lãi suất cơ bản mà NHNN đã đưa ra trong năm 2008:
Thời điểm áp dụng Lãi suất cơ bản
Tháng 01-2008 8,25%
Ngày 01-2-2008 8,75%
Tháng 03-2008 8,75%
Tháng 04-2008 8,75%
Từ 19- 05-2008 12%
Từ 11-06-2008 14%
Tháng 07-2008 14%
Tháng 08-2008 14%
Tháng 09-2008 14%
Ngày 20-10-2008 13%
Ngày 03-11-2008 12%
Ngày 05-12-2008
Ngày 22/12/2008
10%
8,5%
Qua bảng lãi suất trên cho ta thấy: năm 2008 là năm xảy ra nhiều biến động của
ngành Ngân hàng ở Việt Nam, đặc biệt là công tác điều hành từ phía Ngân hàng Nhà nước.
Do đó, việc nhận định và đưa ra định hướng phát triển cho Ngân hàng thương mại và một
vấn đề hết sức quan trọng.
2.2 Những hạn chế và nguyên nhân yếu kém của hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay
2.2.1 Nguyên nhân khách quan
7/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1
kém nảy sinh trong họat động của hệ thống NHTM như: tiềm lực về vốn còn yếu, công nghệ
và tổ chức ngân hàng lạc hậu, trình độ quản lý thấp… phần dưới đây sẽ đánh giá một cách
đầy đủ những yếu kém hiện nay mà các NHTM ở Việt Nam đang phải đối mặt.
2.2.2.1. Tổ chức bộ máy còn nhiều bất cập:
Mô hình tổ chức hiện nay của hầu hết các NHTM Việt Nam được tổ chức theo kiểu
truyền thống đó là căn cứ vào lọai hình nghiệp vụ để phân định chức năng các phòng ban.
Trong khi ở các ngân hàng tiên tiến, các họat động hướng tới khách hàng của họ lại được
phân theo tiêu thức đối tượng khách hàng - sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu cùa
khách hàng và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Trong điều kiện các NHTM họat
động với qui mô nhỏ , tính chất đơn giản như hiện nay thì mô hình trên vẫn tỏ ra phù hợp với
mức độ tập trung quyền lực cao. Song khi ngân hàng phát triển với qui mô ngày càng lớn,
8/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1 với số luợng chi nhánh ngày càng mở rộng, khối lượng và tính chất công việc ngày càng
nhiều và phức tạp thì mô hình trên sẽ bộc lộ những điểm bất hợp lý.
2.2.2.2. Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của NHTM hiện
đại
Các công cụ và cách thức quản lý điều hành cùa NHTM Việt Nam còn chưa theo kịp
với yêu cầu của NHTM hiện đại. Chiến lược kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện tập
trung chủ yếu đầu tư theo chiều rộng chứ không phải chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Hệ thống thông tin, theo dõi nợ, quản lý rủi ro không kịp thời chính xác, dẫn tới sự
thiếu minh bạch trong họat động tài chính ngân hàng. Các NHTM Việt Nam chủ yếu vẫn coi
tài sản thế chấp là cơ sở đảm bảo tiền cho vay , kể cả đối với tín dụng ngắn hạn. các ngân
hàng còn xem nhẹ bảo đảm theo dự án, trong khi việc xừ lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là
vấn đề khó khăn d0o vướng mắc về mặt pháp lý, vì vậy khó thu hồi được vốn vay. Khả năng
chi trả của các NHTM Việt Nam rất thấp.
2.2.2.3. Vốn điều lệ, vốn tự có và tỷ lệ an tòan vốn còn thấp
Vốn điều lệ là một chỉ tiêu phản ánh tiều lực tài chính, đảm bảo an toàn trong họat
cán bộ tăng rất mạnh tuy nhiên việc tuyển dụng đội ngũ cán bộ, nhân viên mới vẫn theo truyền
thống kiểu cũ, trình độ hạn chế về mọi mặt, làm cho chí phí hoạt động tăng và ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam. Nhiều cán bộ ngân hàng chưa hình dung
được những dịch vụ ngân hàng tiên tiến trên thế giới được giới thiệu qua báo, đài. Tiềm ẩn rủi ro
tín dụng cao là một minh chứng cho sự thành thạo nghiệp vụ tín dụng. Số người hiểu biết tường
tận luật quốc tế, các quy định chung của tổ chức thế giới không nhiều.
2.2.2.5 Máy móc, công nghệ ngân hàng còn lạc hậu
Máy móc. công nghệ là những yếu tố căn bản thuộc về “lực lượng sản xuất’ của hoạt
động ngân hàng hiện nay còn yếu kém, các công nghệ chủ yếu vẫn còn dựa và kỹ năng
truyền thống, các tiện ích ngân hàng còn nghèo nàn.
Chẳng hạn: Năm 2005 các NHTM Việt Nam đã phát hành tương ứng được 2,5 triệu
thẻ nội địa và 134,7 ngìn thẻ quốc tế nhưng mới chỉ có 1.738 máy ATM được lắp đặt trên
toàn quốc. Đến cuối năm 2006 số lượng thẻ đã là 4,2 triệu thẻ nội địa và 242,5 nghìn thẻ
quốc tế. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng lại phát triển hệ thống ATM theo cách riêng của mình,
mặc dù hiện nay đã có 4 liên minh thẻ gồm: Liên minh thẻ của ngân hàng ngoại thương Việt
Nam (Vietcombank); công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia (Banknet Việt Nam);
liên minh thẻ NHTM Cổ phần Đông Á, NHTM Cổ phần Sài Gòn công thương và Ngân hàng
Phát triển nhà ĐBSCL; Liên minh thẻ NHTM CP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) và ANZ.
Chính vì vậy chưa tạo sự liên kết mạnh giữa các ngân hàng trong huy được hiệu quả của hệ
thống máy móc thiết bị, nâng cao sức cạnh tranh, tiết kiệm chi phí …. Đồng thời việc ứng
dụng công nghệ của các ngân hàng ở các mức độ khác nhau, tạo chênh lệch khá cao về trình
độ công nghệ ở một số ngân hàng.
2.2.2.6 Năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam còn yếu
Việt Nam đang theo tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có hội nhập tài chính
- ngân hàng. Hội nhập tài chính - ngân hàng lại đòi hỏi tự do hoá tài chính Tự do hoá tài
chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động tài chính mang tính
chất trung gian. Điều này đồng nghĩa với việc xoá bỏ sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa các
loại hình hoạt động khác nhau.
Theo hiệp định thương mại Việt - Mỹ cam kết lộ trình 9 năm với 7 cột mốc tháo dỡ
mọi hạn chế đối với các ngân hàng của Mỹ đuợc bãi bỏ hoàn toàn và lộ trình cam kết Tổ
hàng ngoại thương thỉ tỷ trọng này cũng chiếm đến 79,8%) và tại thời điểm 8/2006 là 89%, thu về
hoạt động dịch vụ vhỉ chếm tỷ trọng nhỏ 12% năm 2005 và 11% vào thời điểm 8/2006. Rõ ràng
các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, thiều các định chế quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản
trị rủi ro, quản trị tài sản có, nhóm khách hàng, loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ.
Hơn nữa, tình trang các ngân hàng Việt Nam (đặc biệt là các NHTM nhà nước) đầu tư
tập trung quá nhiều vào các DNNN mà phần lớn các doanh nghiệp này đều có thứ bậc xếp
hạng tài chính thấp thuộc các ngành có khả năng cạnh tranh yếu. Đây là nguy cơ rủi ro rất
lớn đối với các NHTM nói chung và các NHTM nhà nước nói riêng.
Ngoài ra, hội nhập quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro của hệ thống ngân hàng,
trong khi đó cơ chế quản lý và hệ thống thông tin giám sát ngân hàng còn rất đơn giản, chưa phù
hợp với thông lệ quốc tế, Luật hoạt động của các tổ chức tín dụng hiện hành còn có một số điểm
chưa phù hợp với nội dung của GATS, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và cam kết WTO để
đảm bảo việc tuân thủ nghiêm pháp luật về ngân hàng và sự an toàn của hệ thống ngân hàng,
nhất là trong việc ngăn nhặn và cảnh báo sớm các rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
2.2.2.7. Cơ chế và thể chế quản lý còn nhiều hạn chế
Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng còn nhiều nội dung bất cập với
xu hướng phát triển hoạt động ngân hàng - đặc biệt là những nội dung về vị thế của NHNN,
chức năng, nhiệm vụ của Thống đốc và một số quan hệ giữa ngân hàng với các cấp ngành
trong nền kinh tế quốc dân còn bị gò bó và lệ thuộc rất lớn. Theo đó, việc tổ chức, điều hành
còn bị chồng chéo, công kềnh, còn nhiều hiện tượng lẫn lộn giữa luật với lệnh, giữa hoạt
động kinh doanh với hoạt động chính sách, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoặc nhiều
11/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1 hoạt động ngân hàng phi chính thức còn tiếp tục tồn tại ngoài vòng kiểm soat của ngành. Cấu
trúc hệ thống ngân hàng tuy phát triển mạnh mẽ về chiều rộng (cả khu vực quản lý lẫn khu
vực kinh doanh) nhưng hiệu quả và chất lượng hoạt động kém.
Quyền hạn của một giám đốc NHTM nhà nước là quá lớn, trong khi trách nhiệm rất
khó xác định, dẫn đến các khoản tín dụng mới liên tục tăng nhưng chẳng mấy ai quan tâm
nguyên tắc thị trường dựa trên cơ sở công nghệ tiên tiến, thực hiện các thông lệ, chuẩn mực
quốc tế và họat động ngân hàng trung ương, hội nhập với cộng đồng tài chính quốc tế, thực
hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và họat động ngân hàng,
12/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1 đồng thời tạo nền tảng đến sau năm 2010 phát triển NHVN trở thành NHTW hiện đại, đạt
trình độ tiên tiến của các NHTW trong khu vực.
Xây dựng và thực thi có hiệu quả CSTT nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát,
góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nước.
3.1.2 Mục tiêu phát triển các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt nam đến năm 2010 và định
hướng chiến lược đến năm 2020.
Cải cách căn bản, triệt để và phát triển toàn diện hệ thống các TCTD theo hường hiện
đại, hoạt động đa năng để đạt trình độ phát triển trung bình tiên tiến trong khu vực với cấu
trúc đa dạng về sở hửu, về loại hình TCTD, có quy mô hoạt động lớn hơn, tài chính mạnh,
đồng thời tạo nền tảng đến sau năm 2020 xây dựng hệ thống các TCTD hiện đại, đạt trình độ
tiến tiến trên toàn khu vực và thế giới, đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động
ngân hàng. Đồng thời, phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là
huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán với chất lượng cao và mạng lưới phân phối phát triển
hợp lý nhằm cung ứng đầy đủ, kịp thời, thuận tiện các dịch vụ, tiện ích ngân hàng.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống ngân hàng. Tách bạch tín dụng chính sách và
tín dụng thương mại trên cơ sở phân biệt chức năng cho vay của ngân hàng chính sách với
chức năng kinh doanh tiền tệ cảu NHTM. Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
TCTD trong kinh doanh. Tiếp tục củng cố, lành mạnh hóa và phát triển các ngân hàng cổ
phần; ngăn ngừa và xử lý kịp thời, không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng ngoài sự kiểm soát của
NHNN đối với các TCTD yếu kém.
Một số NHTM đạt mức vốn tự có tương đương 800 - 1.000 triệu USD đến năm 2010,
có thương hiệu mạnh và khả năng cạnh tranh quốc tế. Phấn đấu hình thành được ít nhất một
tập đoàn tài chính hoạt động đa năng trên thị trường tài chính trong và ngoài nước.
pháp và theo cam kết quốc tế, vừa có phương thức, cơ chế quản lý mềm dẻo, đúng pháp luật
và phù hợp thông lệ quốc tế để hạn chế sự thao túng, cạnh tranh không lành mạnh hoặc thôn
tính của các TCTD nước ngoài đối với các TCTD Việt Nam.
3.1.4 Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đến
năm 2010
Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn
mực quốc tế về an toàn kinh doanh tiền tệ - ngân hàng. Xây dựng môi trường pháp luật trong
lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng minh bạch và công bằng nhằm thúc đẩy cạnh tranh và
bảo đảm an toàn hệ thống tiền tệ, ngân hàng. Các chính sách và quy định pháp luật về tiền tệ,
hoạt động ngân hàng góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và động lực cho các
TCTD, doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất kinh doanh.
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả họat động của hệ thống ngân hàng việt nam
trong thời gian tới
3.2.1. Giải pháp từ phía Chính phủ
Chính phủ nên trao quyền tự quyết cho Ngân hàng Nhà nước, việc làm này sẽ
tách bạch hoạt đồng điều tiết nền kinh tế với hoạt động điều tiết của thị trường
tiền tệ. Chỉ có thực hiện như vậy thì Ngân hàng Nhà nước mới thực hiện đúng
vai trò của mình đối với nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng.
Chính phủ không nên can thiệp vào tình hình hoạt động của Hệ thống Ngân
hàng thương mại, Chính phủ nên tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các doanh
nghiệp tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước trong hoạt động vay vốn Ngân hàng.
14/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1 Chính phủ không chỉ định các doanh nghiệp Nhà nước được vay vốn mà không
đủ điều kiện theo luật Ngân hàng.
Chính phủ cần hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo điều kiện để các định chế tài
chính quốc tế được tiếp cận với thị trường tài chính Việt Nam, để các định chế
vấn đề cần được giải quyết để có thể phát triển. Vì vậy để khắc phục được những yếu kém,
15/15
SVTH: Vũ Chu Bảo Ngọc- Lớp NH ngày 1 cũng như tăng cường khả năng cạnh tranh trong thời gian tới, các NHTM cần thực hiện theo
lộ trình sau:
NHTM cần nâng cao năng lực tài chính của mình, tạo sức mạnh từ nội lực cho
ngân hàng.
Nâng cao năng lực quản trị, điều hành hoạt động Ngân hàng.
Áp dụng và triển khai các công nghệ ngân hàng mới phù hợp với hoàn cảnh và
điều kiện nền kinh tế Việt Nam. Đón đầu các “kịch bản” của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng phục vụ hơn nữa cho khách hàng, thực hiện chiến lược
chăm sóc khách hàng tận nhà, tạo điều kiện để dịch vụ ngân hàng đến tay khách
hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện.
Phát triển thêm nhiều sản phẩm mới trong hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao trong thời kì hội nhập, cạnh tranh toàn cầu.
Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Từng bước tiếp cận với các chuẩn mực công
nghệ quốc tế.
Trong hoạt động tín dụng, rà soát lại chất lượng tín dụng, cần có sự nhìn nhận rõ
những khuyết điểm, những sai lầm trong hoạt động tín dụng để có hướng khắc
phục, tránh tình trạng xử lý nhằm đạt chỉ tiêu, mà để lại hậu quả nặng nề về sau.
Bên cạnh đó, Ngân hàng chuẩn hóa và thường xuyên kiểm tra công tác thẩm
định, tái thẩm định nhằm nâng cao chất lượng tín dụng. Đối với tình hình nợ
xấu, cần đưa ra hướng giải quyết cụ thể, có thể gắn kết với Hiệp hội Bất động
sản để giải quyết Bất động sản thế chấp trong trường họp cần thiết.
Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, thường xuyên cập nhật kiến thức mới đối
với đội ngũ lao động, không sử dụng lao động không đủ trình độ.
Đặc biệt, NHTM cần xây dựng chiến lược phát triển cụ thể, định hướng phát