Bài viết số 3: "Các
giải pháp hoàn
thiện công tác
thẩm định dự án
đầu tư trong quyết
định cho vay dài
hạn của NHTM
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
Bài viết số 3: "Các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án
đầu tư trong quyết định cho vay dài hạn của NHTM
Chương 1: Lý luận chung về thẩm định dự án
1. Cơ sở lý luận về thẩm định và quyết định cho vay dự án trung và dài hạn
1.1 Mục tiêu, đối tượng thẩm định tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung hạn là những khoản tín dụng có thời hạn từ 1 cho đến 5
năm. Tín dụng dài hạn là những khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Ngân
hàng cấp các khoản tín dụng trung hoặc dài hạn cho khách hàng nhằm mục đích
tài trợ cho đầu tư vào tài sản cổ định hoặc đầu tư vào các dự án đầu tư. Ngoài ra,
ngân hàng cũng có thể cấp các khoản tín dụng trung hoặc dài hạn để tài trợ cho
tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đại
đa số các khoản tín dụng trung và dài hạn nhằm mục đích đầu tư vào các dự án
khả năng sinh lợi của một dự án, qua đó, xác định được khả năng thu hồi nợ khi
ngân hàng cho vay để đầu tư vào dự án đó.
1.2 Các nội dung thẩm định tín dụng trung và dài hạn
Thẩm định tín dụng trung và dài hạn thực chất là thẩm định dự án đầu tư, do
khách hàng lập và nộp cho ngân hàng khi làm thủ túc vay vốn, dựa trên quan điểm
của ngân hàng. Nhiệm vụ của nhân viên tín dụng khi thẩm định dự án là phát hiện
những điểm sai sót, những điểm đáng nghi ngờ hay những điểm chưa rõ rang của
dự án và cùng với khách hàng thảo luận, làm sang tỏ them nhằm đánh giá chính
xác và trung thực được thực chất của dự án. Để có sự phối hợp tốt với khách hàng,
nhân viên tín dụng cần nắm vững quy trình lập và phân tích dự án đầu tư của khách
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
hàng. Quy trình phân tích và ra quyết định đầu tư của khách hàng có thể được mô
tả bẳng sơ đồ sau: Hình 1.1: Quy trình lập, phân tích và quyết định đầu tư dự án.
1.2.1 Thẩm định các thông số dự báo thị trường và doanh thu:
Các thông số dự báo thị trường là những thong số dung căn cứ để dự báo
tình hình thị trường và thị phần của doanh nghiệp chiếm lĩnh trên thị trường; qua
đó, có thể ước lượng được doanh thu của dự án. Do vậy, mức độ chính xác của
doanh thu ước lượng phụ thuộc rất lớn vào những thông số này. Các thông số dự
báo thị trường sử dụng rất khác nhau tuỳ theo từng ngành cũng như từng loại sản
phẩm. Nhìn chung, các thông số thường gặp bao gồm:
+ Dự báo tăng trưởng của nền kinh tế,
t
Lựa chọn tiêu
chuẩn quyết định:
L
ựa
ch
ọn
lu
ật
quy
ết
Ra quyết định:
Ch
ấp
nh
ận
hay t
ừ
ch
ối
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
Nhìn chung, các loại thông số trên có thể chia thành các thông số có thể
thu thập được từ dự báo kinh tế vĩ mô và các thông số chỉ có thể thu thập từ kết
quả nghiên cứu thị trường.
1.2.2 Thẩm định các thông số xác định chi phí:
1.2.3 Thẩm định dòng tiền hay ngân lưu của dự án:
Ngân lưu hay dòng tiền tệ là bảng dự báo thu chi trong suốt thời gian tuổi
thọ của dự án, nó bao gồm những khoản thực thu hay dòng tiền vào (inflows) và
thực chi hay dòng tiền ra (outflows) của dự án tính theo từng năm.
Khi phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính của dự án, chúng ta sử dụng
dòng tiền kỳ vọng chứ không sử dụng lợi nhuận như là cơ sở để đánh giá dự án,
vì lợi nhuận không phản ánh chính xác thời điểm thu và chi tiền của dự án, vì
vậy không phản ánh một cách chính xác tổng lợi ích của dự án theo thời giá tiền
tệ.
Thẩm định cách thức xử lý các loại chi phí ước lượng ngân lưu: Thông
thường, nhân viên tín dụng cần chú ý các xử lý các loại chi phí sau: Chi phí cơ
hội, chi phí chìm, chi phí lịch sử, nhu cầu vốn lưu động, thuế thu nhập công ty,
các chi phí gián tiếp, dòng tiền tăng thêm
Thẩm định cách xử lý lạm phát: khi thẩm định cần chú ý xem khách
hàng có xử lý lạm phát ảnh hưởng đồng thời lên doanh thu và chi phí khi ước
lượng ngân lưu hay không. Thường khách hàng hoặc là bỏ qua yếu tố lạm phát,
hoặc là xử lý lạm phát như là yếu tố làm tăng giá bán, do đó tăng doanh thu mà
vô tình hay cố ý bỏ qua yếu tố lạm phát làm tăng chi phí đồng thời với tăng
doanh thu.
Tách biệt quyết định đầu tư và quyết định tài trợ: Dự án có thể được
thực hiện một phần từ vốn vay, một phần từ vốn cổ đông. Tuy nhiên, khi thẩm
định để quyết định cho vay chúng ta đánh giá hiệu quả của dự án dựa trên quan
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
điểm của ngân hàng hay quan điểm tổng đầu tư, chứ không phải dựa trên quan
điểm của chủ đầu tư.
1.2.4 Thẩm định chi phí sử dụng vốn:
Một trong những yếu tố quan trọng liên quan đến việc ra quyết định đầu
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
trong đó NCF
t
là ngân lưu ròng năm t, r là suất chiết khấu của dự án, và n là tuổi
thọ của dự án. Ý nghĩa kinh tế của chi tiêu NPV như sau:
+ NPV > 0: Dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí cơ hội của vốn.
+ NPV = 0: Dự án có suất sinh lời bằng với chi phí cơ hội của vốn.
+ NPV < 0: Dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí cơ hội của vốn.
- Thẩm định cách tính và sử dụng chỉ tiêu suất sinh lời nội bộ (IRR):
suất sinh lời nội bộ là suất chiết khấu để NPV của dự án bằng 0. Để xác định
suất sinh lời nội bộ IRR, chúng ta giải phương trình:
NPV
=
n
∑
t =
0
NCF
t
= 0 Suất sinh lời nội bộ (IRR) chính là suất sinh lời thực tế của dự án đầu tư. Vì vậy
một dự án được chấp nhận khi suất sinh lời thực tế của nó (IRR) bằng hoặc cao
hơn suất sinh lời yêu cầu (suất chiết khấu).
- Thời gian hoàn vốn có chiết khấu (PP): là thời gian để ngân lưu tạo ra
∑ PV (Chi phí đầu tư
ròng)
=
PV
0 Chương 2: Thực trạng thẩm định dự án tại các NHTM
2.1 Sự cần thiết của việc thẩm định dự án đối với các NHTM
Dưới góc độ quản lý, trong vai trò của một trung gian tài chính trong quá
trình cấp vốn cho một dự án đầu tư thì việc lựa chọn, xem xét dự án đầu tư là
bước đi đầu tiên và cũng là tiến trình quan trọng nhất- nó quyết định toàn bộ
quá trình đầu tư, cho vay của mỗi định chế tài chính. Nói một cách đơn giản
trước mỗi dự án đầu tư, mỗi một nhu cầu vay vốn, các định chế tài chính trung
gian phải trả lời được câu hỏi: “ Cho vay hay không cho vay; đầu tư vào dự án
hay không đầu tư vào dự án?” Đây là câu hỏi lớn và trả lời cho câu hỏi này phụ
thuộc vào công tác thẩm định dự án của mỗi Ngân hàng hàng, vào chất lượng
quản lý tín dụng của mỗi định chế tài chính trung gian – Và đó cũng chính là
quá trình lựa chọn dự án đầu tư của các trung gian tài chính. Như vậy: việc thẩm
địnhdự án của các NHTM nhằm đánh giá hiệu quả của dự án, tính khả thi của
dự án và khả năng thu hồi vốn đầu tư. Trên cơ sở đó có quyết định tài trợ vốn
hoặc không tài trợ vốn cho dự án.
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
Về bản chất việc thẩm định dự án để quyết định tài trợ vốn cho dự án là
nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của các bên liên quan đến dự án: dự án triển khai
mang lại lợi ích gì? hiệu quả như thế nào và tác động ra sao Trong đó đối với
kiện cho công tác dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến dự án,
giúp đánh giá rủi ro của dự án chính xác hơn.
Sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô ảnh hưởng lớn nhất đến thẩm
định dự án đầu tư đó là ổn định tiền tệ, ổn định lạm phát và ổn định giá cả vật tư
nguyên nhiên vật liệu. Nếu giá cả vật tư, như sắt thép, xăng dầu, xi măng, gỗ,
vật liệu nhựa, giá nhân công, tỷ giá giữa nội tệ và ngoại tệ… thường xuyên biến
động, làm cho chi phí dự án tăng lên và tăng cao không lường trước được. Từ đó
có ảnh hưởng lớn đến chênh lệch giá từ khi xây dựng dự án đến khi thẩm định
dự án và đến khi triển khai, đánh giá, nghiệm thu kết thúc dự án. Vốn đầu tư cho
dự án tăng cao và đương nhiên chi phí dự án, hiệu quả của dự án cũng biến động
và có khi không có hiệu quả thậm chí là thua lỗ.
- Tính chất phức tạp, quy mô, tuổi đời của dự án: Đây là nhân tố không phụ
thuộc chủ quan của con người mà nội tại trong dự án. Mỗi dự án có tính chất
phức tạp và quy mô khác nhau, đòi hỏi cán bộ thẩm định phải am hiểu về lĩnh
vực, tính chất của dự án. Mặt khác vòng đời của dự án càng dài thì mức độ rủi ro
càng cao.
Dự án càng có đặc tính kinh tế kỹ thuật phức tạp, lĩnh vực kỹ thuật hẹp,
chuyên sâu và lĩnh vực mới, rõ ràng công việc thẩm định có nhiều khó khăn
hơn. Tương tự, các dự án có quy mô lớn, có nhiều tiểu dự án khác nhau, nhiều
đơn vị xây dựng và liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đơn vị,… thì
việc thẩm định không những phức tạp mà còn tốn kém thời gian. Tuổi đời của
dự án cũng tỷ lệ thuận với thời gian và chi phí thẩm định.
- Các nhân tố khác:
+ Sự ổn định chính trị, ổn định của bộ máy chính quyền,… không những
thuận lợi cho khâu xây dựng dự án mà còn thuận lợi cho cả khâu thẩm định,
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
đánh giá dự án. Nơi nào bộ máy chính quyền thường xuyên thay đổi, bộ máy
nguồn thông tin, nhiều nguồn tài liệu khác nhau, có như vậy mới đảm bảo chất
lượng và hiệu quả thẩm định. Bởi cần có nhiều nguồn thông tin, tài liệu khác
nhau phục vụ cho công tác thẩm định. Các thông tin bao gồm cả về lĩnh vực kỹ
thuật, giá cả thị trường, khả năng tiêu thụ, đối thủ cạnh tranh, nguồn lực tài
chính,…Trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, đặc biệt là
dịch vụ Internet phát triển, nên rất thuận lợi cho việc khai thác thông tin phục vụ
thẩm định dự án.
- Phương pháp thẩm định: Phương pháp thẩm định cần lựa chọn một cách
khoa học, hợp lý với đặc thù tính chất của từng dự án. Phương pháp thẩm định
thể hiện qua hệ thống chỉ tiêu và cách áp dụng khi thẩm định dự án. Mỗi chỉ tiêu
đều có ưu nhược điểm nhất định, nên phải biết sử dụng kết hợp các chỉ tiêu để
cho kết quả toàn diện và chính xác. Tuỳ theo đặc thù của mỗi dự án mà đặt chỉ
tiêu nào là quan trọng cho mục tiêu thẩm định.
Hiện nay kỹ thuật vi tính và các tổ chức chuyên môn, tư vấn phát triển, rất
thuận lợi cho việc sử dụng các phương pháp thẩm định tiên tiến nhất, hiện đại
nhất hay thuê tổ chức chuyên nghiệp làm công tác thẩm định dự án.
- Tổ chức bộ máy thẩm định: Tổ chức bộ máy thẩm định là việc tổ chức,
sắp xếp bộ máy thực hiện công tác thẩm định, quy định trách nhiệm, quyền hạn
của các cán bộ, bộ phận tham gia, trình tự, thời gian tiến hành cũng như mối
quan hệ của các cán bộ, bộ phận trong đó.Việc tổ chức bộ máy thẩm định một
cách hợp lý, khoa học sẽ giúp nâng cao chất lượng công tác thẩm định, rút ngắn
thời gian thẩm định.
- Năng lực chuyên môn của cán bộ thẩm định: Năng lực, trình độ chuyên
môn, kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức của cán bộ thẩm định là nhân tố chủ
thể ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác thẩm định vì chính họ là người
đưa ra kết luận thẩm định dự án.
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
(c). Đảm bảo tính khả thi của dự án: Đây là mục đích hết sức quan trọng trong
thẩm định dự án. Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có tính khả thi. Tất
nhiên hợp lý và hiệu quả là hai điều kiện quan trọng để dự án có tính khả thi
nhưng tính khả thi của dự án được xem xét với nội dung và phạm vi rộng hơn:
Kế hoạch tổ chức thực hiện, môi trường pháp lý của dự án, năng lực cán bộ thực
hiện dự án…
Hoạt động thẩm định là công cụ trợ giúp các nhà quản trị của các ngân
hàng trong việc ra quyết định tài trợ cho dự án. Khi quyết định đầu tư dự án tức
là quyết định bỏ vốn đầu tư trung, dài hạn nhằm tăng năng lực sản xuất của chủ
đầu tư và tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Nếu không tiến hành lựa chọn dự án
một cách kỹ lưỡng, thực hiện có chất lượng khâu thẩm định dự án hoặc thẩm
định sơ sài trước khi ra quyết định đầu tư thì không những vi phạm pháp luật và
việc cho vay sẽ không có cơ sở, dẫn đến quyết định sai lầm gây hậu quả nghiêm
trọng mà không ai khác là chủ đầu tư và ngân hàng là người đầu tiên phải gánh
chịu. Điều đó cho thấy tác dụng của thẩm định dự án là rất quan trọng trong đó
chất lượng thẩm định dự án là yếu tố cốt lõi, quyết định dự án có trả được nợ
hay không.
Thẩm định dự án đầu tư giúp cho chủ đầu tư và ngân hàng đánh giá và lựa
chọn dự án được chính xác với chi phí và thời gian thấp nhất.
Đối với các ngân hàng trên cơ sở thu thập thông tin và đánh giá dự án để
ra quyết định có cho vay hay tài trợ cho dự án không, nếu cho vay thì mức cho
vay là bao nhiêu, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, phương thức cho vay, điều
kiện cho vay, điều kiện giải ngân, nguồn thu nợ… Ngoài ra, với những kinh
nghiệm trong thẩm định dự án, ngân hàng có thể giúp chủ đầu tư điều chỉnh
những nội dung chưa hợp lý trong dự án hoặc bổ sung thêm những biện pháp
nhằm tăng thêm tính an toàn khi đưa dự án vào thực hiện. Tất cả những việc đó
nhằm mục tiêu cuối cùng là giúp ngân hàng tìm ra những cơ hội cho vay tốt
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
chiết khấu, thị trường đầu vào, đầu ra, khả năng tổ chức quản lý, mức độ rủi ro
của dự án nhằm tăng sự tin cậy của các dự báo, kết quả thẩm định từ quá trình
phân tích so với kết quả thực tế khi dự án đi vào hoạt động, giúp cho ngân hàng
đưa ra được quyết định tài trợ đúng đắn.
Các Ngân hàng cần phải xây dựng kỹ năng và phương pháp thẩm định,
nhằm giúp cán bộ thẩm định nắm bắt kịp thời những kỹ thuật, chuẩn mực khi
thẩm định dự án đầu tư, đảm bảo cho công tác thẩm định tiến hành theo trình tự
khoa học,
Trong thực tiễn xảy ra ở NHTM, Có những dự án nếu giữ nguyên phương
án cơ sở do chủ đầu tư lập Khi thẩm định cho thấy hiệu quả của dự án không
cao, nhưng nếu điều chỉnh phương án một các hợp lý như: Loại trừ những chi
phí bất hợp lý trong tổng mức đầu tư, Cơ cầu nguồn vốn đầu tư, bóc tác thuế
VAT mà chủ đầu tư được hoàn ngay trong quá trình đầu tư, các khoản trả lãi
tiền vay trong thời gian xây dựng theo tiến độ nhận tiền vay, công suất sản xuất,
thời gian xây dựng công trình thì hiệu quả của dự án sẽ khả quan hơn và
ngược lại. Vì vậy, Khi nâng cao chất lượng thẩm định còn cung cấp cho khách
hàng những tiện ích như tư vấn về kế hoạch kinh doanh, hướng phát triển dự án
(mở rộng hay thu hẹp), phương án về nguồn vốn (tăng hay giảm giá trị một số
nguồn trong cơ cấu nguồn vốn của dự án) góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao
hiệu quả hoạt động của dự án, mang lại lợi ích cho chủ đầu tư.
Chất lượng thẩm định dự án đầu tư của các NHTM được thể hiện qua kết
quả thẩm định các nội dung có liên quan đến dự án đầu tư, kể cả liên quan đến
chủ đầu tư thực hiện dự án đầu tư. Chất lượng thẩm định dự án đầu tư của các
Ngân hàng được phản ánh qua kết quả thẩm định các nội dung sau:
- Thẩm định cơ sở pháp lý của chủ đầu tư thực hiện dự án đầu tư
- Thẩm định phương diện tài chính của chủ đầu tư ( năng lực tài chính của
người thực hiện dự án đầu tư)
VND 167.247 246.609 348.000
Tỷ trọng (%) 72,8 60,7 71,0
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
Tốc độ tăng (%) 40,8 47,5 41,1
USD 62.500 159.744 142.000
Tỷ trọng (%) 27,2 39,3 29,0
Tốc độ tăng (%) 9,7 155,6 -11,1
Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư
nợ
2,2% 1,9% 1,7%
2.4 Đánh giá về vai trò việc thẩm định dự án của các NHTM
a. Mặt tích cực
Thẩm định dự án của các NHTM có vai trò rất quan trọng không những
đối với hoạt động tín dụng của NHTM, mà nó còn có tác dụng thiết thực đối với
chủ đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước. đó là quá trình kiểm tra, đánh giá,
rà soát lại toàn bộ những vấn đề có liên quan đến dự án, làm rõ những thuận lợi,
khó khăn đối với dự án, tính hợp lệ hợp pháp, minh bạch đối với dự án, hiệu quả
tài chính của dự án, năng lực tài chính của chủ đầu tư và khả năng nguồn vốn
đáp ứng cho việc thực hiện dự án
Việc thẩm định có chất lượng , đúng quy trình sẽ giúp đánh giá chính xác
hiệu qủa tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của việc đầu tư, ngăn ngừa và hạn
chế bớt các rũi ro, tránh gây thất thoát, không thu hồi đựơc vốn đầu tư của chủ
đầu tư, nhà tài trợ cũng như của xã hội. Những dự án không được thẩm định kỹ
càng thường đưa đến những hậu qủa như: Rủi ro về mặt pháp lý, kỹ thụât lạc
hậu, công nghệ lỗi thời, máy móc thiết bị thiếu đồng bộ, thời gian xây dựng kéo
dài, thiếu vốn xây dựng cơ bản, nguồn nguyên liệu cung cấp thiếu đảm bảo về số
lượng và chất lượng, không có thị trường tiêu thụ, gây ô nhiễm môi trường…
công tác thẩm định nói riêng. (gồm thông tin vĩ mô; thông tin kinh tế xã hội;
thông tin khách hàng ) vẫn còn hạn chế. Trong đó công tác phân tích, đánh giá
và dự báo thông tin thị trường còn yếu. Hệ quả là việc tăng trưởng tín dụng
nóng, khi nền kinh tế vĩ mô không thuận lợi đã gây ra những tác động nhất định
đến quá trình khai thác và sử dụng vốn của một số ngân hàng, làm chậm tốc độ
chu chuyển vốn và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
+ Chất lượng nguồn nhân lực hạn chế:
- Chất lượng nguồn nhân lực hiện nay nói chung và đội ngũ cán bộ tín
dụng nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế. Việc phát triển nhanh về quy mô, mạng
lưới hoạt động kéo theo nhu cầu về nhân lực là rất lớn. Chính điều này cũng ảnh
hưởng nhất định đến chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng và ảnh hưởng đến chất
lượng thẩm định tín dụng. Trong đó khả năng “ đọc” phương án sản xuất kinh
doanh. Đặc biệt là đối với các dự án cho vay trung dài hạn của cán bộ tín dụng là
rất hạn chế. Trong khi đó diễn biến phức tạp của thị trường, nhất là trong điều
kiện hiện nay càng tạo áp lực lớn đối với quá trình xét duyệt, quyết định cho vay
đối với các dự án trung dài hạn.
- Ngoài ra chính phương thức bảo đảm tiền vay hiện nay, dựa chủ yếu
vào tài sản thế chấp, đặt nặng yêu cầu về TSBĐ nợ vay (là bất động sản) cũng
làm hạn chế năng lực, khả năng nghiên cứu và trình độ thẩm định của chính cán
bộ tín dụng.
- Bên cạnh đó đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ tín dụng cũng cần
được quan tâm. Chính đạo đức nghề nghiệp chưa thực sự được đảm bảo cũng
làm ảnh hưởng chất lượng khoản vay. Những vụ án liên quan đến lừa đảo vốn
tín dụng ngân hàng xảy ra trên thực tế, xem xét đánh giá đầy đủ có chứa đựng
nguyên nhân do yếu tố con người, liên quan đến đạo đức nghề nghiệp của cán
bộ tín dụng. Đây là rủi ro từ yếu tố con người tiềm ẩn và có tác động ảnh hưởng
không đầy đủ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đánh giá, thẩm định khách
hàng của các ngân hàng.
2. Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cho việc thẩm định dự án: Ngoài
hệ thống thông tin dùng để đánh giá khách hàng, khi thẩm định dự án, phương
án kinh doanh, các tổ chức tín dụng cần phải có hệ thống thông tín nhằm xác
định, kiểm tra các thông số đầu vào và đầu ra của dự án, nhất là các thông số
về thị trường các nguyên liệu đầu vào và thị trường đàu ra của sản phẩm…
3. Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá khi có đủ các
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
thông tin với độ tin cậy cao, điều kiện cần thiết tiếp theo là phải có các tiêu
chuẩn và kỹ thuật đánh giá phù hợp, cụ thể:
+ Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực khách hàng: Theo quy định đối với
những người điều hành doanh nghiệp đồi hỏi phải có một số tiêu chuẩn nhất
định nào đó (về bằng cấp). Nhưng thực tế những quy định này nặng về hình
thức hơn. Những căn cứ, tiêu chuẩn để dựa vào đó đánh giá khả năng điều
hành của một doanh nghiệp, một tổ chức gần như không có.
+ Các tiêu chuẩn phân tích báo cáo tài chính: Hai điều kiện cơ bản nhất
để phân tích báo cáo tài chính nhằm đưa ra các đánh giá, kết luận có độ tin
cậy là phải có hệ thống thông tin báo cáo tài chính đủ độ tin cậy và có hệ
thông các chỉ tiêu, chuẩn mực đánh giá. Phần thứ nhất đã được trình bày ở
phần trên. Hiện nay chưa có các tiêu chuẩn, chuẩn mực được cho là hiệu quả
để so sánh đánh giá một báo cáo tài chính của một khách hàng là tốt hay không
tốt, đủ tiêu chuẩn hay chưa đủ tiêu chuẩn.
+ Các tiêu chuẩn thẩm đinh dự án đầu tư: Đây là những thông số, nhưng
tiêu chuẩn vô cùng cần thiết như hệ số chiết khấu, mức độ rủi ro …Trong quá
trình thẩm định một sự án, có rất nhiều tiêu chuẩn để đánh giá dự án, nhưng
hai tiêu chuẩn thông dụng nhất là dự vào giá trị hiện tại ròng (NPV) và suất
sách và pháp luật hiện hành, làm cơ sở pháp lý phục vụ cho công tác thẩm định,
xét duyệt cho vay.
+ Có cơ chế kiểm tra, giám sát khoản vay hiệu quả (trong suốt quá trình
cho vay: từ thẩm định đến khi thu hồi nợ vay);
5. Nâng cao chất lượng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. Đây là hoạt
động có vai trò quan trọng đối với công tác thẩm định tín dụng. Mặc dù dứoi góc
độ quản lý, thẩm định tín dụng chỉ là một bộ phận của hoạt động tín dụng, do
vậy về mặt tổ chức nó thuộc phạm vi hoạt động của quản lý tín dụng, của công
tác quản trị rủi ro tín dụng tại mỗi NHTM. Tuy nhiên tại các NHTM có trình độ
quản lý, quản trị rủi ro cao, hiệu quả sẽ có tác động trực tiếp đến chất lượng
công tác thẩm định, nhờ kết quả của quá trình đánh giá, xác định và phân loại rủi
ro; quá trình phân tích, đánh giá và định lượng rủi ro (các loại rủi ro liên quan:
lãi suất; tỷ giá; thị trường; pháp luật và rủi ro tài chính; hoạt động kinh doanh
Thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Lớp NH4_ Ngày 1 GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh HV TH: Nguyễn Việt Trung
của khách hàng ) – Đây là thông tin cần thiết đối với công tác thẩm định tín
dụng. Là cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định đúng trong quá trình xét duyệt
cho vay; quá trình tài trợ vốn. Chính vì lẽ đó một trong giải pháp cơ bản là các
NHTM cần quan tâm nâng cao chất lượng của hoạt động này.