Đề tài: Tiềm năng và thực trạng vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc - Pdf 19

I. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
1. Vị trí và tiềm năng phát triển
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (KTTĐPB) gồm 8 tỉnh và thành phố là:
Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, Bắc Ninh và
Vĩnh Phúc trong đó thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và quan
hệ quốc tế của cả nước. Diện tích tự nhiên toàn vùng là 15512,1 km2, chiếm
4,68% diện tích của nước. Dân số toàn vùng năm 2007 là 13,88 triệu dân, chiếm
16,3% dân số cả nước. Tỷ lệ đô thị hoá của vùng đạt khoảng 27,4 % (cả nước
24,8%).
Vùng KTTĐPB nằm trong lưu vực các sông lớn như sông Hồng, sông Cầu,
sông Đuống, sông Thái Bình; phía Bắc giáp vùng Đông Bắc, phía Tây giáp vùng
Tây Bắc là cửa ngõ thông thương với Trung Quốc; phía Nam giáp vùng Bắc Trung
bộ là cửa ngõ thông thương với Lào và phía Đông giáp biển Đông. Trong vùng
vừa có đồng bằng, trung du, miền núi và duyên hải; là nơi hội tụ đầy đủ các lợi thế
về đường biển, đường sắt, đường bộ và đường hàng không, giao lưu thuận lợi với
các tỉnh trong cả nước và các quốc gia trên thế giới.
Tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, khoáng sản, tài nguyên rừng và đa
dạng sinh học trong vùng hết sức đa dạng và phong phú. Hệ thống đô thị phát triển
rộng khắp. Công nghiệp phát triển sớm, tập trung đội ngũ doanh nhân lớn. Nguồn
nhân lực của Vùng KTTĐPB khoảng 7,48 triệu lao động (chiếm 17,6% tổng lao
động – số liệu thống kê năm 2005), là nguồn lao động có chất lượng khá cao so
với mức trung bình của cả nước, số lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên
đại học cao nhất so với các vùng khác, chiếm tới 32% cả nước. So với các vùng
kinh tế khác, vùng KTTĐPB là nơi tập trung nhiều nhất các viện nghiên cứu, các
trường đại học, có các trang bị hiện đại nhất cả nước. Đây là trung tâm kinh tế
năng động và là một đầu tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc và của cả nước Việt
Nam. Ưu thế lớn nhất của vùng kinh tế này là nhân lực có đào tạo tốt, có điểm thi
vào các trường đại học cao đẳng cao nhất nước và tỷ lệ sinh viên trên đầu người
cao nhất nước.
Với 8 tỉnh có vị trí địa lý và không gian kinh tế liền kề, các tỉnh trong vùng
có nhiều khả năng tạo ra sự liên kết kinh tế để bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau cùng

đồng (giá hiện hành), chiếm 18,99% GDP của cả nước so với năm 2000 đạt
70.769,8 tỷ đồng. GDP bình quân đầu người đạt 780 USD, cao gấp 1,2 lần so với
cả nước (640 USD).
Sự tăng trưởng của kinh tế vùng thời gian qua có đóng góp lớn của các
ngành thuộc khu vực phi nông nghiệp. Tỷ trọng các ngành có năng suất lao động
cao, chứa đựng hàm lượng công nghệ, chất xám cao ngày càng lớn và tỷ trọng các
ngành có năng suất thấp giảm đi trong toàn bộ lao động xã hội, đánh dấu sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế bắt đầu đi vào chiều sâu và ngày càng có chất lượng
hơn. Tỷ trọng ngành sản xuất vật chất tăng lên, năm sau cao hơn năm trước; tỷ
trọng ngành dịch vụ có xu hướng giảm. Điều này chứng tỏ tỷ trọng sản xuất hàng
hóa tăng lên làm cho độ mở của nền kinh tế lớn hơn và mức độ hội nhập kinh tế
với bên ngoài ngày càng mạnh mẽ. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng
diễn ra đồng thời; tỷ trọng của bộ phận kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nước ngoài
tăng lên (mặc dù tương đối mờ nhạt); tỷ trọng của kinh tế nhà nước cũng có thể
giảm xuống một cách tương đối song vai trò bảo đảm an toàn cho toàn bộ nền kinh
tế vẫn được duy trì. Điều này phản ánh môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng
hơn và việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tuy chậm nhưng đã bước đầu
phát huy tác dụng.
Trong những năm qua, môi trường đầu tư được các tỉnh, thành phố trong
vùng tích cực cải thiện thông thoáng, nhờ đó số lượng doanh nghiệp tăng lên khá
nhanh, bình quân khoảng 17%/năm; nhiều doanh nghiệp ở các địa phương đang
dần lớn mạnh, mở rộng quy mô sản xuất.
(2) Cơ cấu kinh tế của vùng KTTĐPB đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hoá góp phần lôi kéo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
vùng đồng bằng sông Hồng.
Cơ cấu kinh tế của vùng đã có bước chuyển dịch tiến bộ. Trong thời kỳ
1995-2002 tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng thêm được 4,46 điểm, tương
ứng tỷ trọng nông lâm giảm được 4,46 điểm (nông, lâm, thủy sản giảm từ 15,42%
xuống 10,96%; công nghiệp - xây dựng tăng từ 30,46% lên 41,67%; và dịch vụ
giảm từ 54,12% xuống 47,37%.

hàng; dịch vụ tài chính, tiền tệ, ngân hàng, tư vấn,… Năm 2002, tổng kim ngạch
xuất khẩu của vùng KTTĐPB đạt khoảng 3,27 tỷ USD (gấp khoảng 3 lần so với
năm 1995); mức xuất khẩu bình quân đầu người gấp 1,19 lần mức bình quân cả
nước và tăng lên đáng kể (từ 81,8 USD năm 1995 lên 250,9 USD năm 2002).
(3) Mức đóng góp vào thành quả chung của cả nước của vùng KTTĐ Bắc Bộ tiếp
tục tăng. Năm 2002, so với cả nước, vùng KTTĐPB chiếm khoảng 19,4% về
GDP, 21,66% về thu ngân sách, 19,58% về kim ngạch xuất khẩu. Đồng thời nếu
so với năm 1995, tỷ trọng của nhiều chỉ tiêu tổng hợp (về GDP, giá trị gia tăng
công nghiệp, giá trị gia tăng nông nghiệp, giá trị gia tăng dịch vụ, ) của vùng
KTTĐPB tăng hơn được khoảng 1 – 1,5%. Vùng KTTĐPB bước đầu đã phát huy
được một số lợi thế so sánh, phát triển vượt trội và có tác động thúc đẩy cả vùng
Đồng bằng sông Hồng cùng phát triển.
(4) Kết cấu hạ tầng được cải thiện đáng kể, tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn (trong thời kỳ 1995 –
2002 chiếm khoảng 43,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội) đã tập trung vào một số
công trình then chốt, tạo ra những điều kiện thuận lợi khai thác tiềm năng của
vùng.
Về hệ thống đường bộ: quốc lộ 1A là tuyến chiến lược quan trọng đã hoàn
thành việc khôi phục, cải tạo nâng cấp từ Lạng Sơn về Hà Nội đi Ninh Bình đến
Thanh Hoá, đạt tiêu chuẩn cấp III; quốc lộ 18, từ Bắc Ninh đi Bãi Cháy đã hoàn
thành cơ bản việc nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp III. Đoạn Bãi Cháy – Mông Dương
– Móng Cái đang triển khai nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp IV; việc nâng cấp quốc lộ
10 hoàn thành; đường Láng - Hoà Lạc hoàn thành giai đoạn I đạt tiêu chuẩn cấp I.
Đã xây dựng mới các cầu như cầu Bình, Triều Dương, Tân Đệ, Tiên Cựu; đang
xây dựng cầu Yên Lệnh, Thanh Trì, Bãi Cháy ; Các quốc lộ khác như 2B, 38, 39,
183, 12B, 21, 21B và 23 cũng được cải tạo. Giao thông nông thôn được phát triển
khá mạnh (cải tạo khoảng 300 km, làm mới khoảng 150 km).
Về hệ thống các sân bay: trong vùng có 3 sân bay hiện đang khai thác là
sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi và sân bay Gia Lâm.
Sân bay Nội Bài đã được đầu tư đạt công suất 4 triệu hành khách/năm, có điều

khoảng 60 vạn m
3
/ngày đêm, tỷ lệ cung cấp nước sạch cho người dân trong vùng
đã nâng lên và có nhiều cải thiện. Hiện nay bằng nhiều nguồn vốn vay ODA của
WB, OECF, các tỉnh đang triển khai các dự án cấp nước như: ở Hà Nội (100.000
m
3
/ngày đêm), ở Hạ Long hai dự án Đồng Ho và Đồi Vọng (công suất 80.000
m
3
/ngày đêm) và nâng công suất nhà máy nước An Dương ở Hải Phòng (từ 60.000
lên 100.000 m
3
/ngày đêm). Đồng thời, đang nghiên cứu các dự án cấp nước cho
hai thành phố Hà Nội, Hải Phòng.
(5) Một số mặt văn hóa – xã hội có bước phát triển khá
Hệ thống giáo dục phát triển tốt, đa dạng nhiều cấp học cũng như ngành
học. Hệ thống giáo dục cao đẳng, đại học không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong
vùng mà còn phục vụ cho các vùng khác. Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung
tâm dạy nghề đã được nâng cấp, trong đó một số trường đại học trọng điểm và dạy
nghề trọng điểm đã được hiện đại hoá một bước. Đây là vùng có trình độ dân trí
cao nhất so với các vùng khác trong cả nước, tập trung tới 26 - 27% cán bộ có
trình độ cao đẳng và đại học và 72% cán bộ có trình độ trên đại học của cả nước.
Toàn vùng có 50 trường đại học, 20 trường cao đẳng (trên tổng số 139 trường của
cả nước), 42 trường dạy nghề, 102 viện nghiên cứu chuyên ngành.
Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và phát triển, toàn vùng KTTĐPB
hiện có 104 bệnh viện (chiếm 12,5% so cả nước), hơn 18 nghìn giường bệnh
(chiếm hơn 16,3% so cả nước), có một số cơ sở đầu ngành của cả nước và đạt
trình độ khám chữa bệnh tương đối cao so với khu vực và quốc tế. Trên địa bàn
vùng KTTĐPB tất cả các xã, phường đều đã có trạm y tế, có 51 bệnh viện từ tuyến

chiếm khoảng 15 – 17% tổng giá trị sản lượng của ngành công nghiệp của vùng.
Dịch vụ chất lượng cao phát triển chậm; tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP vùng
không tăng mà có xu hướng giảm. Khu vực dịch vụ đang có xu hướng chững lại
và tăng chậm hơn nhịp độ tăng trưởng chung của GDP. Đây là xu hướng bất lợi,
nếu xu thế này không được khắc phục kịp thời thì sẽ làm hạn chế tốc độ tăng
trưởng chung của vùng.
Trong nông, lâm, ngư nghiệp chủ yếu sản xuất theo kiểu truyền thống, việc
ứng dụng công nghệ sinh học còn hạn chế, sản phẩm xuất khẩu ít.
(2) Trong thời gian qua mới chú trọng thực hiện công nghiệp hoá, nội dung hiện
đại hoá của vùng KTTĐPB có phần còn chậm
Trình độ công nghệ, cơ cấu công nghệ nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu,
việc đổi mới công nghệ và ứng dụng công nghệ cao còn chậm. Trong vùng có khu
công nghệ cao Hoà Lạc, song hình thành rất chậm. Các KCN khác tỷ lệ lấp đầy là
12%, thấp nhiều so tỷ lệ cả nước (43%) và trình độ công nghệ không cao. Công
nghiệp điện tử và sản xuất đồ điện dân dụng là ngành mới phát triển, nhưng trình
độ công nghệ nhìn chung chỉ ở mức trung bình, tập trung chủ yếu vào lắp ráp
CKD, chỉ có khoảng 6 – 7% lắp ráp IKD; sản xuất linh kiện không đáng kể (năm
2002, có 16 doanh nghiệp đang hoạt động, đã sản xuất được: 1,6 triệu tivi, 78 triệu
mạch in, 3 triệu tuner, 789 triệu tụ, 7 triệu starter); sản phẩm lắp ráp trong nước
tiêu thụ chậm so với hàng nhập từ Đài Loan, Malaysia, Singapore, Bước đầu lắp
ráp đầu video, radio – cassette, nhưng chất lượng chưa cao.
Phần lớn các thiết bị, công nghệ của ngành cơ khí được trang bị cách đây
trên 20 năm nên rất lạc hậu về kỹ thuật, tỷ lệ sản phẩm chất lượng cao còn rất
thấp. Công nghiệp cơ khí chế tạo động cơ (chủ yếu là sản xuất động cơ điện và
máy bơm nước), công nghiệp sản xuất máy biến thế và thiết bị điện năng lực sản
xuất hiện còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường.
Các ngành sản xuất vật liệu, đặc biệt vật liệu mới (tạo tiền đề để cho các
ngành công nghiệp khác phát triển) chưa hình thành. Ngành sản xuất thép chủ yếu
là sản xuất thép xây dựng thông thường, còn thép tấm và thép cao cấp vẫn phải
nhập ngoại.

Lạc – Xuân Mai, các đô thị ở Sóc Sơn, Minh Đức, Chí Linh, Sao Đỏ, Hoành
Bồ,… song sự phát triển của những đô thị này rất chậm.
Hiện nay ở vùng KTTĐPB mới có 3/11 KCN có hệ thống xử lý nước thải
tập trung tương đối hoàn chỉnh. Ô nhiễm môi trường xảy ra ở nhiều nơi, nồng độ
bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép 1,2 – 3,5 lần (tập trung lớn ở khu vực Phả Lại -
Kinh Môn, Hải Dương). Ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng tại các khu đô thị và
khu công nghiệp sông Tam Bạc, sông Cấm (Hải Phòng), sông Sặt tại Hải Dương,
sông Bạch Đằng tại Quảng Ninh và nhiều nơi ở thành phố Hà Nội. Nước ngầm bị
nhiễm mặn ở Quảng Ninh, Hải Phòng; ở Hà Nội đã có biểu hiện nước ngầm bị ô
nhiễm.
(4) Chất lượng lao động chưa cao, cơ cấu lao động dịch chuyển chậm
Tuy lực lượng lao động của vùng có chất lượng khá hơn so với các vùng
khác (năm 2001, tỷ lệ lao động có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 9,1% là mức
cao nhất trong cả nước; tỷ lệ lao động có chuyên môn nghề nghiệp chiếm khoảng
30%), nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ cấu
lao động xã hội tuy đã có chuyển biến nhưng chưa mạnh (thời kỳ 1991 – 2002, tỷ
trọng lao động nông, lâm, thuỷ sản đã giảm từ khoảng trên 72% xuống khoảng
56%; tỷ trọng lao động công nghiệp và xây dựng tăng từ khoảng 11,5% lên
khoảng 16,6%; lao động dịch vụ tăng nhanh, tỷ trọng tăng từ 16,5% lên khoảng
27,6%). Mức độ toàn dụng lao động chưa cao làm ảnh hưởng lớn đến phát triển
kinh tế.
Trong các doanh nghiệp Nhà nước, tỷ lệ lao động không có việc làm và
thiếu việc làm chiếm tới 8 – 9%. Tỷ lệ thất nghiệp trong tuổi lao động ở khu vực
đô thị là 6,7% (bình quân cả nước 6%). Đối với vùng KTTĐPB nhu cầu giải quyết
việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc. Theo kết quả điều tra lao động và
việc làm (01/07/2002) cho thấy trong khi rất thiếu lao động kỹ thuật cao thì có gần
5 vạn ngươì đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học đang thất nghiệp tập trung ở các đô thị
và có xu hướng tăng lên qua các năm.
Năm 1998, qua điều tra cho thấy quỹ thời gian lao động ở khu vực nông
thôn của vùng KTTĐPB mới sử dụng khoảng 75%, tức là có khoảng 20 – 25% lực

quy hoạch, kinh tế Trung ương chưa gắn với kinh tế địa phương. Sau khi có quy
hoạch tổng thể, nhiều quy hoạch chi tiết không bám theo quy hoạch tổng thể, chưa
gắn với kế hoạch sử dụng đất có hiệu quả.
Việc tổ chức thực hiện (nhất là việc đầu tư) còn thiếu chủ động. Việc kiểm
tra, giám sát thực hiện quy hoạch, nhất là việc xây dựng theo quy hoạch còn yếu.
(4) Việc vận dụng cơ chế chính sách chưa đem lại hiệu quả cao.
Cơ chế chính sách huy động vốn chưa đủ mức nên các nguồn vốn huy động
còn hạn chế. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thu hút không nhiều, năm
1995 FDI của toàn vùng là 551 triệu USD, chiếm 37,3% so tổng vốn đầu tư toàn
xã hội, năm 2000 giảm xuống còn 297 triệu USD, chiếm 14%. Xu thế này ảnh
hưởng không có lợi cho tăng trưởng của nền kinh tế. Vốn của dân đưa vào đầu tư
phát triển, hiệu quả thấp.
Trong lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng, chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân
sách nhà nước. Quỹ đất chưa được sử dụng có hiệu quả để phát triển kết cấu hạ
tầng. Việc đền bù, giải tỏa còn chậm được giải quyết.
Việc thực hiện cơ chế chính sách xây dựng nhà ở gắn với phát triển đô thị và KCN
còn nhiều bất cập. Việc giao đất cho một số tổ chức của Nhà nước xây dựng và
kinh doanh nhà ở đem lại hiệu quả không cao.
(5) Đầu tư chưa tạo được tiềm lực cho phát triển lâu dài và chưa hình thành được
các khâu đột phá.
Thời kỳ 1996 – 2002, đầu tư toàn xã hội của Vùng KTTĐPB ước đạt
khoảng 120 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), bằng khoảng 20% đầu tư toàn xã hội
của cả nước; trong đó vốn Nhà nước chiếm khoảng 63%, vốn FDI chiếm khoảng
22% và vốn của dân chiếm khoảng 15%. Đồng thời, đầu tư còn thiếu tập trung,
chưa dứt điểm.
Về cơ cấu vốn đầu tư FDI, phần đầu tư cho nông lâm ngư nghiệp chỉ chiếm
1,2%, công nghiệp 30,5% còn lại tập trung vào xây dựng văn phòng, căn hộ,
khách sạn, nhà hàng, hạ tầng khu công nghiệp và đô thị, giao thông bưu điện
chiếm tới 68,3%.
Vốn đầu tư của dân tập trung vào xây dựng nhà ở, nhà nghỉ, khách sạn. Độ

năm 2005 và 65% năm 2010.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng số việc làm có năng suất cao,
tiêu hao ít năng lượng hơn, sử dụng đất có hiệu quả hơn trên cơ sở phát triển các
ngành công nghệ cao và sản xuất các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Đến
năm 2005 tăng nhanh sản phẩm của các ngành có công nghệ cao, lao động làm
việc trong các ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu chiếm trên 10% lao động xã
hội.
Vùng kinh tế này sẽ được ưu tiên phát triển các ngành kỹ thuật cao như
công nghiệp phần mềm, thiết bị tin học, tự động hóa, thép chất lượng cao Nhằm
cải thiện cơ sở hạ tầng, một loạt dự án xây dựng sẽ được phê duyệt gồm các tuyến
đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Ninh Bình, đường xe điện ngầm,
đường sắt nội đô Hà Nội có nhiệm vụ đưa công nghiệp, đặc biệt các sản xuất có
nguy cơ gây ô nhiễm ra xa nội thành, còn Hải Phòng có thể tăng quy mô dân số
nội thị vào năm 2010 lên đến 750.000 – 900.000 người.
2. Định hướng quy hoạch phát triển của vùng từ nay đến năm 2020
(1) Vùng KTTĐPB đi đầu về hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, kết hợp
chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an
ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường.
Thủ tướng xác định, khu vực phía Bắc phải phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng
GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2006 – 2010 khoảng 1,3 lần và giai đoạn 2011
– 2020 khoảng 1,25 lần mức tăng trưởng bình quân chung của cả nước.
Bên cạnh đó, tăng tỷ trọng đóng góp GDP của cả nước từ 21% năm 2005
lên khoảng 23 – 24% vào năm 2010 và khoảng 28 – 29% vào năm 2020. Tăng giá
trị xuất khẩu bình quân đầu người/năm từ 447USD năm 2005 lên 1.200USD năm
2010 và 9.200USD năm 2020. Tăng mức đóng góp của vùng trong thu ngân sách
của cả nước từ 23% năm 2005 lên 26% năm 2010 và 29% năm 2020. Đẩy nhanh
tốc độ đổi mới công nghệ đạt bình quân 20 – 25%/ năm.
Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 1,5% năm 2010 và dưới 0,5% năm 2020.
Giảm tỷ lệ lao động không có việc làm đến 2010 xuống khoảng 6,5%. Giảm tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên xuống 1% vào năm 2010 và dưới 0,8% vào năm 2020

triển theo hướng có 50 – 55% đầu tư xã hội cho phát triển sản xuất kinh doanh,
dành 9 – 10% đầu tư xã hội cho phát triển nguồn nhân lực, 35 – 36% đầu tư giao
thông vận tải.
Nguồn nhân lực: Rất cần làm tốt công tác dự báo nhu cầu đầu tư. Đây là
việc làm ngắn hạn để đạt được mục tiêu dài hạn. Bên cạnh đó, cần chú trọng đổi
mới nội dung, chương trình đầu tư theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề phù hợp với công
nghệ sản xuất hiện đại, các cơ sở dạy nghề tiến tới đầu tư theo đơn đặt hàng của
doanh nghiệp. Lựa chọn những nghề trọng điểm, mũi nhọn, những nghề chịu áp
lực cạnh tranh cao để tập trung đầu tư đồng bộ sao cho đến năm 2010 những nghề
này đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng và từng bước đạt tiêu chuẩn chất lượng
của khu vực và quốc tế.
Mục tiêu đến năm 2015 tất cả các cơ sở dạy nghề trong vùng đều có thể đầu
tư theo đặt hàng của doanh nghiệp, người được tuyển dụng vào học nghề phải biết
rõ khi tốt nghiệp sẽ làm việc ở đâu, điều kiện làm việc và mức lương ra sao. Đầu
tư chuyên ngành phải gắn chặt với doanh nhiệp. Đối với hình thức đầu tư, phải xác
định đầu tư tại các trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề là giai đoạn cơ bản, còn đầu
tư chuyên ngành phải gắn chặt với các doanh nhiệp, xí nghiệp để đạt hiệu quả.
Nhà nước cần chú trọng đầu tư xây dựng một số trường hoặc trung tâm đầu tư với
quy mô lớn, hiện đại, đủ sức đầu tư nguồn nhân lực tại chỗ theo chuẩn của các
nước trong khu vực.
Sắp xếp lại hệ thống các cơ sở đào tạo ở Hà Nội, Hải Phòng gắn với vùng
đồng bằng sông Hồng, trung du, miền núi và khu vực. Từ nay đến năm 2010, mỗi
năm cần đào tạo hàng nghìn doanh nhân giỏi và khoảng 30 – 35 vạn lao động kỹ
thuật lành nghề cho các ngành kinh tế quốc dân và xuất khẩu, đội ngũ cán bộ
hoạch định chính sách có trình độ cao, có chính sách sử dụng nhân tài
(2) Đảm bảo phát triển cân đối, đi trước về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
tế và xã hội
Trong bối cảnh đó, đầu tư phát triển vùng KTTĐPB, đã được Chính phủ
xác định phải đầu tư lớn xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông –
lĩnh vực phải đi trước một bước. Định hướng của Chính phủ từ nay đến năm 2020

xây mới; tuyến cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn được nâng cấp trên cơ sở tuyến hiện
tại. Bên cạnh đó, các tuyến đường sắt xây mới Yên Viên – Phả Lại, tuyến nối cảng
Hạ Long với cảng Cái Lân được quan tâm đầu tư để phục vụ cho vùng cảng biển
quan trọng này. Trong chiến lược phát triển mạng lưới đường sắt phục vụ phát
triển vùng KTTĐPB không thể tách rời xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại các
thành phố lớn, trước tiên là Hà Nội. Khi các tuyến đường sắt đô thị hoàn thiện, lưu
thông giữa nội thành và ngoại thành với các vùng lân cận chủ yếu thông qua hệ
thông này từ trung tâm đi Hà Đông, Nội Bài, Hoà Lạc, Gia Lâm rồi toả đi các tỉnh,
thành phố khác.
Các tuyến đường sông: Lạch Giang – Hà Nội, Hải Phòng – Hà Nội (qua
sông Đuống, sông Luộc) nối 2 cụm cảng lớn nhất khu vực KTTĐ BB và tuyến
Quảng Ninh – Phả Lại được đầu tư nâng cấp sẽ là tuyến vận tải chủ đạo, cùng với
các tuyến đường sông khác trong toàn vùng sẽ đảm nhiệm vận tải hàng hoá, hành
khách đặc biệt vận chuyển hàng hoá khối lượng lớn đến các cụm, khu công nghiệp
trong vùng như nhà máy sản xuất xi măng, nhà máy nhiệt điện, cảng than
(3) Tiếp tục xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm đầu não về chính trị, hành chính
quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc
tế của cả nước. Để làm được điều này thì cần phải xây dựng những đô thị vệ tinh
xung quanh Hà Nội vì những đô thị này có ảnh hưởng đến sự phát triển của thủ đô
Hà Nội và của cả cùng KTTĐPB. Theo dự kiến sữ xây dựng và hình thành 17 đô
thị vệ tinh trực tiếp cho Hà Nội, cụ thể như bảng sau:
STT

Đô thị Địa điểm
Quy mô dân số
năm 2020
(1.000 người)
Tính chất đô thị
1 Nội Bài Sóc Sơn - Hà Nội 50 – 60
Công nghiệp - du lịch -

cảnh tác động bên ngoài, mức độ thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế của vùng từ
nay đến 2020, nhằm bảo đảm phát triển bền vững Vùng KTTĐPB, cần phải thực
hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, xác định các ngành, lĩnh vực và các tiểu vùng ưu tiên phát triển;
huy động vốn đầu tư cho phát triển theo các mục tiêu đề ra.
9 Thường Tín Hà Tây 50 – 60
Hành chính – thương
mại
10 Sơn Tây Hà Tây 50 – 70 Công nghiệp
11 Phạm Trôi
Hoài Đức - Hà
Tây
20 – 30
Hành chính – thương
mại
12 Phố Nối
Văn Lâm - Hưng
Yên
150 – 200 Công nghiệp - dịch vụ
13 Như Quỳnh
Văn Lâm - Hưng
Yên
30 – 40
Hành chính - dịch vụ -
công nghiệp
14 Văn Giang Hưng Yên 50 – 60 Dịch vụ - du lịch
15 Từ Sơn Bắc Ninh 30 – 40 Hành chính - dịch vụ
16 Yên Phong Bắc Ninh 100 – 120 Công nghiệp - dịch vụ
17 Tiên Sơn Bắc Ninh 40 – 50 Công nghiệp - dịch vụ
Cần quyết định ngành kinh tế nào thì được thúc đẩy tăng trưởng, ngành nào thì

đồng bộ và khả thi, tránh sự chồng chéo và bỏ trống giữa các quy hoạch. Đặc biệt,
chú trọng thực hiện tốt các quy hoạch phát triển công nghiệp, mạng lưới giao
thông, kết cấu hạ tầng môi trường; chính sách lao động và xã hội. Bên cạnh những
giải pháp trên đây, cũng cần quan tâm đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển
giao, ứng dụng công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế, đáp ứng yêu cầu về phát
triển bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; đẩy mạnh tuyên truyền,
giáo dục nâng cao nhận thức về phát triển bền vững.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status