Nghiên cứu tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại và kiến thức, thái độ, thực hành về kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
LÊ VĂN QUYẾN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ,
THỰC HÀNH VỀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA
CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ TẠI
XÃ CAM NGHĨA, HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
Huế, 2011
1
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1. BCS : Bao cao su
2. BPTT : Biện pháp tránh thai
3. BV : Bệnh viện
4. CBCC : Cán bộ công chức
5. CPR : Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại
6. CS SKSS : Chăm sóc sức khỏe sinh sản
7. CTV : Cộng tác viên
8. DCTC : Dụng cụ tử cung
9. ĐH – CĐ : Đại học - Cao đẳng
10. DS-KHHGĐ : Dân số kế hoạch hóa gia đình
11. DVYT : Dịch vụ y tế
12. HDI : Chỉ số phát triển con người
(Human Development Index)
13. PN : Phụ nữ
14. TFR : Tổng tỷ suất sinh (Total Fertility Rate)
15. THCS : Trung học cơ sở
16. THPT : Trung học phổ thông
17. TTYT : Trung tâm y tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Để thực hiện tốt các biện pháp tránh thai là bộ phận quan trọng làm
giảm tỷ lệ phát triển dân số trong chiến lược dân số kế hoạch hóa gia đình và
phát triển đất nước, là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng
cuộc sống. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, tỷ lệ phát
triển dân số còn cao, thu nhập bình quân đầu người thấp, dưới mức nghèo
theo tiêu chuẩn quốc tế. Thực tế cho thấy một quốc gia, nếu chỉ tìm cách giải
quyết vấn đề kinh tế - xã hội mà không chú trọng đến việc thực hiện các biện
pháp tránh thai, kế hoạch hóa gia đình để giảm tỷ lệ phát triển dân số thì cũng
không nâng cao được chất lượng cuộc sống của người dân và ngược lại.
Ở Việt Nam công tác dân số kế hoạch hoá gia đình đã bắt đầu từ năm
1960. Trải qua gần nửa thế kỷ, với quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, với ý
thức tự nguyện tham gia của toàn dân và sự cố gắng không mệt mỏi của
những người đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện công cuộc này, đến
nay công tác Dân số kế hoạch hoá gia đình đã đạt được những kết quả đáng
kể. Nếu như đầu những năm 1960 bình quân một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
6,4 con, thì vào năm 1999 xuống còn 2,3 con, đến năm 2009 còn 2,0 con, tiến
tới đạt mức sinh thay thế vào giữa thế kỷ 21. Để giảm được mức sinh, công
tác kế hoạch hoá gia đình phải trở thành Quốc sách.
Nghị quyết lần thứ tư của ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VII
về chính sách dân số- kế hoạch hoá gia đình đã chỉ rõ: “Sự gia tăng dân số
quá nhanh là một trong những nguyên nhân sâu xa, kìm hãm sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nước, cản trở việc cải thiện đời sống của nhân dân và
chất lượng giống nòi”[1]. Do đó, song song với việc phát triển kinh tế đòi hỏi
phải thực hiện tốt các chương trình Dân số- kế hoạch hoá gia đình, đặc biệt là
phải thực hiện tốt các biện pháp tránh thai hiện đại và nâng cao kiến thức, thái
4

1.1.1. Lịch sử phát triển dân số thế giới
Dân số thế giới đầu công nguyên có khoảng 270 - 300 triệu người. Lịch
sử dân số nhân loại trải qua hàng triệu năm mới xuất hiện tỷ người đầu tiên.
Thời gian để có thêm 1 tỷ người ngày càng rút ngắn (từ 100 năm, đến 30 năm,
15 năm, 12 năm). Giữa thế kỷ XVII, dân số thế giới đạt 600 triệu người, năm
1820 đạt 1 tỷ người. Từ đó trở đi khoảng thời gian để dân số thế giới thêm 1 tỷ
người nữa cứ rút ngắn lại dần. Từ 1 tỷ lên 2 tỷ mất 110 năm (1920 - 1930), từ 2
tỷ lên 3 tỷ chỉ mất 30 năm (1930 - 1960), từ 3 tỷ lên 4 tỷ chỉ còn 15 năm (1960
- 1975) và từ 4 tỷ lên 5 tỷ mất 12 năm (1975 - 1987). Năm 1999 dân số thế giới
đạt 6 tỷ người và dự kiến dân số thế giới đạt 7 tỷ người vào năm 2010. Quy mô
dân số bắt đầu tăng nhanh từ đầu thế kỷ XX, nhất là từ sau năm 1950. Dân số
gia tăng ở mức kỷ lục trong vòng 50 năm qua là kết quả của việc áp dụng các
công nghệ y tế như thuốc kháng sinh và vi chất dinh dưỡng, thuốc tiêu chảy và
vắc xin, Do đó mức chết giảm, đặc biệt là chết ở trẻ sơ sinh giảm nhanh
chóng, trong khi việc thực hiện các biện pháp tránh thai để hạn chế sinh đẻ tuy
có giảm nhưng còn chậm, dẫn tới sự "bùng nổ dân số ".
Sự gia tăng dân số cao nhất là ở châu Phi, năm 1800 tỷ lệ phát triển dân
số là 0,1% đến năm 1900 là 3,0%. Cuối thế kỷ XX, tốc độ gia tăng dân số
giảm nhưng châu Phi vẫn tăng. Châu Âu là nơi có tốc độ gia tăng dân số thấp
nhất, năm 1800 tỷ lệ phát triển dân số là 0,4%, năm 1890 là 0,7% và đến năm
1990 là 0,2%. Do sự gia tăng dân số giữa các châu lục, giữa các nước khác
nhau, nên cán cân dân số cũng thay đổi khác nhau. Năm 1900 dân số ở các
6
nước đang phát triển chiếm 2/3 dân số thế giới thì đến năm 1980 chiếm gần
3/4 và đến năm 2000 chiếm khoảng 4/5 dân số thế giới [23].
Có thể nói dân cư thế giới tập trung ở 2 châu lục, đó là châu Á và châu
Phi. Quy mô và tỷ lệ của nó ngày càng tăng, tính đến năm 1900 riêng 2 châu
lục này đã chiếm 71% dân số thế giới, dự tính đến năm 2050 là 77%. Việc
phân bố dân cư lại ngược với việc phân phối tổng thu nhập thô của thế giới.
Bắc Mỹ chỉ chiếm 5,2% dân số thế giới nhưng lại chiếm tới 27,4% tổng thu

KHHGÐ là chủ động có con theo ý muốn của các cặp vợ chồng nhằm
điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con. Không để phải dẫn đến phá thai,
hoặc đẻ quá nhiều con, đẻ quá dày, đẻ khi còn quá trẻ hoặc đẻ khi đã nhiều
tuổi. KHHGÐ không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các BPTT để tránh
thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai và sinh con
(trong trường hợp khuyến khích sinh ). [17]
1.3. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC DS-KHHGĐ TRÊN THẾ GIỚI
Trải qua trên 50 năm, các nước đang phát triển đã góp thêm cho dân số
thế giới 3,2 tỷ người và bây giờ dân số thế giới lên tới 6 tỷ người. 50 năm tới
nếu theo sự phát triển trung bình như hiện nay, thì các nước đó sẽ thêm 3,1 tỷ
người cho dân số thế giới.
Ở các nước đang phát triển, vấn đề lựa chọn các biện pháp KHHGÐ, để
làm giảm mức sinh là yếu tố quyết định hàng đầu của việc thực hiện công tác
dân số mà TFR là mục tiêu chủ yếu của chính sách dân số. Trong những năm
1950 TFR ở các nước đang phát triển ước tính 6 trẻ em/ 1 phụ nữ. Sự tăng
trưởng dân số hàng năm khoảng 2,1%/1 năm, sau năm 1950 dưới 1,8% và còn
thấp hơn nữa [24]. Tỷ lệ TFR giảm dần, nhưng dân số hàng năm vẫn tăng lên
8
đối với các nước đang phát triển còn lớn. Trong khi TFR giảm xuống, nhưng
tỷ lệ số con bình quân của phụ nữ vẫn còn cao ở nhiều nước. Ví dụ ở Uganđa
TFR theo tính toán gần đây đạt 6,9 trẻ em/1 phụ nữ, và có 24 quốc gia khác
có TFR sinh khoảng 5 - 5,9 trẻ em/1 phụ nữ. .[17],[19].
Khu vực Ðông Bắc Á và Ðông Nam Á, do thực hiện tốt chính sách dân
số nên một số nước đã thu được nhiều kết quả tốt [19].
Tại Hàn Quốc: Mục tiêu là giảm tỷ lệ gia tăng dân số từ 1,58% (1982)
xuống 1,49% (1986) và đã đạt 0,9% (1990). Trong 20 năm đầu thực hiện
KHHGÐ, mức sinh hàng năm giảm 0,165 con/phụ nữ. 10 năm gần đây mức
sinh mỗi năm giảm 0,1 con/phụ nữ. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh
đẻ áp dụng các BPTT tăng từ 9% (1964) lên 77% (1988) [19].
Tại Trung Quốc: Nếu năm 1950 bình quân mỗi phụ nữ trung bình sinh

Khu vực các nước đang phát triển, tỷ lệ chấp nhận tránh thai và tình hình
sử dụng biện pháp tránh thai cũng khác nhau một cách đáng kể. Tổng tỷ lệ sử
dụng cao nhất là ở Ðông Á (Kể cả Trung Quốc) và Mỹ La tinh, thấp nhất là ở
Nam Á và Châu Phi. Ðông Á tin cậy rất nhiều vào triệt sản nữ, triệt sản nam
và DCTC. Ở Mỹ La tinh người ta lại tập trung vào triệt sản nữ và thuốc uống
tránh thai mà hầu như không dùng triệt sản nam. Những khác biệt trong mô
hình sử dụng biện pháp giữa các khu vực có thể là do những yếu tố khách
hàng, như sự ưa chuộng vì lý do văn hoá, phong tục, tôn giáo…Ví dụ: Tại
nhiều khu vực, tỷ lệ chấp nhận thấp trong sử dụng BCS và biện pháp thắt ống
dẫn tinh có thể phần nào là hậu quả của định kiến văn hoá đối với các biện
pháp dùng cho nam giới [12].
10
1.4.3. Tình hình sử dụng BPTT ở Việt Nam
Ở Việt Nam tỷ lệ sử dụng các BPTT rất cao và tăng lên trong khoảng
thời gian 1988 - 1997. Có khoảng 60% phụ nữ có chồng trả lời đã từng sử
dụng 1 BPTT nào đó trong năm 1988, và tỷ trọng này tăng lên đến 73% năm
1994 và 82% năm 1997. Tỷ lệ phụ nữ có chồng đang sử dụng BPTT tăng từ
53% năm 1988 lên 65% năm 1994, 75% năm 1997 và 80,2% năm 2003 [12],
[17].
Cơ cấu sử dụng BPTT ở Việt Nam có 2 đặc điểm: Ưu thế vẫn là vòng
tránh thai (DCTC) trong các BPTT hiện đại, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tính
vòng kinh và xuất tinh ra ngoài còn cao trong các biện pháp. Phương pháp
được sử dụng phổ biến nhất tại thời điểm của cả 3 cuộc điều tra 1988, 1994 và
1997 vẫn là DCTC. Năm 1997 có tới trên một nữa (56%) phụ nữ Việt Nam có
chồng trong độ tuổi sinh đẻ trả lời rằng: họ đã từng sử dụng DCTC một lúc
nào đó trong cuộc đời. Mặc dù những người đã từng sử dụng DCTC tăng
đáng kể giữa điều tra 1994 và 1997 tới 8%, nhưng tỷ lệ đang sử dụng tăng
chậm hơn chỉ có 5%. Phần lớn tăng 12% về sử dụng BPTT hiện đại là kết quả
của việc gia tăng các biện pháp khác không phải là DCTC, đặc biệt là thuốc
uống tránh thai, BCS và triệt sản nữ. Chứng tỏ mô hình sử dụng các biện pháp

vòng kim loại đã được đặt trong tử cung để tránh thai. Sau đó hàng loạt
DCTC hình xoắn, hình còng tròn, hình chữ S, hình móc…Bằng kim loại hoặc
chất dẻo đã được sản xuất và áp dụng, cho đến nay đã có hàng triệu phụ nử
trên thế giới áp dụng biện pháp này được đứng hàng đầu trong tất cả BPTT
hiện đại ở Việt Nam.
Có 2 loại DCTC thường dùng: Loại không có thuốc (Dana,
Lippersloop) và loại có đồng ( Tcu 380-A, Multiload). Sau này còn có DCTC
Tcu- 20 chứa Progesterone để tăng hiệu quả tránh thai.
12
Cơ chế tác dụng: Ngăn chặn sự làm tổ do tạo phản ứng viêm tại chổ,
làm thay đổi chuyển động của vòi tử cung làm ảnh hưởng tới sự di chuyển
của tinh trùng và trứng. DCTC có Progesterone làm teo nội mạc tử cung và
làm dày niêm dịch cổ tử cung.
Hiệu quả tránh thai bằng DCTC rất cao đạt từ 97% đến 99%, DCTC
như phương pháp triệt sản có thể hồi phục được. Thao tác đặt dễ dàng tại các
cơ sở y tế, có tác dụng tránh thai nhiều năm (Tcu 380-A có thời hạn từ 10-12
năm, Multiload có thời hạn 5 năm). Có thể giao hợp không cần chuẩn bị,
không cần tính toán thời điểm không an toàn. Kháng sinh dự phòng không
làm giảm tác dụng sau khi đặt DCTC, không ảnh hưởng chức năng nội tiết
cũng như hệ thống chuyển hóa của cơ thể, không sợ tương tác thuốc. DCTC
không ảnh hưởng đến tiết sữa, có thể tháo ra dễ dàng và dễ có thai trở lai, có
thể đặt sau phá thai hoặc sau khi sinh một vài tháng.
DCTC là một trong các BPTT hiệu quả hàng đầu, theo nghiên cứu của
WHO thì tỷ lệ cộng dồn thất bại BPTT trong năm đầu tiên là 0,14%, trong 5
năm là 0,71%, trong 7 năm là 1,4%.
1.5.2. Thuốc uống tránh thai
Sự phát triển thuốc uống tránh thai là một cuộc cách mạng về y học và
xã hội to lớn của thế kỷ 20. Từ khi tìm ra các Steroid sinh dục vào năm 1954
khi tổng hợp được các loại Progesterone ở dạng uống thì viên thuốc tránh thai
mới ra đời. Năm 1960 thuốc uống tránh thai được FDA Hoa Kỳ công nhận và

thuốc tránh thai khác và có rối loạn kinh nguyệt.
Thuốc tiêm có hiệu quả tránh thai cao 99,6%, tỷ lệ thất bại khi sử dụng
tuyệt đối trong năm đầu là 0.3% , tỷ lệ thất bại khi dùng tương đối trong năm
đầu là 3%.
1.5.4. Thuốc cấy tránh thai
Thuốc có tác dụng dài hạn 3-5 năm, khi cấy dưới da thường là mặt
trong cánh tay trái. Hiện có hai loại thuốc cấy là Levonorgestrel 216mg trong
14
6 nang (Norplanl) hoặc 150mg trong hai nang (Jadelle) và Etonogestrel 68mg
(Implanon) trong 1 nang. Tất cả đều có tác dụng tránh thai cao, năm đầu chỉ
có 0,2% thất bại cho Norplan và 0% cho Implanon. Nếu người dùng thuốc có
trọng lượng trên 60kg thì cần chú ý theo dõi cẩn thận vì tỷ lệ có thai có thể
trên 1% trong 5 năm, tỷ lệ thất bại có thể 3,6% ( Mỹ).
1.5.5. Các dạng thuốc nội tiết tránh thai khác
- Thuốc đặt âm đạo:
Ethinyl Estradiol 15
µ
g và Etonogestrel 120
µ
g ( NuvaRing), mỗi
tháng đặt một lần liên tục trong 3 tuần sau khi sạch kinh.
- Thuốc đặt trong buồng tử cung:
Dùng Silastic gắn vào DCTC hình chử T chứa Levonogestrel. Tác dụng
tránh thai bằng cả hai phương pháp dụng cụ và Progestrogen kéo dài trong 3 năm.
- Thuốc dán ở da:
Miếng dán tránh thai kết hợp có diện tích 20cm
2
, gồm 3 lớp phóng
thích Ethinylestradiol 20
µ

 Các biện pháp tránh thai vĩnh viễn
Biện pháp tránh thai vĩnh viễn (biện pháp tránh thai không hồi phục), là
phương pháp tránh thai bằng phẫu thuật, áp dụng cho cả nam và nữ, đó là các
biện pháp.
1.5.8. Thắt ống dẫn trứng (triệt sản nữ)
Thắt và cắt vòi tử cung là một phẩu thuật làm gián đoạn vòi tử cung,
không cho tinh trùng gặp noản để thụ tinh. Là BPTT vĩnh viễn và an toàn,
thực hiện một lần có tác dụng tránh thai suốt đời, hiệu quả tránh thai cao trên
99%, được chấp nhận rộng rãi. Mổ đình sản đòi hỏi phải có trang thiết bị, thầy
thuốc phải có chuyên môn và kỷ năng nhất định và thực hiện dưới sự gây mê
hoặc gây tê tại chổ. Có thể thực hiện sau sạch kinh, sau nạo phá thai hoặc sau
sinh thường kết hợp với mổ đẻ.
1.5.9. Thắt ống dẫn tinh (triệt sản nam)
Thát và cắt ống dẫn tinh là một phẩu thuật làm gián đoạn ống dẫn tinh để
dẫn đến không có tinh trùng trong mỗi lần xuất tinh. Là BPTT vĩnh viễn ở
nam giới, thực hiện một lần có tác dụng tránh thai suốt đời. Hiệu quả tránh
16
thai rất cao trên 99,5%. Đình sản nam là một phẩu thuật nhỏ nhưng đòi hỏi thầy
thuốc phải được huấn luyện kỷ năng nhất định. Cũng có một số biến chứng do
phẩu thuật như tụ máu, nhiểm trùng và đau bìu. Điều bất tiện là phải chờ 12-15
tuần sau mổ hoặc qua 20 lần xuất tinh mới hoàn toàn hết tinh trùng còn ở đoạn
cuối ống dẫn tinh. Nếu có quan hệ tình dục phải sử dụng bao cao su.
1.6. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC DS-KHHGĐ TẠI VIỆT NAM
Việt Nam từ những năm 1960 các chính sách của Ðảng, Nhà nước ra đời
hướng dẫn thực hiện công tác dân số - KHHGĐ, từ đó công tác dân số đã có
những bước chuyển biến đáng kể. Mức sinh giảm nhanh và tiến gần đến mức
sinh thay thế.
Đúng vào thời điểm dân số thế giới đạt tới con số 3 tỷ người và dân số
Việt Nam vượt qua con số 30 triệu người, Chính phủ Việt nam đã ban hành
Quyết định số 216/12/1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn, với mục đích: “ Vì

quả to lớn góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh và phát triển kinh tế - xã
hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Ở miền Bắc tỷ lệ sinh xuất phát điểm rất cao là 43,9%o năm 1960 và
giảm xuống còn 32,2%o năm 1975, bình quân mỗi năm giảm được 0,71%o.
Trong khi năm 1976 tỷ lệ tăng dân số còn rất cao là 3,2%. Ðến năm 1985 tỷ lệ
sinh của cả nước là 31 %o và duy trì mức này cho đến năm 1992. Sau khi
thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII, tỷ lệ sinh giảm rất nhanh và
liên tục giảm qua các năm, xuống còn 25,3%o năm 1994; 21,9%o năm 1997;
19,9%o năm 1999 và còn 19%o vào năm 2002. Số con trung bình của một
phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm từ 3,8 con/ 1 phụ nữ năm 1989, 2,3 con
năm 1999, xuống còn 2,28 con 2002.
Trong những đánh giá về vấn đề DS - KHHGĐ đã nhận định: Tỷ lệ sinh
con thứ 3 trở lên mặc dù đã có sự giảm dần nhưng chưa ổn định chiếm
18
khoảng 22% số sinh ( theo điều tra năm 2002); (1993: 45,7%; 1994: 37,1%;
1995; 37,7%, 1996: 29,5%; 1997: 31,67%, năm 2002 là 21,73%). Tỷ lệ này
cũng không đồng đều giữa các vùng trong cả nước, vùng đồng bằng sông
Hồng tỷ lệ sinh con thứ 3 thấp (khoảng 16% , còn các vùng khác tỷ lệ này
tương đối cao. Khu vực nông thôn cao gần gấp đôi khu vực thành thị ( 24% so
với 13%) Thậm chí vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung tỷ lệ sinh
con thứ 3 trở lên chiếm đến gần 50%.
Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng BPTT tăng lên hàng năm, đáng kể nhất
là những năm 90 trở lại đây. Từ 53% năm 1988 lên 65% năm 1994, 70,3%
năm 1997 và 73,5% năm 2002, tỷ lệ sử dụng các BPTT tăng vượt mức so với
chỉ tiêu phấn đấu là 2% mỗi năm, do đó đã làm giảm nhanh mức sinh.
Cơ cấu sử dụng biện pháp tránh thai có sự thay đổi đáng kể theo chiều
hướng đa dạng hoá, nếu như năm 1988 tỷ lệ sử dụng dụng cụ tử cung chiếm
tỷ trọng tuyệt đối là 62,4% đã giảm xuống còn 61,6% năm 1998 và 56,5%
năm 2002. Biện pháp uống thuốc tránh thai tăng nhanh đáng kể chiếm 0,8%
trong tổng số các biện pháp tránh thai năm 1988 lên 10,5% năm 2002, bao

gia đình [11].
Việc triển khai công tác Dân số - KHHGĐ trong những năm qua; Quảng
Trị là một trong những tỉnh được đánh giá là có nhiều cố gắng trong việc tổ
chức thực hiện Chiến lược Dân số giai đoạn 2001 – 2010. Công tác chăm sóc
sức khoẻ sinh sản đã được triển khai rộng khắp và được sự quan tâm của các
cấp chính quyền, các tổ chức quần chúng và của cộng đồng [11].
Đảng và Nhà nước luôn coi trọng chính sách và chiến lược phát triển con
người, các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình được mở rộng với chất lượng ngày
càng cao. Quảng Trị đã đạt được những kết quả đáng kích lệ: Mức sinh đã
20
giảm nhanh, số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 3,95
con (1991) xuống còn 2,3 con như hiện nay. Mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3
vẫn còn cao. Năm 2008 (tỷ suất sinh là 10,85
0
/
00
, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên
là 22,82 %). Năm 2009 (tỷ suất sinh là 10,2
0
/
00
, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là
21,51 %). Năm 2010 (tỷ suất sinh là 10,05
0
/
00
, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là
19,60 %).
Tỷ lệ sinh con thứ 3 hàng năm giảm từ 1-2%, nhưng vẫn còn cao so với
các tỉnh khác trong cả nước.Với phương châm đa dạng hoá các biện pháp tránh

13 077người, phụ nữ 15 - 49 có chồng 7 129 người. Số đẻ năm 2010 là 580 trẻ [13].
Triển khai Chỉ thị 06/CT-TƯ về củng cố hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở
và Quyết định 370/QĐ-BYT về 10 chuẩn quốc gia về công tác Y tế. Kết quả
tính đến hết năm 2010 huyện đã có 8 xã và 1 thị trấn, được cấp bằng công
nhận xã đạt chuẩn Quốc gia về công tác Y tế [13].
Cam Lộ là huyện có tiềm năng, có các trục giao thông chính Quốc gia đi
qua thuận lợi cho phát triển kinh tế hàng hoá. Có khu công nghiệp như: công
ty đá, nhà máy xi măng… Bên cạnh những thuận lợi huyện còn không ít khó
khăn, ngoài những khó khăn chung của cả nước, của tỉnh, đó là cơ sở hạ tầng
còn thấp, nhất là giao thông và thuỷ lợi, hộ nghèo còn cao hơn mặt bằng
chung của tỉnh (20,7%), trình độ dân trí không đồng đều, đặc biệt vùng núi xã
đặc biệt khó khăn thì dân trí thấp, trẻ em bỏ học nhiều. Mức sinh và tỷ lệ sinh
con thứ 3 qua các năm như sau:
Năm 2008 (tỷ suất sinh là 13.64
0
/
00
, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 22.88%).
Năm 2009 (tỷ suất sinh là 16.13
0
/
00
, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 21.15%).
Năm 2010 (tỷ suất sinh là 10.19
0
/
00
, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 19.83%).
Qua số liệu trên cho ta thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 của huyện vẫn còn cao
so với toàn tỉnh cũng như nhiều vùng trong cả nước [13].

Thuốc uống tránh thai 700 730 104,3
Bao cao su 1200 1073 89,4
Tổng các biện pháp
2750 2771
100,76
Công tác DS/KHHGĐ trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ.
Các chỉ tiêu KHHGĐ đạt và vượt kế hoạch được giao. Tuy nhiên chúng ta
không phải chỉ dừng chân tại đó mà phải cần làm tốt hơn nữa và chú trọng
vào các đối tượng đích lúc đó mới duy trì được tỷ lệ sinh bền vững.
23
1.9. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC DS - KHHGĐ TẠI XÃ
CAM NGHĨA, HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUÃNG TRỊ
Cam Nghĩa là một xã miền núi thuộc huyện Cam Lộ, cách trung tâm
huyện Cam Lộ khoảng 15 km, nằm về phía tây Tây Nam của huyện. Phía
Đông giáp với Xã Cam Chính, phía Tây Bắc giáp với xã Cam Thành, phía
Tây Nam giáp với rừng tự nhiên của huyện Đakrong. Địa bàn xã trải dài trên
10km với diện tích 5 549 ha chia thành 14 thôn. Địa bàn tương đối rộng, địa
hình khá phức tạp, giao thông đi lại ở một số thôn đang còn khó khăn. Đời
sống vật chất tinh thần của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Toàn xã 1354 hộ với dân số là 5745 khẩu, phụ nữ 15- 49 là 1383 người,
phụ nữ 15 – 49 có chồng 863 người trẻ em dưới 5 tuổi 335, trẻ em dưới 2 tuổi
132, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 0,68 %. Cộng đồng dân cư chủ yếu là
người kinh, khoảng 90% dân số lao động sống bằng nông nghiệp và trồng cây
công nghiệp, 10% dân số sống bằng các ngành nghề khác như cán bộ công
chức, buôn bán, nghề làm gổ…Đời sống nhân dân đang còn gặp nhiều khó
khăn, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 khoảng 5000000đ/ người /
năm. Tỷ lệ hộ khá 35%, hộ trung bình 50% còn lại hộ nghèo chiếm 15%.
Trình độ dân trí đang còn thấp, một số nơi còn có phong tục lạc hậu, tư tưởng
trọng nam khinh nữ đang còn phổ biến trong nhân dân.
Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã tạm ổn định, tỷ lệ các hộ gia đình sử

00
, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 35,7%).
Năm 2010 (tỷ suất sinh là 9,2
0
/
00
, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 32 %).
Với tỷ suất sinh thấp và giảm từ 1-2%, nhưng tỷ lệ sinh con thứ 3 vẫn
còn cao so với các xã ở trong huyện và cao so với Huyện và Tỉnh. Đòi hỏi các
cấp Uỷ Đảng chính quyền phải tăng cường hơn nữa tập trung lãnh đạo chỉ
đạo, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt sinh đẻ có kế hoạch để đạt
được mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và kế hoạch hóa gia đình của
địa phương, nhằm hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số và hạ thấp tỷ lệ sinh con thứ
ba [17].
Việc triển khai tổ chức thực hiện các biện pháp tránh thai đến tận các
cặp vợ chồng trong những năm qua của xã đã được đánh giá là có nhiều cố
gắng trong việc tổ chức thực hiện Chiến lược Dân số- KHHGĐ giai đoạn
2001 – 2010. Công tác tổ chức thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại đã
25

Trích đoạn Yếu tố liên quan đến kết quả thực hiện các BPTT-KHHGĐ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status