Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương và vận dụng với lạm phát ở Việt Nam - 6 - Pdf 19

Nếu kiểm soát được lạm phát, thâm hụt ngân sách không đáng kể, thì khối lượng cung
ứng tiền tệ phụ thuộc vào tổng cầu tiền tệ (mức đầu tư), mức tiết kiệm quốc nội.
NHTƯ phải xác định được khối lượng tiền phải cung ứng cho mỗi thời kỳ để từ đó sử
dụng công cụ như lãi suất chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết khối lượng
tiền tệ lưu thông.
Vậy trong trường hợp chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát, chính sách tài chính
nhằm duy trì ngân sách cân bằng có thể tác dụng ngược với chính sách tiền tệ qua việc
có thể làm vật giá. Trái lại, trong trường hợp chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái,
chính sách tài chính nhằm duy trì ngân sách cân bằng có thể có tác dụng chống suy
thoái một phần nào qua việc làm tăng sức tiêu thụ.
Dẫu sao tác dụng của một ngân sách cân bằng không mạnh mẽ lắm so với tác dụng của
một ngân sách không cân bằng.
Ngân sách không cân bằng có thể là ngân sách thiếu hụt, có thể là ngân sách thặng dư.
2. Trường hợp ngân sách thiếu hụt.
Đây là trường hợp thu của ngân sách không đủ bù chi. Sai biệt giữa chi và thu tác động
khác nhau đến nền kinh tế, tuỳ theo cách tài trợ số sai biệt đó. Các nước trên thế giới
đã dùng 4 cách sau đây để tài trợ thiếu hụt ngân sách: vay ở dân cư, vay ở hệ thống tín
dụng và thị trường trong nước, vay ở NHTƯ và vay ở nước ngoài.
Theo phúc trình về phát triển kinh tế thế giới năm 1989 của ngân hàng thế giới, cuộc
nghiên cứu hai nhóm nước (nhóm 24 nước đang phát triển và nhóm 11 nước có thu
nhập cao) từ năm 1975 đến năm 1985, cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa các cách tài
trợ sai biệt chi - thu ngân sách: ở nhóm nước đang phát triển: 46,7% số sai biệt đó
được tài trợ bằng cách vay ở NHTƯ, 38,3% vay của nước ngoài, 8,3% vay của dân cư
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
và 6,7% vay ở NHTƯ, 9,7% vay của nước ngoài, 56% vay của dân cư và 22,7% vay
của ngân hàng.
Về phương diện tác động trên khối tiền tệ, vay của NHTƯ và vay của nước ngoài (nếu
vay bằng ngoại tệ) có tác dụng làm tăng khối tiền tệ mạnh hơn vay của dân cư và vay
của ngân hàng trong nước. Đó là một trong những lý do làm áp lực lạm phát tại các
nước đang phát triển tăng mạnh hơn so với áp lực tại các nước có thu nhập cao. Tỷ lệ
lạm phát trung bình ở nhóm nước đang phát triển đã tăng từ 10% một năm trung bình

rộng, và do vậy mọi hoạt động của Ngân hàng trung ương đều ảnh hưởng mật thiết
đến mức "Cung ứng tiền " (money supply) trong nền kinh tế, ảnh hưởng sâu sắc đến
nền kinh tế quốc gia. Từ đó , có thể thấy rằng, bất cứ hành vi nào về thay đổi cung ứng
tiền của Ngân hàng Trung ương đều có mục tiêu của nó. Định lượng được cung ứng
tiền là đã xác định được phương hướng chính sach của Ngân hàng Trung ương.
Logic quan hệ trên đã làm co ngân hàng Trung ương từ sau Thế chiến thứ II và đặc
biệt là từ cuối thạp niên 60 trở đi biến thành một thiết chế rất quan trọng trong việc tạo
ra những tác động có chủ đích nhằm định hướngvà điều tiết nền kinh tế. Nhưng mãi
đến những năm 80 điều này mới được nhìn nhận chính thưc ở hầu hết các nước trên
thế giới. Ngân hàng trung ương được xácđịnh là một định chế công cộng trong quản lý
và điều hành lưu thông tiền tệ với nhiệm vụ chủ yếu về mặt ngắn hạn là ổn định giá cả
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
và tổng cầu, về mặt trung gian là góp phần ảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng thực tế
với giá cả, lạm phát thấp một cách ổn định và bền vững. Ngày ny người ta gọi đó
là"vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô " của ngân hàng Trung ương. Đối với Ngân hàng
Trung ương, điều tiết kinh tế có nghĩa là "điều tiết cung ứng tiền " (money supply
regulation). Bởi vì khối lượng cung ứng tiền vào mỗi thời kỳ tác động mộtcách cực kỳ
quan trọngm, toàn diện đến sản xuất, trao ổi và thu nhập trong nền kinh tế.
Để điều tiết cung ứng tiền, tác độgn đến lãi suất, dự trữ và tỷ giá Ngân hàng Trung
ương thiết kế chính sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ được thiết kế và khởi động từ Ngân
hàng Trung ương lan ra đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây
chuyền của hệ thống ngân hàng trung gian và các tổ chức tài chính trong nước. Tất cả
các Ngân hàng Trung ương của các quốc giá trên thế giới đều có những mục tiêu khá
giống nhau trong việc thiết kế chính sách tiền tệ và điều tiết cung ứng tiền. Trên đại
thể. Mục tiêu của chích sách tiền tệ và điều tiết của Ngân hàng Trung ương có thể qui
về các nhóm sau đây:
a. Phục vụ cho mục đích bảo đảm nền kinh tế có tăng trưởng thực tế.
Tăng trưởng kinh tế thực tế (real economic growth) là phần tăng trưởng có được lớn
hơn không (>0) sau khí lấy phần tăng trưởng danh nghĩa trừ đi phần tăng giá trogn
tăng trưởng, đồng nghĩa với việc giải quyết các mục tiêu kinh tế khác với các chính

Việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
tài chính và ổn định thị trường ngoại hối. Như vậy chính sách tiền tệ là một chính sách
điều khiển vĩ mô của nền kinh tế. Căn cứ vào những mục tiêu này ngân hàng trung
ương lựa chọn các công cụ can thiệp cần thiết tuỳ từng giai đoạn mà lựa chọn mục tiêu
chính cho mình.
Từ năm 1986 - 1988 trong giai đoạn này nền kinh tế đang ở trạng thái bất ổn định, lạm
phát đạt kỷ lục 3 con số: (siêu lạm phát) làm cho giá trị của đồng tiền giảm sút nghiêm
trọng vì vậy mục tiêu trực tiếp là đem lại giá trị thực của đồng tiền Việt Nam.
Từ năm 1989 - 1991 : trong giai đoạn này tình trạng lạm phát của nền kinh tế đã giảm
nhưng vẫn còn ở mức cao vì vậy mục tiêu chung là giảm thất lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô.
Giai đoạn 1992 - 1995: nền kinh tế đã đi vào chế độ ổn định, lạm phát giảm còn 66%,
vì vậy mục tiêu của nền kinh tế là ổn định kinh tế vĩ mô, quan tâm đến chính sách tiền
tệ và giữ lạm phát ở mức thấp.
Giai đoạn 1996 - 2000: chính sách kinh tế của đất nước chuyển sang mục tiêu tăng
trưởng kinh tế cao. Do đó mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định kinh tế vĩ mô và
đảm bảo sự tăng trưởng cao của nền kinh tế.
Giai đoạn 2001 - 2004 để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao là rất quan trọng
song ổn định tiền tệ lại là mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.

2. Các giai đoạn thực hiện :
a/ giai đoạn 1986-1988 :
Đây là giai đoạn đặc trưng của bền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,tổng cầu luôn
vựơt tổng cung .Do đó tình trạng hàng hoá bị khang hiếm đến mức nghiêm trọng .
Đồng thời do thiếu hụt ngân sách nhà nước đã bành trướng phát hành tiền .Vì vậy nền
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
kinh tế luôn ở trạng thái bất ổn định ,lạm phát đạt kỷ lục ba con số ,tức siêu lạm phát
.Trong vòng xoáy bất ổn định ,lạm phát càng gia tăng thì lòng tin vào đồng tiền ngày
càng giảm sút .Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của nền kinh tế trong giai đoạn khủng

tăng trưởng kinh tế cao đã làm cân bằng tổng cung và tổng cầu về hàng hoá .Việc điều
hành quản lý kinh tế vĩ mô tuy vậy vẫn ở dạng thô .Do vậy nền kinh tế vẫn không
tránh được dao động về lạm phát ,năm 1993 lạm phát dự kiến ở mức 10-13%,thực tế là
5,3%.Bởi vì giữa năm 1993 hàng hoá Trung Quốc tràn sang với giá rẻ . Đồng thời do
bản thân nền kinh tế Việt Nam đang giảm phát đ ến n ă m 1994 th ì t ỷ l ệ l ạm phát
tăng tới 14,4%.
Nói về nguồn thu ngân sách nhà nước,số thu ngân sách tiếp tục tăng , trong
những năm qua mặc dù số thu thuế ngày một tăng nhanh nhưng kinh tế vẫn đạt tốc độ
tăng trưởng tương đối khá ,nguồn thu ngân sách trong những năm qua không những
đáp ứng được yêu cầu chi tiêu thường xuyên mà còn dành ra một phần tích luỹ để chi
đầu tư phát triển và để trả nợ .Kết quả là từ năm 1992-1994 nhà nước không còn phát
hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước .
Trong giai đoạn này có nhiều yếu tố quyết định chiều hướng thuận lợi cho
chính sách tiền tệ .Chính phủ luôn chú trọng ổn định kinh tế vĩ mô ,quan tâm đến
chính sách tiền tệ , đó là các ngân hàng ngoài quy định của ngân hàng nhà nước cho
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
vay với các doanh nghiệp với lãi suất từ 1,8 đến 2,1%tháng thì còn sử dụng chính sách
cho vay theo lãi suất thoả thuận với lãi suất từ 3 đến 3,5%/tháng và giữ lạm phát ở
mức thấp .Pháp lệnh ngân hàng nhà nước ,pháp lệnh ngân hàng thương mại và hợp tác
xã tín dụng đã quy định cơ sở cho việc thành lập hệ thống ngân hàng hai cấp .Ngân
hàng nhà nước đã tập trung vào điều hành chính sách tiền tệ ,chú ý đến cung tiền tệ và
thực hiện chính sách lãi suất thực dương . Từ đó quản lý và tạo môi trường cho các
ngân hàng thương mại quốc doanh , các ngân hàng thương mại cổ phần ,ngân hàng
liên doanh và các tổ chức tín dụng khác hoạt động có lãi theo cơ chế thị trường .
Bên cạnh đó nhà nước đã mở rộng quan hệ đối ngoại và được sự trợ giúp kỹ
thuật của các tổ chức tài chính .Cán cân thanh toán có chiều hướng thuận lợi .
C/giai đoạn 1996-2002 :
Chính sách tiền tệ luôn là công cụ để đạt được các mục tiêu kinh t ế .Do đó nó
phải hướng chiều hướng phát triển của nền kinh t ế giai đoạn 1996-2000.
Khác với giai đoạn 1991-1995 giai đoạn 1996-2000 nền kinh tế bước sang một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status