CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG - Pdf 67

Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậu
BÀI BÁO CÁO NHÓM 6
CHUYÊN ĐỀ 6
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG
TRUNG ƯƠNG
CÁC THÀNH VIÊN:
Họ và tên MSSV:
1.Trần Thị Ngọc Hằng 4061780
2.Cao Thị Cẩm Thi 4061830
3.Trương Trúc Giang 4061777
4.Phan Thị Hồng Nhan 4061810
5.Lê Thị Đề Xa 4074172
6.Nguyễn Văn Vũ An 4066096
7.Triệu Phi Long 4074089
NỘI DUNG BÁO CÁO
Chương 1: Các loại chính sách tiền tệ
Chương 2: Các công cụ của chính sách tiền tệ.Mối quan hệ giữa các
công cụ với nhau
Chương 3: Việc vận dụng các công cụ này vào tình hình thực tế ở Việt
Nam trong thời gian qua và hiện nay
Chương 4: Sự liên quan giữa các chính sách tiền tệ quốc gia với đồng
bản tệ và các đồng tiền khác
Chương 5:Vai trò của Ngoại hối trong việc thực thi chính sách tiền tệ
quốc gia
Chương 6: Tìm hiểu cõ chế điều hành tỷ giá của Trung Quốc hiện nay
1
Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậu
CHƯƠNG 1
CÁC LOẠI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.Chính sách tài chính:
Chính sách tài chính (chính sách tài khóa) trong kinh tế học vĩ mô là chính

Mục tiêu tiền tệ là một hệ thống các mục tiêu về phương diện tiền tệ, cần đạt
được đó là:
- Điều hòa khối tiền tệ: là giữ vững mối quan hệ cân đối giữa tiền và hàng.
Nguyên tắc chung để đạt được mục tiêu này là giữ nguyên, tăng hay giảm khối
tiền tệ tùy theo tình hình các nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái.
- Kiểm soát tổng số thanh toán bằng tiền: việc kiểm soát giá cả thiếu cơ sở vững
chắc vì ngoài yếu tố khối tiền tệ (M) còn có yếu tố tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tác
động đến vật giá. Bởi vậy cần thiết phải kiểm soát tổng số thanh toán hay tổng số
lượng tiền tệ dùng để chi trả trong các cuộc giao dịch và trong một khoảng thời
gian nhất định.
- Bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền: Chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục tiêu
ổn định giá nói chung. Sự gia tăng hay sụt giảm quá mức của vật giá điều có tác
hại đến sự ổn định giá trị quốc nội của đồng tiền và là biểu hiện của sự thăng trầm
kinh tế.
- Ổn định giá trị quốc ngoại của đồng tiền: Sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng
đến sức mua của đông tiền, từ đó tác động ít hay nhiều đến hoạt động của nền kinh
tế tùy theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tế đó.
2.3.2. Mục tiêu kinh tế:
• Tăng trưởng kinh tế: sự tăng trưởng kinh tế thông qua hai yếu tố: lãi suất và số
cầu tổng quát. Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có tác động mạnh đến lãi suất và số
cầu tổng quát, từ đó tác động đến sự gia tăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác
động lên tổng sản lượng quốc gia, tức là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh
tế. Bởi vậy chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế thông
qua việc tăng hay giảm khối tiền tệ thích hợp.
• Giảm thiểu những thăng trầm chu kỳ kinh tế:
+ Mở rộng khối tiền tệ trong giai đoạn suy thoái để sớm chuyển sang giai đoạn
phát triển.
+ Điều tiết khối tiền tệ để đảm bảo vừa chống lạm phát vừa không xảy ra tình
trạng ngưng trệ.
3

• Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối
với các Ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương
mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho
Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
- Ưu điểm: các khoản vay của ngân hàng trung ương đảm bảo thu về được.
- Nhược điểm: việc vay hay không vay phụ thuộc vào các ngân hàng thương mại.
• Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu
hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toan (cho
vay) của các Ngân hàng thương mại.
- Ưu điểm: NHTW nắm được khối lượng tín dụng mà các NHTM và các tổ chức
tín dụng khác cung cấp và có khả năng cung cấp cho nền kinh tế do đó NHTW có
thể tác động trực tiếp đến khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ dự
trữ bắt buộc.
- Nhược điểm: Hạn chế khả năng sinh lời của đồng tiền.
• Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua
bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có
giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó
tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến
làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
- Ưu điểm: NHTW tác động trực tiếp đến dự trữ của các NHTM, buộc các NHTM
phải gia tăng hay giảm khối lượng tín dụng.
- Nhược điểm: Biện pháp này chỉ thực hiện được trong điều kiện các khoản tiền
trong lưu thông đều nằm tại các NHTM.
• Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện
chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay
giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản
xuất.Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách
5
Chuyờn tin t Ngõn hng GVHD:Lờ Long Hu
v gii phỏp c th ca Ngõn hng Trung ng nhm iu tit lói sut trờn th

6
Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậu
2. Mối quan hệ giữa các công cụ của chính sách tiền tệ:
Để hiểu rõ mối quan hệ này ta xem xét trường hợp Ngân hàng trung ương thực
hiện chính sách Thắt chặt tiền tệ để giảm lượng tiền nội tệ đang lưu thông và ta giả
sử NHTW thực hiện tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc khi đó lãi suất huy động của Ngân
hàng tăng lên, như vậy người dân sẽ có xu hướng đi gởi tiền tiết kiệm ở Ngân
hàng thay vì đầu tư vào trái phiếu hay tín phiếu. Mặt khác, theo diễn biến đó lượng
tiền mặt ngoài lưu thông sẽ giảm đi tạo áp lực tăng giá đồng nội tệ và làm tỷ giá
hối đoái giảm.
VD: Trong năm 2007, mục tiêu duy trì mức giảm giá đồng tiền một vài phần
trăm, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu trở nên khó khăn hơn khi mà lượng
ngoại tệ chảy vào Việt Nam gia tăng mạnh mẽ do sự bùng nổ của thị trường chứng
khoán và các dòng vốn khác được khai thông tốt hơn.
Đồng Việt Nam không những không giảm mà còn có dấu hiệu tăng giá so với
đồng Đôla, gây bất lợi cho xuất khẩu. Thêm vào đó, nhập khẩu trong quí 1 lại tăng
đột biến (cho dù chủ yếu là nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu cho sản
xuất) đã làm cho thâm hụt cán cân ngoại thương trở nên trầm trọng hơn.
Đứng trước áp lực nêu trên, cộng với việc mong muốn gia tăng số lượng ngoại
tệ dự trữ phòng khi bất trắc xảy ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tung tiền
đồng để mua vào một lượng lớn ngoại tệ mà theo ước tính của Ngân hàng Thế
giới, chỉ trong quí 1, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng khoảng 3 tỉ Đôla, tương
đương với gần 50.000 tỉ đồng được đưa vào lưu thông.
Có lẽ nhờ việc mua vào ngoại tệ mà trong những ngày đầu tháng 6/2007, tỷ giá
đồng Việt Nam so với đồng Đôla đã tăng trở lại lên mức trên 16.100, thay vì chỉ
quanh con số 16.000 như thời gian trước. Việc gia tăng ngoại tệ cho dự trữ quốc
gia là điều cần thiết, nhưng việc bơm thêm một lượng lớn tiền đồng vào nền kinh
tế sẽ làm áp lực lạm phát gia tăng, khi mà mới năm tháng đầu năm chỉ số giá tiêu
dùng trong nước đã tăng 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái (WB 2007).
Điều này làm cho mục tiêu khống chế mức tăng giá trong năm 2007 ở con số

hiệu phù hợp nhất, lãi suất này không chỉ chịu sự chi phối của cung cầu vốn mà
còn chịu ảnh hưởng, tác động của lãi suất chỉ đạo phát ra từ NHNN: lãi suất tái cấp
vốn, lãi suất chiết khấu. Lãi suất thị trường liên ngân hàng đặc biệt phát huy tác
dụng trong điều kiện khó khăn về thanh khoản của các NHTM.
 Thay đổi quan điểm về chi phí phải trả cho việc điều hành chính sách
tiền tệ. Để đạt được mục tiêu đặt ra kể cả mục tiêu của chính sách tiền tệ trong
từng thời kỳ đều có những cái giá phải trả - đó là những chi phí, những tốn kém
cần thiết. Không thể đơn giản cho rằng dự trữ bắt buộc thì không phải trả lãi suất
8
Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậu
hay mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở thì nhất thiết phải có chênh lệch (lợi
nhuận)... Việc điều chỉnh tăng lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thời gian gần đây
cũng là sự thay đổi đáng kể về quan điểm. Còn đối với công cụ thị trường mở, khi
thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thị trường này cũng chính là lúc NHNN
thực hiện việc sử dụng công cụ thị trường mở để đạt mục tiêu của chính sách tiền
tệ chứ không phải để kinh doanh, vì thế, trong nhiều tình thế bắt buộc, NHNN phải
sử dụng cơ chế giá để điều tiết bằng cách đặt giá cao lên để mua cho được - nếu
muốn phát hành tiền vào lưu thông và ngược lại, định giá thấp xuống để bán cho
được - nếu muốn hút tiền từ lưu thông về. Như vậy, mặc dù là người định giá
nhưng có lúc NHNN cũng vẫn phải mua giá cao và bán giá thấp - đó là một loại
chi phí buộc phải trả.
 Ngoại tệ mua vào cần phải được sử dụng có hiệu quả. Ngoại tệ cần phải
được tập trung vào tay Nhà nước để sử dụng hiệu quả cho những nhu cầu chính
đáng của quốc gia và hạn chế tình trạng đôla hoá nền kinh tế, cho nên dù không
hành chính hoá vấn đề này, song, nếu doanh nghiệp, cá nhân nào có nhu cầu bán
ngoại tệ là ngân hàng không được từ chối. Tất nhiên, NHTM thì mua của doanh
nghiệp, của dân; NHNN thì mua lại của các NHTM. Việc làm đó đồng nghĩa với
phát hành tiền vào lưu thông, vấn đề sẽ trở nên bình thường nếu như nguồn ngoại
tệ được sử dụng một cách có hiệu quả, tạo ra nguồn hàng đảm bảo sự cân đối với
số lượng VND đã phát ra. Vì thế, một mặt, khi phát hành tiền đồng mua ngoại tệ

đến khi hai thị trường này bị thắt lại, lượng tiền thừa thực sự phát huy tác dụng -
nếu không lạm phát mới là hiện tượng lạ (thị trường bất động sản bắt đầu phát
triển từ những năm 1997, 1998 và mạnh mẽ nhất vào năm 2007. Còn thị trường
chứng khoán mới có sức hút tiền trong khoảng 3 năm gần đây).
Biều đồ: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004
bằng 100%, cung tiền đo bằng M2
10
Chuyên đề tiền tệ Ngân hàng GVHD:Lê Long Hậu

Nguồn: Website của NHNN
Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi (tính từ đầu năm 2005 cho đến hết
tháng 6/2007), GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền lên đến 110%.
Trong cùng một khoảng thời gian, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức
cung tiền chỉ tăng 50%. Chênh lệch này ở Thái Lan hầu như không đáng kể.
Hai quý đầu của năm 2008: cùng với những bất ổn trên thị trường tài
chính thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp. Giá
cả tăng cao, cộng với sự dồn tích khá lâu về lượng tiền thừa đã làm cho thị trường
hàng hoá Việt Nam có hiện tượng “bốc hoả” về giá.. So với tháng 12 năm 2007,
giá tiêu dùng tăng 17,18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại đây. Trong đó
đáng quan tâm nhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm: lương thực tăng
59,44%, thực phẩm tăng 21,83%, đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình quân 6
tháng đầu năm lên mức 2,86%/tháng. Đến cuối tháng 6, chỉ số lạm phát tuy có
tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao nhất so với tháng 6 của nhiều năm trước
(2,14%).
Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc
và thị trường mở được sử dụng đồng thời cùng với những quy định siết chặt thị
trường chứng khoán, thị trường bất động sản… đã tác động mạnh đến thị trường.
Và phản ứng của thị trường cũng thật mạnh mẽ: các hoạt động cho vay gần như co
cụm lại, lãi suất tăng vọt, luồng tiền gửi trở nên bất ổn, thị trường bất động sản
đang ở trong cơn sốt bỗng đóng băng và trở nên lạnh giá, thị trường vàng như con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status