Mạng BAYESIAN BELIEF NETWORKS (BBNs) một số ứng dựng trong quản lý xây dựng - Pdf 19

MẠNG BAYESIAN BELIEF NETWORKS (BBNs)
VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRONG QUẢN LÝ
XÂY DỰNG
KS. NGUYỄN VĂN TUẤN, ThS. LƯU TRƯỜNG VĂN - Trường Đại Học Bách Khoa Tp.HCM
GS. LÊ KIỀU - Trường Đại Học Kiến Trúc Hà Nội
1. GIỚI THIỆU
Bayesian Belief Networks (BBNs) còn
gọi là Bayesian Networks (BNs) hay Belief
Networks (BNs) được phát triễn đầu tiên vào
cuối những năm 1970s ở Đại học Stanford
[1]. BBNs là mô hình đồ thò (graphical
model) thể hiện mối quan hệ nhân – quả
(cause – effect) giữa các biến. BBNs chủ yếu
dựa trên lý thuyết xác suất có điều kiện hay
còn gọi là lý thuyết Bayes (Bayesian theory,
hay Bayes’ theory). Chính vì thế, kỹ thuật này
có tên gọi là Bayesian Belief Networks
(BBNs). BBNs còn là một dạng của biểu đồ
ảnh hưởng (influence diagram), kết hợp hài
hòa giữa lý thuyết xác suất và lý thuyết đồ
thò để giải quyết hai vấn đề quan trọng: tính
không chắc chắn và tính phức tạp, được ứng
dụng rộng rãi trong toán học và kỹ thuật [2].
Sơ đồ 1a, 1b trình bày mô hình minh
họa cho mạng BBNs.
Sơ đồ 1a: Mô hình minh họa mạng BBNs [3]
Sơ đồ 1b: Mô hình minh họa mạng BBNs [3]
Cùng với các lý thuyết khác như lôgic
mờ (Fuzzy Logic), mạng nơron nhân tạo
(Artificial Neural Networks - ANNs), thuật
toán gen (Genitic Algorithrs - GAs)…, BBNs

BP
AP
xABPBAP
=
Trong đó: A và B là hai sự kiện có thể
xảy ra và phụ thuộc với nhau. P(A) là xác
suất của sự kiện A; P(B) là xác suất của sự
kiện B; P(B/A) là xác suất có điều kiện của
B khi biết trước A đã xảy ra; và P(A/B) là
xác suất có điều kiện của A khi biết trước B
đã xảy ra.
2.2. Cấu trúc mạng BBNs
BBNs là mô hình trực tiếp mà mỗi biến
được đại diện bởi một nút (node), mối quan
hệ nhân quả giữa hai biến đó được biểu thò
bằng mũi tên được gọi “edge”. Mũi tên
hướng từ nút nguyên nhân “parent node” đến
nút kết quả “child node”. Nút kết quả phụ
thuộc có điều kiện vào nút nguyên nhân.
Mỗi nút (hay là biến) có một trạng thái
(state) tùy thuộc đặc trưng của biến đó. Cụ
thể, theo sơ đồ 2, nút “tuyết rơi” là nút
nguyên nhân ảnh hưởng đến nút kết quả
“tình trạng con đường” và chúng có những
trạng thái tương ứng [3].
Trong quản lý dự án xây dựng, cấu trúc
BBNs trình bày ở sơ đồ 3 thể hiện ảnh hưởng
của “chủ đầu tư khó khăn về tài chính” đến
“sự chậm trễ tiến độ công trình”.
Sơ đồ 4, 5 thể hiện cấu trúc của mạng

của mạng BBNs trong xây dựng
Sơ đồ 4: Cấu trúc mạng BBNs tổng quát
Bảng 1: CPT của các biến “Road
Conditions” của mạng BBNs theo sơ đồ 2
Tuyết rơi
(Precipitation)
Tình trạng con đường
(Road conditions)
Nút nguyên nhân
(Parent node)
Nút kết quả
(Child node)
Trạng thái (state)
+ Không (none)
+ Nhẹ (light)
+ Nặng (heavy)
Trạng thái (state)
+ Đi qua được (passable)
+ Không qua được
(impassable)
Sơ đồ 2:Cấu trúc đơn giản của BBNs trong tự nhiên[3]
edge
Sơ đồ 5: Mô hình BBNs dùng để đánh giá mức độ rủi ro về tai nạn lao động trên cao [4]
Theo bảng 1, ta thấy: “nếu tuyết rơi
(Precipitation) ở trạng thái nhẹ (Light) thì
khả năng (hay xác suất) để con đường (Road
Conditions) có thể đi qua được (Passable) là
90%; và không thể đi qua được (Impassable)
là 10%” [3].
Trong BBNs, nút mà không có nguyên

của chuyên gia, hoặc từ kết quả của mô hình
khác…
 Sau khi đã lập CPTs, đưa vào phần
mềm để tính toán.
2.6. Ứng dụng phần mềm MSBNX
Xét mô hình ở sơ đồ 1a:
Giả sử ta có các CPTs như sau:
1- CPT của nút “Cloudy”:
Cloudy
True False
0.50 0.50
2- CPT của nút “Spinkler”:
Parent nodes Child node
Cloudy Sprinkler
True False
True
0.10 0.90
Fasle
0.50 0.50
3- CPT của nút “Rain”:
Parent nodes Child node
Cloudy Rain
True False
True
0.80 0.20
Fasle
0.20 0.80
4- CPT của nút “Wet Grass”:
Parent nodes Child node
Sprinkler Rain Wet Grass

việc trên cao ở công trường xây dựng. Tác
giả đã kiểm chứng tính hợp lý của mô hình
bằng những công trình cụ thể ở San
Francisco, California [4].
- Brian S. G. E. Sahely; David M.
Bagley đã chẩn đoán sự xáo trộn trong việc
xử lý nước thải bò ô nhiễm bằng cách áp
dụng mô hình BBNs [1].
- Isabel Milho, Ana Fred, Jorge
Albano, Nuno Baptista, Poulo Sena đã ứng
dụng BBNs để chuẩn đoán bệnh trong y học
[8].
4. KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
BBNs được ứng dụng rộng rãi trong
nhiều lónh vực khác nhau, cho nhiều ngành
khác nhau. Tuy nhiên, trong quản lý xây
dựng, việc ứng dụng BBNs vẫn còn nhiều
hạn chế đối với cả thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng.
BBNs có thể được sử dụng trong quản
lý dự án để dự báo, đánh giá rủi ro về tiến
độ, kinh phí, chất lượng, tai nạn lao động…
trong xây dựng. Bản thân nhóm tác giả cũng
đang thực hiện một đề tài với tựa đề
“Nghiên cứu đònh lượng rủi ro tiến độ xây
dựng bằng mô hình Bayesian Belief
Networks”. Hiện đề tài nói trên đang trong
giai đọan kết thúc, kết quả nghiên cứu sẽ
được công bố trong vài tháng tới
Qua bài báo, nhóm tác giả mong muốn

[6] William Marsh, RADAR Group
Queen Mary, University of London, Mile
End Road, E1 4NS, London, UK.
: “Using Bayesian
Networks to Model Accident Causation in the
UK Railway Industry”.
[7] Neil, M. and Fenton, N. (1996):
“Predicting software quality using Bayesian
Belief Networks” Proceeding of 21
st
Annual
Software Engineering Workshop,
NASA/Goddard Space Flight Center,
December 4-5, 1996.
[8] Isabel Milho, Ana Fred, Jorge
Albano, Nuno Baptista, Poulo Sena: “An
Auxiliary System for Medical Diagnosis
Based on Bayesian Belief Networks”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status