KHÁT QUÁT ĐỊA LÝ TỈNH
SƠN LA
Nếu các bạn tìm trong Wikipedia, google, cổng thông tin điện tử Sơn
La sẽ thấy nhưng rất chung chung, nay mình xin được dùng chút
kiến thức chuyên môn biên tập thêm cho các bạn cùng tìm hiểu, cảm
ơn đã dành thời gian đọc bài này.
Thân ái!
I. KHÁI QUÁT CHUNG
Lịch sử
Phần lớn tỉnh Sơn La ngày nay (gồm thành phố Sơn La, huyện Mộc
Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu) trước năm 1479 là
lãnh thổ của vương quốc Bồn Man (gồm Tương Dương, Kỳ Sơn của
Nghệ An, Quan Hoa, Quan Sơn, Mường Lát của Thanh Hóa, tỉnh Hủa
Phan của Lào và phần lớn Sơn La). Năm 1479 Sơn La chính thức
được sát nhập vào Đại Việt thời vua Lê Thánh Tông và thuộc xứ
Hưng Hóa
24 tháng 5 năm 1886: thành lập châu Sơn La (thuộc phủ Gia Hưng,
tỉnh Hưng Hoá), tách từ tỉnh Hưng Hóa thành cấp tương đương với
tỉnh.
9 tháng 9 năm 1891 thuộc Đạo Quan binh 4.
27 tháng 2 năm 1892: thành lập tiểu quân khu Vạn Bú gồm 2 phủ và
8 châu. 10 tháng 10 năm 1895: thành lập tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ ở Vạn
Bú (tức Tạ Bú).
23 tháng 8 năm 1904: đổi tên thành tỉnh Sơn La, tỉnh lỵ chuyển về
nơi ngày nay là thành phố Sơn La.
xã
II. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-TÀI NGUYÊN THIÊN
NHIÊN
1.Vị trí địa lí
Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía tây bắc Việt Nam trong
khoảng 20039’ – 22002’ vĩ độ Bắc và 103011’ – 105002’ kinh độ
Đông.
Ranh giới:
Phía Bắc giáp 2 tỉnh Yên Bái, Lào Cai.
Phía Đông giáp Hoà Bình, Phú Thọ.
Phía Tây giáp hai tỉnh Lai Châu, Điện Biên.
Phía Nam giáp Thanh Hoá.
Sơn La có 250km đường biên giới với nước bạn Lào
Với vị trí địa lý như vậy, Sơn La có một vị trí quan trọng cả về kinh
tế, xã hội, an ninh và quốc phòng. Cùng với Hòa Bình, Điện Biên và
Lai Châu, Sơn La còn được coi là mái nhà xanh của đồng bằng Bắc
Bộ.
2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Sơn La có độ cao trung bình 600 – 700 m so với mực nước biển. Địa
hình của tỉnh Sơn La chia cắt tạo thành 3 vùng sinh thái: Vùng trục
quốc lộ 6, Vùng hồ sông Đà và Vùng cao biên giới. Hai cao nguyên
sản xuất nông nghiệp của tình. Sương muối, mưa đá, lũ quét là yếu tố
bất lợi.
3. Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất
Tỉnh Sơn La có tổng diện tích tự nhiên là 1.40.5500 ha, trong đó
39,08% (549.273 ha) đang được sử dụng. Đất đai màu mỡ, tầng
canh tác dày với nhiều loại thổ nhưỡng khác nhau cho phép phát
triển nhiều loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao.
Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối là 856.227 ha, chiếm
60,92% diện tích tự nhiên, trong đó có 734.018,29 ha phân bổ ở độ
cao cần được phủ xanh bằng việc trồng cây rừng, cây ăn quả và cây
công nghiệp dài ngày.
Quỹ đất nông nghiệp rất hạn chế. Diện tích bình quân đầu người là
0,2 ha, trong đó quỹ đất dành cho sản xuất cây lương thực là 0,16 ha.
Quỹ đất để phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, cây
ăn quả là 23.520 ha. Quỹ đất để phát triển đồng cỏ phục vụ chăn
nuôi là 1.167 ha.
Quỹ đất có mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản là 1.627 ha, song chưa
được khai thác triệt để, và chỉ có 991 ha (60,9%) được đưa vào sử
dụng . Nếu công trình thuỷ điện Sơn La hoàn thành, ước tính sẽ có
thêm 25.000 ha mặt nước hồ cho phát triển nuôi trồng và khai thác
thuỷ sản.
Tài nguyên nước
Bên cạnh diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, Sơn La còn
340.000 ha rừng sản xuất, trong đó diện tích rừng mới là 72.900 ha,
trên 26.700 ha đất rừng cần được trồng, khoanh nuôi phục hồi theo
hướng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến giấy các tông
bao bì, bột giấy, gỗ xuất khẩu. Đây là một thế mạnh để phát triển
kinh tế – xã hội của Sơn La.
Theo số liệu điều tra, rừng tự nhiên của Sơn La có trữ lượng gần
87,053 triệu m3 và 554,9 triệu cây tre nứa. Rừng trồng có trữ lượng
là 154,0 nghìn m3 gỗ và 221 nghìn cây tre nứa.
Tài nguyên khoáng sản
Sơn La có nhiều loại khoáng sản khác nhau, nhưng chủ yếu là mỏ
nhỏ, phân bổ rải rác trên khắp địa bàn tỉnh, điều kiện khai thác
không thuận lợi.
Toàn tỉnh có trên 150 mỏ và điểm khoáng sản. Trong đó có những
mỏ khoáng sản quý như: niken, đồng Bản Phúc – Mường Khoa (Bắc
Yên); bu tan Tà Phù (Mộc Châu); manhêzit Bản Phúng (Sông Mã);
than Suối Bàng (Mộc Châu), than Quỳnh Nhai và những khoáng sản
quý khác như vàng, thủy ngân, sắt… có thể khai thác và phát triển
công nghiệp khai khoáng trong tương lai gần.
Đặc biệt nguồn đá vôi, sét, cao lanh trữ lượng lớn, chất lượng tốt cho
phép Sơn La có thể phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng
có lợi thế như xi măng, cát chất lượng cao, đá xây dựng, gạch không
nung, đá ốp lát…
Dưới đây là trữ lượng một số khoáng sản chủ yếu của Sơn La:
rừng đặc dụng có giá trị nghiên cứu khoa học như Sốp Cộp, Xuân
Nha (Mộc Châu), Tà Xùa (Bắc Yên), Co Pia (Thuận Châu).
- Thực vật: Có 161 họ, 645 chi, 1.187 loài, bao gồm cả thực vật hạt
kín, hạt trần, nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Trong đó thực vật quí
hiếm gồm có Pơ Mu, Lát hoa, Đinh hương, Nghiến,
Động vật rừng: có 101 loài thú, trong 25 họ, thuộc 8 bộ; chim có 347
loài, trong 47 họ, thuộc 17 bộ; bò sát có 64 loài, trong 15 họ thuộc 2
bộ, lưỡng thê có 28 loài, trong 5 họ, thuộc một bộ. Những loài động
vật quí hiếm được ghi trong sách đỏ như: voi, khỉ mặt đỏ, gấu ngựa,
gà lôi, báo, hươu, nai. II. DÂN CƯ VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
1. Dân cư
Theo cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, tỉnh Sơn La có
1.080.641 người
Sơn La là một tỉnh lỵ tập trung nhiều sắc dân anh em như người Thái
, H’mong , Mường v.v…( 12 bộ tộc anh em )
Đồng bào Thái đen ở Sơn La chiếm đa số cư dân của tỉnh ( 55 % ) .
Những quận huyện sau đây có nhiều nhiều Thái quần cư ( 70 % ) :
Quỳnh Nhai , Thuận Châu , Mường La , huyện Phù Yên chỉ độ 30 % là
dân Thái mà thôi .
Nhóm Thái đen cư trú khắp nơi trong tỉnh , nhóm Thái trắng chủ yếu
ở Quỳnh Nhai , còn nhóm Thái đỏ ở Mộc Châu và Yên Châu .
đường bộ, đường hàng không và đường biển.
Là một tỉnh miền núi vùng cao, địa hình bị chia cắt mạnh bởi một số
sông, suối, chất lượng đường giao thông thấp nên công tác vận
chuyển hành khách và hàng hoá, đi lại gặp nhiều khó khăn. Giao lưu
kinh tế chủ yếu bằng một số tuyến đường quốc lộ như: quốc lộ 6,
quốc lộ37 các tuyến đường ngang đi một số huyện chỉ thông suốt về
mùa khô. Hệ thống đường giao thông còn thiếu, trên địa bàn toàn
tỉnh hiện nay còn 4/189 xã chưa có đường giao thông.
Hệ thống GTVT đường bộ
Tổng chiều dài mạng: Tổng số đường ô tô đi được trong tỉnh: 3481,3
Km mật độ đường ô tô đạt 0,18 Km/Km2 (không kể đường xã và ngõ
xóm). Nếu chỉ tính riêng đường quốc lộ và đường tỉnh thì mật độ là
0,07 Km/Km2).
* Hệ thống đường bộ: dài 4493,70 Km
- Đường Quốc lộ dài: 577 Km gồm 6 tuyến
Đèo Pha Đin) dài 230 Km.
+ Quốc lộ 6: (Địa phận tỉnh Sơn La Nà Bai
Cò Nòi) dài 108 Km
+ Quốc lộ 37: (Địa phận tỉnh Sơn La Đèo Lũng Lô
Lóng Sập) dài 104 Km.
+ Quốc lộ 43: (Gia Phù
Mường Giàng) dài 32 Km.
+ Quốc lộ 279: (Cáp Na
Mường Cơi (Phù Yên) dài 11 Km.
+ Quốc lộ 32B: Ngả 2 (Thu Cúc) TT. Sông Mã) dài 92 Km.
+ Quốc lộ 4G: (Ngã 3 Chiềng Sinh
thực chỉ đủ dùng trong tỉnh ( phần vì đất đai ,canh tác theo lối cổ
truyền , nguồn nước bất lợi …, lại không được sự chú ý của các cấp
lảnh đạo trung ương ) , nông sản chính của Sơn La là ngô , khoai và
lúa gạo, cùng một số cây dùng trong kỷ nghệ như bông vải dâu tằm,
mía và trà ( trà Tô Múa là loại chè núi nổi tiếng của Sơn La ) .
Riêng hai huyện Mai Sơn và Yên Châu trồng khá nhiều cây ăn trái
như dứa , xoài , chuối , mận ( mận tam hoa , mận hậu ) . Sơn La rất
thích hợp cho việc phát triển chăn nuôi các đàn bò sửa Hoà Lan , trâu
bò và lợn ( lợn Mèo ) …
Rừng Sơn La rất rộng , nhiều cây dược liệu , cây dầu , lát hoa , cánh
kiến , thông , sến , song , mây , trúc tre cùng nhiều dã thú như voi , hổ
, gấu , báo …Đặc biệt rừng có rất nhiều cây Đào , đến mùa hoa nở rất
đẹp , nên Sơn La còn có gọi là xứ Hoa Đào .