KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỈNH
YÊN BÁI Nếu các bạn tìm trong Wikipedia, google, cổng thông tin điện tử Yên
Bái sẽ thấy nhưng rất chung chung, nay mình xin được dùng chút kiến
thức chuyên môn biên tập thêm cho các bạn cùng tìm hiểu, cảm ơn đã
dành thời gian đọc bài này.
Thân ái!
I.KHÁI QUÁT CHUNG
Lịch sử
Từ rất xa xưa Yên Bái đã là một bộ phận của Tổ quốc. Thời các vua
Hùng, Yên Bái thuộc Tân Hưng, thời Lý thuộc Châu Đăng, thời Trần
trong lộ Quy Hóa, thời Lê đến thời Nguyễn nằm trong phủ Quy Hóa,
tỉnh Hưng Hóa.
Vào cuối thế kỷ XIX, sau khi xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp tiến
hành “bình định” nước ta, chúng đặt Yên Bái thuộc các đạo quan binh
(1891 – 1900). Ngày 11- 4 - 1900, thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái
gồm có phủ Trấn Yên, hai châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã tỉnh lỵ đặt
tại làng Yên Bái. Từ năm 1910 – 1920, Pháp chuyển châu Lục Yên (tỉnh
Tuyên Quang) và châu Than Uyên (tỉnh Lai Châu) vào tỉnh Yên Bái. Từ
đó cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, địa dư và các đơn vị hành
chính tỉnh Yên Bái không thay đổi.
Tháng 5 – 1955, các châu Văn Chấn, Than Uyên chuyển thuộc khu tự trị
Thái – Mèo; một phần huyện Than Uyên và các xã Nậm Có, Khau Phạ
(Văn Chấn) được tách ra thành lập châu Mù Cang Chải. Tháng 6 – 1956,
giúp đỡ đạo quân của tướng Trần Nhật Duật chặn đánh quân Nguyên
Mông quyết liệt, làm chậm bước tiến của chúng về kinh thành Thăng
Long.
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX nhân dân các dân tộc Yên Bái đã góp
phần không nhỏ bảo vệ triều Lê, chống họ Mạc cát cứ và sự cướp bóc
của “giặc giã”.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà
Nguyễn từng bước đầu hàng, nước ta trở thành nước thuộc địa nửa
phong kiến. Đầu nmaw 1886, quân Pháp đánh chiếm Yên Bái.
Tổng đốc Hưng Hóa Nguyễn Quang Bích, bố chánh Nguyễn Văn Giáp
phối hợp cùng các lãnh đạo địa phương như Vương Văn Doãn phối hợp
cùng các lãnh đạo địa phương như Vương Văn Doãn, Đặng Đình Tế,
Phạm Thọ, Đặng Tiến Lộc, Đổng Phúc Thịnh tổ chức đánh chặn địch
quyết liệt; xây dựng căn cứ chiến đấu ở Tú Lệ (Văn Chấn), làng Vần
(Trấn Yên) gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Ngày 19-10-1889, nghĩa
quân đánh tan cả đoàn thuyền địch gồm 13 chiếc trên sông Hồng, đoạn
giữa Trái Hút và Bảo Hà.
Từ Năm 1886 đến năm 1898, các hoạt động bất hợp tác với giặc, nhiều
cuộc khởi nghĩa nhỏ liên tục nổ ra khắp các vùng Trấn Yên, Văn Chấn,
Lục Yên, Yên Bình, gây ra cho thực dân Pháp nhiều khó khăn trong việc
thiết lập bộ máy thống trị và kiểm soát các tổng, xã.
Năm 1913-1914, cuộc khởi nghĩa do Triệu Tài Lộc, Triệu Kiến Tiên và
một số thủ lĩnh khác tổ chức được đông đảo người Dao, Tày, Kinh tham
gia, ủng hộ. Từ cơ sở đầu tiên ở tổng Trúc Lâu, phong trào lan rộng
khắp châu Lục Yên, phủ Trấn Yên, phủ Yên Bình với tổng số 1.414
Mùa xuân 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã mở ra một trang sử
mới cho lịch sử cách mạng Việt Nam, tác động mạnh mẽ đến phong trào
yêu nước của nhân dân các dân tộc Yên Bái.
Đầu những năm 40 của thế kỷ XX, những cán bộ cách mạng của Xứ ủy
Bắc Kỳ được cử lên Yên Bái hoạt động và đã xây dựng được một số cơ
sở cách mạng ở huyện Trấn Yên và thị xã Yên Bái. Với truyền thống
yêu nước, tinh thần quật cường chống ngoại xâm của nhân dân các dân
tộc Yên Bái từ tháng 10-1944 đến đầu năm 1945, nhiều cơ sở cách mạng
được xây dựng, phát triển ở các huyện trong tỉnh, các tổ chức cứu quốc
được thành lập, tập hợp hàng ngàn hội viên.
Dau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), khí thế cách mạng của quần
chúng khắp nơi trong tỉnh dâng cao. Để đẩy mạnh phong trào cách mạng
ở Yên Bái, ngày 7-5-1945, Chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở thị
xã Yên Bái.
Ngày 30-6-1945, Xứ ủy Bắc Kỳ đã quyết định thành lập Ban cán sự
Đảng liên tỉnh Yên Bái – Phú Thọ do đồng chí Ngô Minh Loan làm bí
thư. Sự kiện thành lập Ban cán sự Đảng liên tỉnh Yên Bái – Phú Thọ đã
mở ra một bước ngoạt mới cho phong trào đấu tranh cách mạng ở địa
phương.
Cùng với cả nước, từ thân phận của dân tộc đói nghèo, lạc hậu bị áp bức,
nô lệ, cuộc Cách mạng Tháng tám năm 1945 đã thổi bùng lên ngọn lửa
Yêu nước, tinh thần bất khuất, quật cường của đồng bào các dân tộc tỉnh
Yên Bái.
Ngày 22-8-1945, tại vườn hoa tỉnh lỵ Yên Bái gần một vạn người về dự
mít tinh đã chừng kiến sự kiện lịch sử quan trọng: Ủy ban nhân dân cách
mạng lâm thời tỉnh Yên Bái được thành lập, tuyên bố xóa bỏ chế độ thực
Trước bộn bề khó khăn cả trong nước và quan hệ quốc tế vào thời điểm
đó, cùng với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trên cả nước, Đảng bộ đã
lãnh đạo nhân dân trong tỉnh từng bước giành được những thành tựu
quan trọng, đẩy lùi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa cách mạng Việt
Nam bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh
(1991) mặc dù phải đối mặt với những khó khăn, thách thức, trước tình
hình thế giới diễn ra phức tạp, cùng với những khó khăn của một tỉnh
miền núi nghèo, kinh tế chậm phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn yếu
kém, trình độ dân trí thấp và không đồng đều, đời sống của nhân dân các
dân tộc còn nhiều khó khăn.
Song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nêu
cao tinh thần đoàn kết, tự lực cánh sinh, huy động tối đa nội lực, kiên
quyết chống lại tư tưởng bảo thủ, ỷ lại, bao cấp, huy động và tranh thủ
mọi nguồn lực để đầu tư phát triển, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao
và vững chắc, lấy công nghiệp và du lịch làm khâu đột phá để thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.
Qua hàng nghìn năm lịch sử, nhân dân các dân tộc Yên Bái đã hun đúc
nên những truyền thống tốt đẹp là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng
đồng sâu sắc, tình đoàn kết dân tộc, đức tính lao động cần cù, sáng tạo.
Đây là những giá trị tinh thần bền vững mà Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã kế
thừa, phát huy cao độ trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng
xã hội chủ nghĩa trên quê hương mình.
Đơn vị hành chính
cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm trên 80%) nằm
trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước
Yên Bái là đầu mối và trung độ của các tuyến giao thông đường bộ,
đường sắt, đường thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là
một lợi thế trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường lớn
trong và ngoài nước.
2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc, có đặc điểm địa hình cao dần từ
Đông Nam lên Tây Bắc và được kiến tạo bởi 3 dãy núi lớn đều có hướng
chạy Tây Bắc – Đông Nam: phía Tây có dãy Hoàng Liên Sơn – Pú
Luông nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, tiếp đến là dãy núi cổ Con
Voi nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy, phía Đông có dãy núi đá
vôi nằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô.
Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành 2 vùng lớn: vùng cao và
vùng thấp. Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56%
diện tích toàn tỉnh. Vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai,
lâm sản, khoáng sản, có khả năng huy động vào phát triển kinh tế - xã
hội. Vùng thấp có độ cao dưới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp,
thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Khí hậu
Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình
là 22 - 230C; lượng mưa trung bình 1.500 – 2.200 mm/năm; độ ẩm trung
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 689.949,05 ha. Trong đó diện
tích nhóm đất nông nghiệp là 549.104,31 ha, chiếm 79,59% diện tích đất
tự nhiên; diện tích nhóm đất phi nông nghiệp là 47.906,46 ha chiếm
6,94%; diện tích đất chưa sử dụng là 92.938,28 ha chiếm 13,47%.
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp thì đất sản xuất nông nghiệp là
77.618,58 ha; đất lâm nghiệp 469.968,24ha; đất nuôi trồng thủy sản
1.420,04ha, còn lại là đất nông nghiệp khác. Trong tổng diện tích đất phi
nông nghiệp thì đất ở 4.482,82 ha; đất chuyên dùng 31.604,98 ha, còn lại
là đất sử dụng vào mục đích khác.
Trong tổng diện tích đất chưa sử dụng thì đất bằng chưa sử dụng là
949,00 ha; đất đồi núi chưa sử dụng là 85.936,52 ha, còn lại là núi đá
không có rừng cây.
Đất Yên Bái chủ yếu là đất xám (chiếm 82,37%), còn lại là đất mùn alít,
đất phù sa, đất glây, đất đỏ…
Tài nguyên rừng
Tính đến tháng 6 năm 2009, diện tích đất có rừng toàn tỉnh Yên Bái đạt
400.284,6 ha, trong đó: rừng tự nhiên 231.901,6 ha, rừng trồng
168.382,7 ha; đạt độ che phủ trên 56%.
Yên Bái có nhiều loại rừng khác nhau như: rừng nhiệt đới, á nhiệt đới,
và núi cao. Trong khu vực rừng á nhiệt đới của tỉnh có nhiều loại cây lá
kim (như: pơmu, thông nàng, thông tre lá lớn, sa mộc, sam mộc) xen lẫn
cây lá rộng thuộc họ sồi dẻ, đỗ quyên.
Ở độ cao trên 2000m, rừng hỗn giao giảm dần, pơmu mọc thành rừng
loại nâu (đồng, chì, kẽm) và kim loại quý (vàng), đất hiếm phân bố chủ
yếu ở hữu ngạn sông Hồng. Nhóm nước khoáng được phân bố chủ yếu ở
vùng phía tây của tỉnh (Văn Chấn, Trạm Tấu), bước đầu được sử dụng
tắm chữa bệnh.
II. DÂN CƯ VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
1.Dân cư và nguồn lao động Theo kết quả tổng hợp sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009,
tổng dân số toàn tỉnh là 752.868 người. Mật độ dân số bình quân năm
2008 là 109 người/km2, tập trung ở một số khu đô thị như thành phố
Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và các thị trấn huyện lỵ.
Theo số liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có tới 30 dân tộc sinh
sống, trong đó có 7 dân tộc có dân số trên 10.000 người. 2 dân tộc có từ
2.000 - 5.000 người, 3 dân tộc có từ 500 -2.000 người. Trong đó người
Kinh chiếm 49,6%, người Tày chiếm 18,58%, người Dao chiếm 10,31%,
người HMông chiếm 8,9% người Thái chiếm 6,7%, người Cao Lan
chiếm 1%, còn lại là các dân tộc khác.
Sự phân bố các cộng đồng dân tộc trên địa bàn tỉnh có những đặc trưng
sau:
+ Vùng thung lũng sông Hồng chiếm 41% dân số toàn tỉnh, trong đó:
người Kinh 43%, người Tày chiếm 33%, người Dao chiếm 10%, người
Hmông chiếm 1,3% so với dân số toàn vùng.
+ Vùng thung lũng sông Chảy chiếm 28% dân số toàn tỉnh. Trong đó
người Kinh chiếm 43%, người Tày chiếm 11%, người Dao chiếm 13%,
người Nùng chiếm 7% so với dân số toàn vùng.
bố tương đối hợp lý so với địa hình, song chưa được hoàn chỉnh, chưa
có đường tiêu chuẩn kỹ thuật cao, phần lớn là đường cấp IV, V, VI,
nhiều tuyến chưa vào cấp, hệ thống giao thông nông thôn chưa thông xe
được 4 mùa, mùa mưa lũ nhiều đoạn đường bị ngập hoặc sạt lở nghiêm
trọng, còn thiếu một số tuyến ngang.
- Quốc lộ: Gồm 4 tuyến với tổng chiều dài 375,5 km. Các công trình
cầu, cống đã được đầu tư xây dựng đồng bộ, đảm bảo giao thông thông
suốt, không còn ách tắc giao thông trong mùa lũ.
+ Quốc lộ 37 dài 99 km (13 km đường cấp III, 86 km đường cấp I).
+ Quốc lộ 70 dài 84 km (6 km đường cấp III, 78 km đường cấp IV).
+ Quốc lộ 32 A dài 175 km (10 km đường cấp III, 150 km đường cấp
IV, 15 km đường cấp V).
+ Quốc lộ 32 C dài 17,5 km (1 km đường cấp III, 16,5 km đường cấp
IV).
- Đường tỉnh: Tổng chiều dài 469 km, gồm 15 tuyến đi qua 66/180 xã
phường. Các tuyến đường tỉnh gồm: Yên Bái – Khe Sang (78,5 km);
Khánh Hòa – Minh Xuân (27 km); Văn Chấn – Trạm Tấu (30 km); Cảng
Hương Lý – Văn Phú (12 km);
Hợp Minh – Mỵ (36 km); Đại Lịch – Minh An (26km); Yên Thế - Vĩnh
Kiên (78 km); An Bình – Lâm Giang (22km); Yên Bái – Văn Tiến (7
km); Cẩm Vân – Mông Sơn (10 km); Mậu A – Tân Nguyên (18 km); 2
đầu cầu Mậu A (1,4 km); Âu Lâu – Quy Mông – Đông An (52 km); An
Thịnh – An Lương (70 km); Đường vào nhà máy xi măng Yên Bình (1
* Đường sắt trên tuyến Hà Nội- Lào Cai- Trung Quốc chạy qua Yên Bái
dài 83 km, gồm 10 ga (1 nhà ga hạng 2; 9 nhà ga hạng 4) chạy qua địa
phận 20 xã, phường, thị trấn.
Các yếu tố địa hình, địa chất thủy văn, hệ thống thông tin tín hiệu lạc
hậu, hệ thống cảnh báo đường ngang không an toàn, khổ đường hẹp (1,1
mét), lạc hậu so với các khu vực. Vận tốc tàu chạy thấp, hệ thống nhà
ga, kho bãi, các dịch vụ còn ở mức thấp.
* Đường hàng không: Sân bay Yên Bái tại huyện Trấn Yên là sân bay
quân sự, đủ điều kiện thuận lợi để có thể sử dụng kết hợp phát triển kinh
tế và quốc phòng nếu được Chính phủ cho phép. Ngoài ra còn có các sân
bay Nghĩa Lộ, Nậm Khắt, Đông Cuông là những sân bay dã chiến từ
thời chống Pháp
Hạ tầng thủy lợi
Toàn tỉnh có 920 công trình thủy lợi, gồm 13 trạm bơm điện, 154 bể
chứa cá, 753 đập dâng và kênh dẫn nước, tưới tiêu cho 15.759 ha. Trong
đó đã có 313 công trình đầu mối đã được kiên cố, 727 công trình tưới
trên 5 ha, 193 công trình tưới dưới 5 ha. Tổng số có 1.670 km kênh dẫn
nước, trong đó mới kiên cố được 73 km, bằng 4,4% và 2.100km kênh
nội đồng, trong đó có 750 km đã kiên cố.
• Hệ thống điện:
Hiện toàn tỉnh có 823 trạm biến áp, trong đó có 1 trạm biến áp 110/35
KV, công suất 45.000KVA; 11 trạm biến áp 35/10 KV, tổng công suất
34.000 KVA; 3 trạm biến áp 35/6 KV, công suất 12.000 KVA; 2 trạm
biến áp 22/6KV, công suất 20.000 KVA; 591 trạm biến áp 35/0,4 KV,
sạch, cung cấp nước cho 50% dân số nông thôn, trong đó có 105 công
trình cấp nước tập trung, còn lại là các công trình nhỏ lẻ. Người dân
nông thôn hiện còn sử dụng các nguồn nước tự nhiên từ sông, ngòi, suối,
nước lần từ các khe núi. Hạ tàng thông tin liên lạc
Hệ thống cơ sở vật chất ngành bưu chính viễn thông liên tục được đầu tư
nâng cấp, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin liên lạc của mọi tổ chức, cá
nhân có nhu cầu, đồng thời phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và phát triển
kinh tế – xã hội của tỉnh. Mạng lưới thông tin nội bộ 100% đã được số
hóa, 9/9 huyện, thị, thành phố có tuyến viba và tổng đài điện tử tự động.
Tính đến hết tháng 5/2009, tổng số thuê bao điện thoại toàn mạng đạt
136.629 thuê bao(trong đó có trên 125.684 thuê bao điện thoại cố định
và 10.941 thuê bao điện thoại di động trả sau), tăng 29.629 thuê bao so
với hết năm 2008. Đưa mật độ thuê bao điện thoại/100 dân đạt
16,75máy/100 dân . Tổng số thuê bao Internet trên địa bàn tỉnh 8.294
thuê bao (tăng 1832 máy so với hết năm 2008), đạt mật độ Internet 1,14
máy/100 dân.
Toàn tỉnh có 204 điểm phục vụ bưu điện (trong đó có 153 điểm Bưu
điện Văn hóa xã). 111 tuyến đường thư cấp 3, và 06 tuyến đường thư
cấp 2, 100% xã có điểm phục vụ bưu điện. Số xã có báo đọc trong ngày
là 154/159 xã.
Hạ tầng giáo dục
Năm học 2008 - 2009: Toàn tỉnh có 593 trường học trong đó có 176