Giá trị tư tưởng thiền học trong "Cư trần lạc đạo phú" của Trúc Lâm đầu đà Trần Nhân tong - Pdf 19

Giá trị tư tưởng thiền học trong
"Cư trần lạc đạo phú" của Trúc Lâm
đầu đà Trần Nhân tong Trong quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Đại Việt, Thiền phái Trúc
Lâm thể hiện đạo lý tình người và tạo ra sức mạnh toàn dân chiến thắng quân thù.
Quan trọng hơn, tư tưởng Thiền phái còn để lại cho hậu thế một giá trị văn hóa giàu
tính triết lý, đạo đức nhân sinh. Một trong những đại biểu khai sáng và định hình tư
tưởng thiền phái Trúc Lâm là Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ông đã
để lại một giá trị tâm linh thiền đạo qua sự nghiệp sáng tác văn chương khá đồ sộ, có
nhiều đóng góp cho văn học trung đại nói chung, văn học Phật giáo Thiền tông nói
riêng.
Việc nghiên cứu tìm hiểu Giá trị tư tưởng Thiền học trong bài “Cư trần lạc đạo
phú” của Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn về
tư tưởng Thiền học được phản ánh qua sinh hoạt Thiền phái và ý thức tự chủ của dân tộc
Đại Việt qua văn hóa, văn học, ngôn ngữ chữ Nôm và những xúc cảm chân thành trước
quê hương, đất nước.
1. Đôi nét về tác giả, tác phẩm
Sách Thơ văn Lý- Trần, tập II ghi nhận ông là “nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc ở
thế kỷ XIII. Ông đã sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm ở Việt Nam, đáp ứng một nhu
cầu sinh hoạt tinh thần của người Việt đương thời, mặt khác cũng nhằm góp phần vào
xây dựng một nước Đại Việt có quy mô bề thế, có văn hoá độc lập, chống lại những
ngoại lai, phi dân tộc”
(1)
.
Sau khi nhường ngôi cho con, Trần Nhân Tông làm Thái thượng hoàng và làm
Tổ Trúc Lâm hoằng pháp độ sinh. Điều này được sách Tam Tổ thực lục ghi lại: “Điều

đạo ca. Hơn nữa, khi lập bản mục lục các kinh sách Phật giáo trong Đạo giáo nguyên
lưu (Quyển thượng, tờ 5a), An Thiên có ghi tên tác phẩm Trần triều thập hội lục. Rõ
ràng, Thập hội lục của triều Trần chính là 10 hội của Cư trần lạc đạo phú.
2. Giá trị nội dung tư tưởng Thiền học của Cư trần lạc đạo phú
Toàn bài gồm 10 hội, mỗi hội co giãn từ 13 câu (Hội thứ ba và bốn) cho tới 30
câu. Và mỗi hội gieo một vần, các hội chẵn gieo vần bằng và hội lẻ gieo vần trắc. Cuối
hội thứ mười có thêm bài kệ theo thể thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán. Có thể xem bài
kệ ở cuối tác phẩm đã thể hiện chủ đề tư tưởng Thiền học của bài phú, đồng thời là cơ
sở lý luận hình thành chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” của Thiền phái Trúc Lâm.
2.1. Chủ thuyết Cư trần lạc đạo
Trước khi hình thành chủ thuyết “Cư trần lạc đạo”, thì Trần Thái Tông - người
đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm đã chọn bản kinh Kim Cương và
kinh Kim Cương tam muội chú giải để làm cơ sở lý luận biện tâm, thực thi đời sống
hướng nội trước bối cảnh lịch sử cả dân tộc đang ra sức chấn hưng đất nước. Theo
nguyên lý duyên khởi của tư tưởng Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Viên Giác thì bản thân từng
cá thể không thể tồn tại độc lập mà không có sự liên hệ khác, nhất là giai đoạn cả nước
đang xây dựng và phát triển trên mọi lĩnh vực. Vì vậy, các thành viên Thiền phái chủ
trương bổ sung thêm một số quan điểm được đúc kết từ các bản kinh Đại thừa nói trên
để làm cơ sở lý luận tạo tiền đề hình thành chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” phục vụ cho
đường lối hoạt động Thiền phái, góp phần xây dựng, phát triển đất nước:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”
(Cư trần vui đạo hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền.
Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm,
Vô tâm trước cảnh hỏi gì thiền) (tr.510).
Thực tế, những năm trước và sau triều Lý (vào các năm 1009, 1020, 1034, 1295)
các bản Kinh Đại thừa đã được truyền vào nước ta và mãi đến năm 1295 vua Trần mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status