Giáo trình độc chất học part 5 pot - Pdf 19

73
73
Chương IV
Hóa chất bảo vệ thực vật
Các hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) có vai trò quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Chi phí cho nhóm này rất lớn. Theo WHO, năm 1988 thế giới đã dùng 3,1 triệu tấn
hoạt chất BVTV với giá trị 20 tỷ USD trong đó thuốc trừ cỏ 9,1 tỷ, thuốc trừ sâu 6,1 tỷ và
thuôc trừ bệnh 4,2 tỷ. Người ta cũng ước tính, nếu không sử dụng các chất hoá học bảo vệ
thực vật thì mùa màng sẽ bị thiệt hại khoảng 50% sản phẩm.
Chính vì lý do trên nên việc sản xuất các hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới ngày
càng tăng. Các mặt hàng thuốc bảo vệ thực vật luôn được thay đổi nhằm: Tạo ra các hợp chất
độc mạnh với sâu bệnh nhưng ít độc đối với động vật máu nóng; Tạo ra các hợp chất ít gây
độc trường diễn, nhất đối với người và súc vật; Hạn chế sâu bệnh quen thuốc.
Chương IV tập trung giới thiệu ba nhóm hoá chất bảo vệ thực vật là: clo hữu cơ,
phosphor hữu cơ và carbamat.
Phần cuối chương có giới thiệu một số thuốc diệt chuột có độc tính cao
1. Đại cương
Hiện nay trong nông nghiệp các chất hoá học được sử dụng ngày càng nhiều, với các
mục đích khác nhau, bao gồm:
- Các loại phân bón có nguồn gốc hoá học hay vi sinh nhằm tăng dinh dưỡng cho cây.
- Các chất điều hoà sinh trưởng (phytohormon): ví dụ như anxin, cytokinin, gibberelin. Các
chất này có vai trò quan trọng trong các quá trình vận chuyển chất, phát triển, già, chín của cây trồng.
- Các hóa chất bảo vệ thực vật (pesticides): sử dụng với mục đích phòng trừ các các
loại động vật, thực vật, vi sinh vật gây thiệt hại cho cây trồng.
Mặc dù các nhà khoa học, nhà sản xuất đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tạo ra các hợp
chất trừ sâu diệt cỏ có các ưu điểm nêu trên, nhưng hiện nay các chất này vẫn có độc tính cao.
Thời gian bán huỷ của nhiều chất rất lâu, trên 50 năm (ví dụ: DDT). Tạo ra các chất độc hơn
như dioxin khi sử dụng 2, 4 D và 2, 4, 5 T. Gây ngộ độc cấp khi cơ thể nhiễm phải lượng lớn.
Gây ngộ độc trường diễn khi cơ thể hấp thụ phải những lượng hết sức nhỏ trong thời gian dài
vì chúng tích luỹ trong cơ thể. Khi sử dụng không đúng quy trình hướng dẫn thường gây ngộ
độc (cấp và trường diễn). Hơn nữa, trong quá trình sử dụng con nguời đã lạm dụng mặt tích

50
= 300 - 400 mg/l
Sumithion (Fenitrothion)
Trừ sâu tiếp xúc, trừ nhện, diệt côn trùng hại lúa, rau
quả. Diệt muỗi gián ruồi.
LD
50
= 800 mg/kg
Kitazin (Iprobenphos) Trừ nấm đạo ôn (dạng nhũ dầu).
LD
50
= 490 mg/kg
Hinosan (Edifenphos) Trừ nấm cho cây trồng,
LD
50
= 100 - 260 mg/kg
Monocro - tophos
(Hạn chế dùng ở Việt Nam)
Diệt sâu mạnh (dùng ở dạng dung dịch).
Độc với oxy, chim, cá. LD
50
= 8 - 23 mg/kg
Monitor (Methanidophos)
(Hạn chế dùng ở Việt Nam)
Trừ sâu, trừ nhện (dung dịch 40% và 60%).
Độc lực cao LD
50
= 30 mg/kg
Acephate Trừ sâu tiếp xúc (dạng bột hòa nước).
LD

dây leo, quả mọng, rau.
LD
50
= 2190 mg/kg
Fenclorim
Trừ cỏ (Herbicode safener). Dùng phối hợp với nhiều
loại khác như Pretilaclor.
LD
50
> 5000 mg/kg
Methoxyclor Trừ sâu tiếp xúc.
LD
50
= 6000 mg/kg
3. Nhóm Carbamat
Trừ rẫy lúa, sâu rệp hai bông (nhũ dầu, bột rắc). LD
50
=
75
75
Fenobncarb (Bassa)
410 mg/kg
Cartap (Padan, Patap) Trừ sâu (bột hòa nước, bột rắc)
LD
50
= 345 mg/kg
Thiobencarb (Saturn) Diệt cỏ thời kỳ trên nảy mầm: cỏ dại, cỏ lá rộng. LD
50
=
1300 mg/kg

Maneb
Trừ nấm cho cà chua, khoai tây, bắp cải, đậu, nho (dạng
bột rắc, bột thấm nước).
LD
50
= 7900 mg/kg
Zineb Diệt nấm cho nhiều loại rau, quả (dạng bột rắc, bột
thấm nước).
LD
50
= 5200 mg/kg
Ziram Trừ nấm gây bệnh thủng lá, thối hoa (dạng bột rắc, bột
thấm nước).
LD
50
= 1400 mg/kg
7. Nhóm Acetamid
Diphenamid
Trừ cỏ chọn lọc: cỏ hàng niên, cỏ lá rộng cho thuốc lá,
cafê, khoai tây.
LD
50
= 1050 mg/kg
Pretilaclor (Sofit, Rifit) Trừ cỏ chọn lọc trước khi cỏ mọc hoặc sau khi cỏ mọc
cho lúc cấy hay gieo thẳng (0,3 - 0,5 kg/ha). LD
50
=
6100 mg/kg
Metolaclor Trừ cỏ chọn lọc: trộn vào đất trước thời kỳ nảy mầm dùng
cho ruộng ngô, khoai tây, bông.

5
; - Ph: gốc - C
6
H
5

76
76
LD: nếu không ghi chú thì đó là liều cho chuột cống qua đường uống
1.2. Sự tồn lưu của hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường
HCBVTV được phun dưới dạng mù hay bụi cho cây cối với mục đích diệt trừ sâu
bệnh và do vậy sẽ trực tiếp ngấm vào đất. HC BVTV còn ngấm vào nước, khí quyển, tham
gia vào các phản ứng hoá học, quang hoá. Sự tồn lưu của thuốc BVTV trong môi trường phụ
thuộc vào: Khả năng bay hơi; Độ hòa tan trong nước và trong dung môi; Mức độ phản ứng
(hoá học, sinh học) trong môi trường.
Sau khi tham gia các phản ứng, hoá chất bảo vệ thực vật phân huỷ thành các hợp chất
đơn giản. Sự tồn lưu của thuốc BVTV trong môi trường được đo bằng thời gian cần thiết để
95% thuốc bị phân huỷ hoặc mất hoạt tính. Dựa vào thời gian đó thuốc BVTV được chia làm 3
loại:
- Loại không bền: thời gian phân huỷ 1 - 2 tuần.
- Loại trung bình: thời gian phân huỷ 1 - 18 tháng.
- Loại bền vững: thời gian phân huỷ từ 2 năm trở lên.
Sự phân bố của thuốc BVTV trong môi trường rất đa dạng và phong phú tuỳ thuộc
vào tính chất của hợp chất đó và điều kiện bên ngoài.

H
5Khí
quy

n

Động
v

t

Đất
Cây

Nướ
c

Phun thuốc
77
77
P + H
2
O enzym
H
3
CO S CH - CH
2

(chuột cống, chuột nhắt) chúng được chia thành 4 nhóm:
- Độc lực rất cao: LD
50
£ 50 mg/l
- Độc lực cao : LD
50
= 50 - 200 mg/l
- Độc lực trung bình : LD
50
= 200 - 1000 mg/l
- ít độc : LD
50
> 1000 mg/l
2. Ngộ độc các hóa chất bảo vệ thực vật
Như trong phần đại cương về HCBVTV đã nêu, nếu kết hợp phân loại theo mục đích
sử dụng và cấu trúc hóa học, các HCBVTV có thể được phân thành 3 nhóm chính: Thuốc trừ
sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ. Trong phần này chúng tôi giới thiệu chủ yếu về phần
thuốc trừ sâu.
Dựa vào cấu tạo, thuốc trừ sâu được chia thành 5 nhóm: Các hợp chất phosphor hữu
cơ, clo hữu cơ, carbamat, thuốc BVTV có nguồn gốc từ thảo dược: pyrethrin từ cúc trừ trùng,
rotenon từ cây thuóc cá, thàn mát, hạt củ đậu… và thuốc trừ sâu sinh học.
2.1. Ngộ độc các hợp chất phospho hữu cơ:
Các hợp chất phospho hữu cơ (PPHC) do bị thuỷ phân nhanh thành các hợp chất vô
hại và không tích lũy chất độc lâu dài trong môi trường nên PPHC ngày càng được sử dụng
rộng rãi trong nông nghiệp với các mục đích: bảo vệ cây trồng, chống côn trùng phá hoại
trong các kho tàng, điều trị các bệnh ký sinh trùng thú y diệt ruồi Cũng vì sử dụng rộng rãi
như vậy nên ngộ độc phospho hữu cơ rất thường gặp ở người và gia súc (ở người chiếm
khoảng 50 - 80% trường hợp ngộ độc cấp phải vào viện).
Đây là nhóm thuốc có nhiều chủng loại nhất, được sử dụng từ năm 1946. Chúng là dẫn
xuất của axit phosphoric, cụ thể là:

là những gốc acid vô cơ hoặc những
nhóm hữu cơ. Sau đây là lý hóa tính của một số hợp chất phospho hữu cơ thường gặp
* Parathion - methyl: Tên gọi khác: Methyl - parathion, Wonfatox, Metaphos, Foliol.
- Tên hóa học: O, O - dimethyl - O, 4 - nitrophenylphosphorothioat.
- Công thức hóa học: C
8
H
10
O
5
NPS.
- Tính chất: Thuốc kỹ thuật 80% ở thể lỏng màu nâu, tương đối bền trong môi trường
acid, thủy phân nhanh trong môi trường kiềm và trung tính, tan nhiều trong dung môi hữu cơ
Hình 4.2: Cấu trúc cơ bản của thuốc trừ sâu phospho hữu cơ
79
79
như aceton, benzen, clorofor… ít tan trong nước. Thuộc nhóm độc loại I. LD
50
=14 - 24
mg/kg
Thuốc này thường được dùng phun cho các cây đậu, đỗ, cây ăn rau quả củ, bắp cải.
Parathion - methyl là loại thuốc trừ sâu có tác dụng tiếp xúc, đường ruột và xông hơi. Trong
một số trường hợp còn được pha lẫn với một số loại thuốc khác.
Sản phẩm chuyển hóa của parathion trong cơ thể là paranitrophenol, được đào thải
qua nước tiểu. Có thể xác định paranitrophenol trong máu và nước tiểu để chẩn đoán ngộ độc
methyl- parathion hoặc parathion.
*Clorofoc và Dichlorovos.

Chlorofoc là chất kết tinh không màu, dễ tan trong dung môi hữu cơ.
LD
50
= 56 - 108 mg/kg.
Dichlorovos được sử dụng trừ sâu cho ngũ cốc, lạc, cây ăn quả. Dichlorovos là loại thuốc
trừ côn trùng dạng tiếp xúc, xông hơi và vị độc. Hơi thuốc có khả năng khuếch tán nhanh và
mạnh, nên có thể sử dụng làm chất bảo quản hàng hóa, sử lý kho tàng, trừ ruồi, muỗi và gián.
Sản phẩm chuyển hóa của Dichlorovos được đào thải qua phân, nước tiểu và
đường hô hấp.
*Methamidophos: Tên gọi khác: Monitor, Tamazon, Filitox.
- Tên hóa học: O, S - Dimethylphosphoamidothioat.
- Công thức hóa học: C
2
H
8
NO
2
PS.
- Tính chất: Thuốc nguyên chất ở thể rắn. Thuốc kỹ thuật 70 - 75% ở thể lỏng tan
trong nước (200g/100 ml). Rượu Izopropyonic (140g/100 ml) tan ít trong xylen và benzen.
Bền trong môi trường khô, không bền trong môi trường nước, acid, kiềm và nhiệt độ cao
(40
0
C). LD
50
= 30 mg/kg.
Thường sử dụng thuốc 70% phun các loại ớt, cà chua, rau quả. Là loại thuốc trừ côn
trùng có tác dụng vị độc, tiếp xúc và nội hấp.
80
80

môi trường kiềm. LD
50
= 250 - 680 mg/kg.
Là loại thuốc trừ sâu nội hấp có tác dụng tiếp xúc, vị độc dùng cho các loại rau
ăn củ, quả lá, ngũ cốc, cà chua, trừ côn trùng và trừ các loại rầy, rệp, bọ xít cho các loại
cấy công nghiệp.
* Parathion: Tên gọi khác: Thiofot.
- Tên hóa học: O,O - Diethyl - 0,4 - nitrophenyl - thiophosphat.
- Tính chất: Chất lỏng sánh như dầu, không màu, sôi ở 162
0
C, ít tan trong dung môi
hữu cơ, bị phân huỷ ngoài ánh sáng.
Với chuột LD
50
= 250 - 680 mg/kg.
* Triclophot: Tên gọi khác: Dipterex, chlorophot.
- Tên hóa học: O,O-Dimethyl - oxy 2, 2, 2 - tricloetyl phosphonat.
- Tính chất: Chất kết tinh không mùi, nhiệt độ nóng chảy 82 - 83
0
C. Tan trong nước 16%
ở 20
0
C. Tan tốt trong các dung môi hữu cơ. Bị loại Clor dưới tác động của kiềm.
- LD
50
= 400 - 850 mg/kg.
* Malation: Tên gọi khác: Carbophat.
- Tên hóa học: O,O - Dimethyl - 1, 2 - dicarbetocidi - thiophosphat.
- Tính chất: Chất lỏng màu vàng, mùi khó chịu, nhiệt độ sôi 156 - 157
0

dicloraxetaldehyd ít độc hơn. Chính những sản phẩm trung gian này gây nên tác dụng hiệp đồng
giữa các phospho hữu cơ.
- Trong cơ thể, các hợp chất phospho hữu cơ bị phân hủy khá nhanh do đó về mặt hóa
học nó không phải là chất tích lũy.
- Sự thải trừ: Hầu hết các PPHC và carbamat thải trừ nhanh và hoàn toàn. Các PPHC
chứa clo tan nhiều trong dầu mỡ hơn nên tồn lưu trong trong cơ thể lâu hơn các PPHC khác.
Sau khi vào đường tiêu hóa, chỉ một ít thải trừ qua phân ở dạng không biến đổi, còn phần lớn
thì hấp thu, biến đổi ở gan và theo nước tiểu thải ra ngoài. Nhóm parathion thải trừ qua nước
tiểu dưới dạng paranitrophenol. PPHC có thể thải trừ qua sữa. Bò sữa sử dụng fenclorfos, sau
28 ngày trong sữa vẫn còn thuốc. Trong sữa cừu, thời gian và hàm lượng thuốc thải trừ còn
lâu và cao hơn ở bò.
82
82Hình 4.3: Sơ đồ cơ chế gây độc và giải độc của các hợp chất phospho hữu

B. Ngộ độc phospho hữu cơ và giải
đ

c

Quá trình th

y
Quá trình thủy
phân

Ức chế men Tác động của
pralidoxime

Các hợp chất phospho hữu cơ tác động chủ yếu lên quá trình dẫn truyền xung động thần
kinh. Cấu tạo của thần kinh có sợi trục dẫn xung động và sợi nhánh để nhân các xung động từ
sợi trục thần kinh và truyền đến các sợi nhánh do một chất trung gian hoá học đặc biệt là
Acetylcholin. Nó tác động lên độ thấm ion của màng tế bào, làm thay đổi điện thế của màng.
Phần tích điện dương (+) của phân tử Acetylcholin bị hút trong tâm tích điện âm (-) của bộ phận
thụ cảm của nơron sau gây nên sự thay đổi điện thế của màng tế bào thần kinh thụ cảm và sinh
ra một xung tác mới. Khi chỉ có một xung tác thần kinh thì lượng Acetylcholin tiết ra khoảng 1
- 2 mg. Acetylcholin là chất trung gian hoá học tại các xinap thần kinh trước hạch của hệ thần
kinh thực vật (giao cảm và phó giao cảm), tại các xinap hậu hạch của thần kinh phó giao cảm
và dây thần kinh giao cảm chi phối các tuyến mồ hôi, ở các cúc tận cùng của các dây thần kinh
vận động chi phối các cơ vân, ở các điểm nối tế bào thần kinh trong não. Có hai loại receptor
chịu tác động của acetylcholin, đó là thụ thể muscarinic và thụ thể nicotinic. Acetylcholin được
tạo từ Acetyl CoA ở các nhánh tận của dây thần kinh (tiền xinap) và cholin từ dịch ngoại bào.
Sau khi tác động lên các receptor đặc hiệu ở màng tế bào hậu xinap, Acetylcholin sẽ bị thuỷ
phân bởi men acetyl cholinesterse (AChE). Nếu tốc độ phân huỷ chậm sẽ gây sự ứ đọng
Acetylcholin dẫn đến gây độc và phá huỷ nghiêm trọng hệ thần kinh, có thể chết.
Sự phân huỷ Acetylcholin được xúc tác bởi men Acetylcholinesterase. Trên mặt hoạt
động của men cholinesterase có 2 trung tâm: trung tâm anion (-) có tác dụng hoạt hoá phần
điện tích dương (+) của phân tử Acetylcholin. Trung tâm este thực hiện thuỷ phân
Acetylcholin thành Acid Acetic và cholin.
Phospho hữu cơ khi vào cơ thể sẽ gắn với AChE thành phức hợp phosphoryl hoá bền
vững và làm mất hoạt tính của ChE, làm giảm hoặc mất tác dụng của men cholinesterase, do
vậy phản ứng phân giải Acetylcholin bị giảm sút hay đình trệ và dẫn đến ngộ độc. Hậu quả là
Acetylcholin tích tụ tại các xinap thần kinh. Sự tích tụ này gây ra sự kích thích liên tục quá
mức các receptor ở hậu xinap (lúc đầu), sau đó là giai đoạn kiệt xinap ở cả hệ thần kinh trung
ương và thần kinh ngoại biên. Sự kích thích dẫn tới hội chứng cường cholin cấp và sự kiện
synapes dẫn đến những thay đổi sinh lý và chuyển hoá khác nhau biểu hiện ra ngoài thành các
triệu chứng bệnh cảnh ngộ độc cấp PPHC. Có hai loại receptor: muscarinic (ở hậu hạch phó
giao cảm) và nicotinic (ở hạch thần kinh thực vật và ở các điểm nối thần kinh cơ vân - các
bản vận động) chịu tác động của acetylcholin. Vì vậy các triệu chứng lâm sàng rất phức tạp

- Dipterex (triclorfon): Liều gây độc p.o. ở bê là 5 - 10 mg/kg, bò 75 - 100 mg/kg, dê
cừu 100 - 200 mg/kg, ngỗng 50 mg/kg thể trọng.
LD
50
ở gà mái là 80 mg/kg, liều 120 mg/kg thể trọng gây chết hàng loạt. Liều 35
mg/kg thể trọng per.ose. liên tục nhiều ngày có thể gây chết ngỗng.
- Parathion: Liều tối thiểu gây chết p.o. ở lợn là 25 mg/kg; cừu 20 mg/kg; bê và bò
25 - 50 mg/kg thể trọng. Liều chết ở ngựa là 5 mg/kg, gà giò 3,13 mg/kg thể trọng.
- Malation: Bê dưới 2 tuần tuổi, p.o. 20 mg/kg đã gây biến đổi cho cơ thể; liều 50
mg/kg thể trọng gây chết. Liều tối thiểu gây độc ở bò là 100 mg/kg thể trọng. Gà giò 3 tuần
tuổi, LD
50
= 200 - 400 mg/kg thể trọng. Chó có khả năng chịu đựng tốt hơn (3500 mg/kg thể
trọng không gây chết).
- Diazinon: Liều gây độc ở bê dưới 2 tuần tuổi, p.o. 2,5 mg/kg, trên 1 năm tuổi 25
mg/kg thể trọng, dê 300 mg/kg; ngựa 20 mg/kg thể trọng.
Liều chết ở vịt là 14 mg/kg thể trọng.
Theo Gary D. Osweiler, một số PPHC dạng thương phẩm như phorate, fonofos,
carbofuran có độc lực rất cao, liều gây ngộ độc cấp là trong khoảng 1 - 20 mg/kg. Nồng độ
của hoạt chất là 5% - 50%.
Cần chú ý là nếu dùng phối hợp các thuốc bảo vệ thực vật cùng một lúc, chúng có thể
tác dụng hiệp đồng làm tăng độc tính. Ví dụ nếu dùng phối hợp parathion với bromofos-etyl
làm giảm LD
50
. Dùng phối hợp bromofos - etyl với lindan hoặc heptalclor, sẽ tác dụng đối
kháng và LD
50
tăng lên.
Nhiều chất khi dùng phối hợp sẽ làm tăng độc tính của hợp chất PPHC:
- Thuốc trấn tĩnh phenothiazin làm tăng độc tính của PPHC.

xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để chẩn đoán.
* Các triệu chứng lâm sàng
Khi súc vật bị ngộ độc PPHC, các receptor muscarin, receptor nicotin và các receptor
tại hệ thần kinh trung ương bị kích thích, nếu phân tích theo cơ chế sinh bệnh, có thể phân
triệu chứng lâm sàng của ngộ độc phospho hữu cơ thành các nhóm sau:
- Các triệu chứng Muscarin: Do tác động của acetylcholin kích thích hậu hạch phó
giao cảm, tác dụng chủ yếu lên các cơ trơn gây co thắt ruột, phế quản và cơ trơn bàng quang,
co đồng tử và giảm phản xạ đồng tử/ánh sáng, kích thích các tuyến ngoại tiết: tăng tiết nước
bọt, dịch ruột, mồ hôi, nước mắt, dịch phế quản Bệnh súc đau bụng, nôn, ỉa chảy, ỉa đái
không tự chủ, khó thở dẫn đến suy hô hấp, nhịp tim chậm.
- Các triệu chứng nicotin: Do sự tích tụ của acetylcholin ở các bản vận động dẫn đến rối
loạn sự khử cực của các cơ vân gây co giật, co cứng cơ, liệt cơ bao gồm cả các cơ hô hấp.
- Các triệu chứng thần kinh trung ương: Trung tâm hô hấp và tuần hoàn bị ức chế dẫn đến
suy hô hấp, truỵ mạch, co giật, hôn mê sâu.
- Các triệu chứng thần kinh ngoại vi muộn: Xảy ra 8 - 14 ngày hay muộn hơn sau ngộ
độc cấp PPHC. Các triệu chứng bao gồm: yếu cơ, liệt cơ, chóng mệt mỏi, chuột rút, có thể
tiến triển đến liệt toàn thân và các cơ hô hấp gây suy hô hấp và tử vong. Bệnh thoái triển sau
vài tháng đến vài năm, teo cơ nhiều, phục hồi chậm và không hoàn toàn. Cơ chế sinh bệnh là
do chết các sợi trục thần kinh.
Trong ngộ độc cấp PPHC, triệu chứng muscarin thường đến sớm nhất và luôn luôn
xảy ra. có thể vài giây sau nhiễm đường hô hấp, vài phút đến vài giờ sau nhiễm độc đường
tiêu hoá; nhiễm độc đường da mức độ nhẹ có thể đến muộn hơn. Triệu chứng nicotin và triệu
chứng thần kinh trung ương xảy ra khi nhiễm độc trung bình hoặc nặng. Súc vật thường chết
trong những ngày sau, nguyên nhân trực tiếp là suy hô hấp. Suy hô hấp trong ngộ độc PPHC
là do tăng tiết dịch và co thắt phế quản, liệt cơ hô hấp, ức chế trung tâm hô hấp, bội nhiễm
phổi.
Triệu chứng ngộ độc ở các loài gia súc như sau: Sau khi bị ngộ độc qua đường
miệng 15 - 30 phút, qua da 4 - 6 giờ đa số các loài súc vật (trâu, bò, ngựa) bị rối loạn chức
năng thần kinh trung ương nghiêm trọng: Lúc đầu con vật ở trạng thái bồn chồn, không yên,
chảy nước rãi, nhu động ruột tăng (đau bụng) ỉa chảy, đồng tử mắt co nhỏ, tim đập loạn nhịp,

phát các bệnh nhiễm trùng, truyền nhiễm dễ dàng. Cơ năng của các tuyến hạ não rối loạn nên
sự sản sinh ra các corticosteroid cũng giảm thấp. Từ đó, thận bị rối loạn. Trạng thái rối loạn
mạn tính có thể kéo dài nhiều tuần.
Nếu điều trị kịp thời và đầy đủ, con vật có thể hoàn toàn hồi phục. Tác dụng độc thần
kinh ở giai đoạn cuối có liên quan tới sự thoái hóa của các axon của các tế bào thần kinh. Do
quá trình myelin hóa của các sợi thần kinh từ cột sống đi ra (phần lumbago đi ra), gia cầm bị
liệt phần sau cơ thể. ở động vật có vú, các chi sau cũng liệt (atropin không có tác dụng điều
trị hậu quả này).
* Chẩn đoán qua các kết quả xét nghiệm
- Xét nghiệm men cholinesteraza (ChE): có hai loại ChE acetyl cholinesterase có trong
tổ chức thần kinh và trong hồng cầu (còn gọi là enzym thật vì liên quan trực tiếp đến triệu
chứng kích thích phó giao cảm trong NĐC PPHC), butyro cholinesterase có trong huyết
tương do gan sản xuất ra (còn gọi là enzyme giả). Tuy nhiên, vì hàm lượng butyro
cholinesterase thay đổi tương đối phù hợp với diễn biến lâm sàng của ngộ độc cấp PPHC lại
dễ xác định nên được dùng để chẩn đoán và theo dõi tiến triển của ngộ độc cấp PPHC. Hàm
lượng men ChE trong não giúp chẩn đoán sau khi súc vật chết.
- Xác định sự có mặt của PPHC và sản phẩm chuyển hóa: Tồn dư của PPHC trong mô
thường rất thấp và cho kết quả âm tính. Có thể tìm chất độc, trong chất chứa dạ dày, dạ cỏ,
trong máu bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng và sắc ký khí. Trong nước tiểu có thể phát hiện
sản phẩm chuyển hóa của PPHC.
- Các tổn thương bệnh lý: thường hạn chế và ít có giá trị chẩn đoán. Có thể quan sát
thấy tích nước phổi. ống tiêu hóa giãn rộng và chứa nhiều dịch.
Ngoài các triệu chứng, kết quả xét nghiệm nêu trên, một số tài liệu cho biết:
- Các hợp chất phospho hữu cơ còn ức chế các enzym khác như trypsin, kymotrypsin,
cytocromoxydase, carboalhydrase, carbooxydase, aminase, dehydrogenase.
87
87
- Các hợp chất phospho hữu cơ làm tăng cường sản xuất catecolamin và sản xuất các
steroid của thượng thận. Một số chất trong nhóm này còn thể hiện ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt
động của hệ thống trục hypothalamus - hypophisis và thượng thận. Thymus teo đi. Đường

-Khi phơi nhiễm chất độc qua đường hô hấp:
Đưa ngay bệnh súc ra khỏi khu vực nhiễm độc, đặt nơi thoáng gió.
- Khi phơi nhiễm chất độc qua đường tiêu hóa
Cho uống than hoạt để hấp phụ chất độc trong đường tiêu hóa. gây nôn ở lợn và chó.
Rửa dạ dày nếu không gây nôn được và sau khi gây nôn, rửa đến khi nước trong. Ngựa và bò
(nếu số lượng ít) rửa dạ dày. Có thể dùng các loại dầu có nguồn gốc khoáng vật (Paraffinum
liquidum) để đẩy phần than hoạt đã hấp phụ chất độc ra ngoài. Nếu gia súc ỉa chảy thì không
dùng dầu parafin. Có thể cho uống natri hydrocarbonat 5% vì phần lớn các phospho hữu cơ bị
giảm độc tính khi tác dụng với chất kiềm. Chất độc vào mắt rửa bằng natri hydrocarbonat 3%.
88
88
*Điều trị bằng các chất kháng độc
Atropin là thuốc chữa các triệu chứng muscarin, làm giảm các tình trạng: tăng tiết phế
quản, nước bọt, mồ hôi, làm mất đau bụng, buồn nôn, nhịp chậm và làm giãn đồng tử. Liều dùng từ
0,5 - 1 mg/kg, tiêm nhắc lại sau 6 giờ, không dùng quá liều, sẽ gây độc. Khi tiêm nhắc lại chỉ nên
tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. An toàn nhất là tiêm tĩnh mạch 1/4 liều, chờ 15 phút để quan sát tác
dụng, phần liều còn lại tiêm bắp hoặc tiêm dưới da. Theo dõi đồng tử mắt, khi đồng tử đã giãn trở
lại mức bình thường thì ngừng tiêm atropin. Atropin không có tác dụng trên liệt cơ và suy hô hấp ở
bệnh súc ngộ độc nặng. Cần lưu ý là mạch nhanh, giãn đồng tử có thể là triệu chứng nicotin.
Khi gia súc bị ngộ độc hàng loạt, cần cấp cứu nhanh, tiêm bắp ở 2- 3 vị trí khác nhau, làm
tâng tốc độ hấp thu atropin. Tác dụng của atropin có thể được tăng cường bằng cách dùng phối hợp
với papaverin hydroclorid: 0,3 mg atropin sulfat + 4 mg papaverin hydroclorid cho 1 kg thể trọng.
Diphenhydramin dùng cho uống 4mg/kg, 3 lần/ngày chữa triệu chứng nicotin. Không
dùng phối hợp với atropin.
Pralidoxime là thuốc kháng độc đặc hiệu theo cơ chế trung hoà chất độc. Ngày nay đã
tổng hợp được một số chất như oxime hoặc acide hydroxamine. Trong số chúng 2 - PAM (2
pyridine aldoxime methyl iodua hoặc clorua, là dẫn chất của Pralidoxime) có tác dụng tốt. 2 -
PAM sẽ gắn vững bền với PPHC, gắn lỏng lẻo với ChE tạo thành phức hợp bộ 3, enzym tách
ra để lại phần phosphoryl - oxime sẽ tiếp tục thuỷ phân để cho các sản phẩm thoái hoá của
PPHC và axit phosphoric. Như vậy PAM đã khử phosphoryl và tái hoạt hoá ChE. PAM còn

Các hợp chất carbamat sử dụng trong nông nghiệp là dẫn xuất của các acid carbamic,
thiocarbamic, và dithiocarbamic.
HO C NH
2
HO C NH
2
HS C NH
2 O S S
Acid carbamic Acid thiocarbamic Acid dithiocarbamic
Sau đây là một số hợp chất carbamat thường được dùng ở Việt Nam:
* Carbaryl: Tên gọi khác: Sevin.
- Tên hóa học: 1 - Naphtylmethylcarbamat.
- Công thức hóa học: C
12
H
11
O
2N.
- Tính chất: Sevin tinh khiết là một chất kết tinh trắng, không mùi. Nhiệt độ chảy
142
0
C. Tan ít trong nước, tan tốt trong các dung môi hữu cơ. ở nhiệt độ thường sevin bền
vững đối với nước, ánh sáng và oxy của không khí, phá hủy nhanh ở môi trường kiềm tạo a-
naphtol và khi đun sôi sevin với acid.
- Độc tính: Sevin cũng như các dẫn chất khác của acid carbamic có tác dụng gây ức
chế cholinesterase ở động vật máu nóng nhưng tác dụng ức chế này có thể hiện chậm hơn và
yếu hơn ở các loại phospho hữu cơ. Liều ngộ độc cấp tính đối với chuột cống là 560 mg/kg

* Fenobucarb: Tên gọi khác: Bassa, BPMC, Fenobcarb, Baycarb, Osbac.
- Tên hóa học: 2 - sec - Buthylphenylmethylcarbamat.
- Công thức hóa học: C
12
H
17
NO
2
.
- Tính chất: thuốc kỹ thuật 95 - 98% ở dạng dung dịch đặc sệt, loại < 95% đặc sệt và
đông đặc ở nhiệt độ thấp: tan ít trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, không bền vững
trong môi trường kiềm và trong acid đậm đặc; thuộc nhóm độc II. Thuốc có độ độc trung bình
đối với cá và với ong mật.
Fenobucarb tác dụng tiếp xúc và vị độc, dùng trừ sâu có miệng chích hút.
90
90
* Butocarboxim: Tên gọi khác: Drawin 755.
- Tên hóa học: 3- (methylthio) butanone - O - methylcarbamoyloxime.
- Công thức hóa học: C
7
H
17
N
2
O
2
S.
- Đặc tính: thuốc kỹ thuật thể lỏng (85%) chứa 2 đồng phân (E) và(Z), tan ít trong
nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, bền vững trong môi trường trung tính; tương đối bền
trong nước, ánh sáng và không khí; không ăn mòn kim loại.

Tuy nhiên có sự khác nhau trong cơ chế tác dụng của 2 nhóm thuốc trừ sâu này:
* Ester carbamat N- metyl sẽ carbamyl hóa AChE làm tích lũy acetylcholin tương tự
như phosphor hữu cơ. Tuy nhiên quá trình carbamyl hóa này có thể hồi phục được, enzym lại
được giải phóng. Nguyên nhân là do carbamat chỉ dính vào bề mặt của enzym, gắn một cách
lỏng lẻo, thuần túy vật lý, không có phản ứng hóa học với enzym. Còn tác dụng của phospho
hữu cơ là không hồi phục.Thời gian nhiễm độc ngắn.
Một số nghiên cứu dã xác định, carbamat không ức chế các hoạt động của
acetylcholinesterase trong huyết thanh, mà chỉ tác dụng với enzym này ở gan và hồng cầu. Vì
vậy tác dụng phong bế enzym chỉ trong thời gian ngắn và bản thân cholinesterase cũng nhanh
chóng tách ra khỏi sự phong tỏa của carbamat. Sự tích lũy sinh học tác dụng của carbamat
không có như ở phospho hữu cơ. Thực nghiệm trên chuột tiêm 10 mg/kg thể trọng carbaril,
sau đó kiểm tra sự phân bố của nó trong cơ thể, bằng phương pháp phóng xạ đánh dấu và kết
quả cho thấy: một ngày sau cho thuốc, nó phân bố gần như đều khắp trong các khí quan. Có
nhiều hơn một chút ở xương, thành dạ dầy và ruột, não và các tuyến sữa. Trong dạ dày của gia
súc non bú sữa cũng có carbamat.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status