Giáo trình dịch tễ học y học part 6 pot - Pdf 19


CÁC TỶ LỆ THƯỜNG DÙNG TRONG DỊCH TỄ HỌC

Mục tiêu học tập
1. Trình bày được các khái niệm về tỷ lệ, tỷ suất và giá trị của nó trong DTH
2. Định nghĩa được các tỷ lệ, chỉ số thường dùng trong DTH và giá trị sử dụng của nó
trong DTH;
3. Phân loại được các hiện tượng xảy ra hàng loạt.

Một tính chất quan trọng của diễn biến hàng loạt là số các cá thể có một tính chất nào
đó trong một quần thể xác định (số người mắc một bệnh nhất định tại một địa phương xác
định chẳng hạn). Phải đánh giá tầm quan trọng của vấn đề trong quần thể.
Nhưng phải xét con số tuyệt đối đó trong mối tương quan với quần thể chứa nó; mà
quần thể thì luôn luôn có sự biến động, tăng, giảm giữa các cuộc điều tra; như vậy, mới có thể
thấy được tầm quan trọng của một vấn đề diễn biến hàng loạt mà ta đang xét đến.
Cho nên, để đo lường một vấn đề dịch tễ, một hiện tượng bị bệnh hàng loạt nào đó trong
cộng đồng, phải dùng tới các tỷ lệ, các chỉ số.
Sau đây là một số tỷ lệ, chỉ số hay được sử dụng trong dịch tễ học.
I. TỶ LỆ (Taux)
Tỷ lệ là tỷ số giữa các cá thể có một tính chất nào đó (tính chất mà ta đang quan tâm)
trong một quần thể nhất định với tổng số các cá thể có trong quần thể đó.
a
Tỷ lệ =
a + b
Lưu ý: - Tỷ lệ là một phân số, trong đó mẫu số có chứa luôn cả tử số;
- Trong tính toán, tử số và mẫu số đều xuất phát từ cùng một quần thể nhất định;
- Để tiện cho việc so sánh, nhân tỷ lệ với một con số dễ hiểu (100, 1000, 10000, )
ta sẽ có được các tỷ lệ %, phần nghìn, phần mười nghìn,
n
10
Ví dụ: Tỷ lệ chết do viêm phế quản mãn ở đàn ông tuổi từ 45 - 54, tại một địa phương

b
III. SỐ HIỆN MẮC, TỶ LỆ HIỆN MẮC
1. Số hiện mắc (prévalence)
Là tổng số các trường hợp đang mắc một hiện tượng nào đó (bị bệnh, nhiễm trùng,
nhiễm độc, ) trong một quần thể nhất định, không phân biệt là mới mắc hay mắc cũ.
2. Tỷ lệ hiện mắc
Số hiện mắc
Tỷ lệ hiện mắc =
Tổng số quần thể có nguy cơ
n
10ו Rút ngắn thời gian bị bệnh
• Kéo dài thời gian bị bệnh
• Tỷ lệ tử vong cao
• Kéo dài sự sống
• Giảm số mới mắc
• Tăng số mới mắc
• Sự tới của người khỏe
• Sự tới của các cas
• Sự ra đi của các cas
• Sự ra đi của người khỏe

• Sự tới của người nhạy cảm
• Tăng tỷ lệ điều trị khỏi
• Sự tiến bộ của các phương
tiện chẩn đoán (tăng ghi nhận).
Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ hiện mắc quan sát.
Lưu ý: Mẫu số là quần thể có nguy cơ, là số người có khả năng bị bệnh trong quần thể.

Để dễ hiểu cách tính các tỷ lệ nêu trên, xem hình 2.2.
Cas

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng
Hình 2.2: Diễn biến của một bệnh mãn tính: Có 10 người bị bệnh trong quần thể 1000 người:
- Vạch liên tục: Chỉ thời kỳ bị bệnh, có thể phát hiện được qua điều tra.
- Vạch chấm chấm: chỉ giai đoạn bị bệnh nhưng không thể phát hiện được qua điều tra.
- Chỉ khảo sát trong khung. Những vạch xuất phát và kết thúc vượt khung là những trường hợp
mắc bệnh trước lúc khảo sát và vẫn tiếp tục bị bệnh sau khảo sát.
- Vạch liên tục không tiếp theo vạch chấm chấm nữa: biểu thị các trường hợp đã điều trị khỏi.

Ví dụ: Một quần thể phụ nữ khỏe mạnh 250 000 người tuổi từ 35 - 54 được theo dõi liên
tục 3 năm. Tất cả các cas mới mắc ung thư vú đều được ghi nhận; với mỗi nhóm tuổi, mật độ
mới mắc và tỷ lệ mới mắc được tính và trình bày ở bảng 2.1.
Bảng 2.1: Bảng tính mật độ mới mắc:
Tuổi Kích thước Số mới mắc Người - Năm Mật độ mới mắc Tỷ lệ mới mắc

()
a
()
b
(
)
c
(
)
d
()
e

3
×
=
ac

cbd
=
abe =
5435
5450
4945

0005,0

0027,0
0042,0
0033,0
0024,0
0015,0Để có được mật độ mới mắc ở lớp tuổi 35 - 39, trước tiên phải tính số người - năm phơi
nhiễm (mẫu số): 60 000
x 3 = 180 000. Mật độ mới mắc là: Số mới mắc trong 3 năm (90 cas)
chia cho mẫu số trên (180 000) bằng 0,0005.

13

Cùng lớp tuổi trên, tỷ lệ mới mắc ung thư vú được tính: Số mới mắc/Tổng số được theo
dõi ở lớp tuổi đó: 90/60 000 = 0,0015. Có thể chia tỷ lệ mới mắc đó cho khoảng thời gian theo
dõi (3 năm) cũng sẽ được mật độ mới mắc, cũng chính là tỷ lệ mới mắc năm.
Một ví dụ khác: theo dõi 7 đối tượng để tính mật độ mới mắc như sau: xem hình 2.4.
Từ đó có thể tính được: 33 người - năm theo dõi;
Và mật độ mới mắc sẽ là: DI = 3/33 = 9,1% người - năm
Một số tác giả đề nghị dùng DI (mật độ mới mắc) thay cho I (Tỷ lệ mới mắc) trong các
nghiên cứu vì nó chính xác hơn.
Đối tượng nghiên cứu
Ghi
chuï:
Φ
Chết

Hình 2. 4: Theo dõi 07 đối tượng để tính mật độ mới mắc
VI. TỶ LỆ TẤN CÔNG
Là một dạng đặc biệt của tỷ lệ mới mắc, được sử dụng trong trường hợp một quần thể
phơi nhiễm với chỉ một yếu tố nguy cơ trong một khỏang thời gian nhất định. (Ví dụ: ngộ
độc thức ăn từ cùng một nguồn, một tai nạn phóng xạ, một vụ nổ bom hạt nhân, vv ) ngoài
thời gian đó, số mới mắc là không đáng kể. Cũng có thể dùng tỷ lệ tấn công để ghi nhận số
mới mắc toàn bộ của một bệnh nghề ngiệp của các đối tượng từ 20 - 65 tuổi - là thời kỳ tối đa
có thể phơi nhiễm với yếu tố căn nguyên do nghề nghiệp.
Trong trường hợp không biết được căn nguyên, tỷ lệ tấn công ghi nhận tỷ lệ bị bệnh
trong suốt toàn bộ cuộc đời của họ.
Tỷ lệ mới mắc rất hay được dùng trong dịch tễ học, trong cả trường hợp bệnh cấp tính
và bệnh mãn tính, dùng nó để đánh giá các biện pháp kiểm soát, dự phòng đối với các hiện
tượng bệnh xảy ra hàng lọat.
Nếu như các biện pháp dự phòng là hữu hiệu cho cá thể và tập thể thì tỷ lệ mới mắc sẽ
giảm.
Với hiện tượng bệnh diễn biến hàng loạt trong cộng đồng, nếu như khoảng thời gian bị
bệnh của bệnh đó là tương đối dài, có thể biểu diễn tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ hiện mắc trên cùng
một đồ thị như sau: hình 2.5.

14

100

80

60

40

20 Khoảng
thời gian phơi nhiễm
Sự can thiệp của
tác nhân gây bệnh
1 2 3 4 5 6 7
8 9 1011121 2
tháng
Số mới mắc
Số hiện mắc
Hình 2.5: Số hiện mắc và số mới mắc trong thời kỳ bùng nổ của một vụ dịch (Dữ kiện giả định)
Như vậy: Trong 3 biến số trên, nếu biết được 2 biến số thì sẽ suy được biến số thứ 3.

Ví dụ :
1000
60
là tỷ lệ mới mắc ung thư trong một năm, thời gian trung bình của bệnh
ung thư này là 2 năm (2,0), thì tỷ lệ hiện mắc bệnh ung thư đó sẽ là
000.100

người bị bệnh, và 30 người chết sau một thời kỳ nhất định;
Hay: +
s: Quần thể có nguy cơ được nghiên cứu (1 000 người khỏe mạnh);
+
m: Số người bị bệnh trong số những người khỏe;
+
d : Số người bị chết trong số những người bị bệnh;
Thì: - Tỷ lệ bị bệnh
%10
1000
100
===
s
m

- Tỷ lệ chết
%3
000.1
30
===
s
d

- Tỷ lệ tử vong
%30
100
30
===
m
d

L;
- Hoặc đồng thời giảm cả hai,
I và L.

16

X. CÁC LOẠI TỶ LỆ CHẾT
Số chết do mọi nguyên nhân trong năm

000.100×

+ Tỷ lệ chết chung(thô) :
Tổng số quần thể vào giữa năm

Số người ở độ tuổi nhất định chết trong năm
+ Tỷ lệ chết theo tuổi:
000.100×
Tổng số người ở độ tuổi đó vào giữa năm
Tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi là thước đo quan trọng về mức sống, kinh tế - xã hội
của một quốc gia (bảng 2.2)
Bảng 2. 2: Tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi của một số nước(WHO 1989)
Nước
Tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi (/1000 trẻ sinh sống)
Nhật
Thụy điển
Thụy sỹ
Canađa
Pháp
Úc
Anh và xứ Galle

124
152
189

Số chết do một nguyên nhân nhất định
+ Tỷ lệ chết theo nguyên nhân:
Tổng số quần thể và giữa năm
000.100×

Số chết do một nguyên nhân nhất định
+ Tỷ lệ chết riêng phần :
100×

Số chết do mọi nguyên nhân

XI. CÁC TỶ LỆ VÀ CHỈ SỐ KHÁC
Để có thể đánh giá được tình trạng sức khỏe của một quần thể, cần phải sử dụng tới một
số tỷ lệ và chỉ số khác nữa, được cung cấp từ các nguồn khác nhau; có thể từ ngành y tế (của
các chuyên khoa khác), và các ngành khác. Có thể kể vài tỷ lệ, chỉ số sau đây:
- Tỷ lệ sinh, tỷ lệ khả năng sinh đẻ, tuổi thọ của một lớp tuổi, tháp tuổi được cung
cấp bởi ngành Dân số học.
- Chỉ số nghỉ việc (vắng mặt), được cung cấp của các ngành kinh tế.

17

- Tỷ lệ chết liên quan tới mang thai và sinh đẻ, tỷ lệ sinh thiếu tháng, tỷ lệ trẻ em suy
dinh dưỡng, cân nặng trung bình lúc sinh cung cấp bởi Nhi khoa, Sản khoa
- Chỉ số C.A.O
. của Nha khoa.
- Hy vọng sống: là số năm trung bình có thể sống tiếp của một người đã sống tới một

và trong không gian, nhiều trường hợp bị bệnh xuất hiện ở một địa phương và biến mất sau
một khoảng thời gian nhất định.
Thời gian
Sự
đáp
ứng

18

Khảo sát diễn biến của một vụ dịch, thường thấy một sự tăng nhanh các trường hợp mới
mắc lúc đầu, và sau đó có sự giảm dần, chậm hơn. Đây là kiểu đáp ứng sinh học của cơ thể và
của quần thể (đáp ứng “nguyên thủy” khi chưa có sự can thiệp trước các tác nhân gây bệnh
trong điều kiện nhất định của môi trường) - hình 2.6.
2. Đại dịch: (Pandémie)
Là hiện tượng xảy ra hàng loạt (tập trung các trường hợp bị bệnh) được giới hạn bởi
thời gian nhưng không được giới hạn bởi không gian.
Ví dụ: Đại dịch cúm: Bùng nổ nhanh chóng và lan tràn rộng khắp tới nhiều quốc gia,
châu lục vv và biến mất sau vài tháng.
Thường thì: Đại dịch của những bệnh lây theo đường hô hấp (như cúm) thì bùng nổ và
kéo dài trong khoảng thời gian tương đối ngắn. Đại dịch của những bệnh lây theo đường tiêu
hóa (như tả) thì thời gian kéo dài hơn.
3. Dịch địa phương (Endémie)
Là hiện tượng xảy ra hàng loạt được giới hạn bởi không gian, nhưng không được giới
hạn bởi thời gian.Thời gian không giới hạn ở đây nói lên, tại một địa phương nhất định,
thường xuyên có nhiều trường hợp mắc bệnh, tình trạng này kéo dài nhiều năm, nhiều chục
năm, vv ảnh hưởng tới nhiều thế hệ kế tiếp nhau.
Ví dụ : - Các bệnh thiếu dinh dưỡng, sốt rét, mắt hột là dịch địa phương ở các nước
chậm phát triển .
- Các bệnh tim mạch, béo phì, sâu răng xuất hiện dưới dạng dịch địa phương ở các nước
phát triển.

nghiệm hoặc các phương pháp phát hiện nhanh, vv để có thể biết được những người bị một
bệnh nào đó, hoặc một sự bất thường mà cho tới lúc đó (lúc tiến hành phát hiện, lúc làm test)
vẫn chưa có ai biết. Các kỹ thuật phát hiện bệnh trong cộng đồng phải phân chia quần thể
thành 2 nhóm: Nhóm những người hình như là khỏe mạnh nhưng có thể bị bệnh, và nhóm
người không bị bệnh đó. Mục đích của phát hiện bệnh không đặt ra cơ sở cho chẩn đoán, mà
những người có kết quả dương tính sẽ được gửi tới thầy thuốc của họ để chẩn đoán xác định
và nếu cần thiết thì điều trị.
Để tiến hành một chương trình phát hiện bệnh trong cộng đồng thì phải xác định được:
- Bệnh nào cần phát hiện.
- Bệnh hay xảy ra ở nhóm người nào.
- Dùng kỹ thuật nào để tiến hành phát hiện bệnh.
Phương pháp phát hiện bệnh thường được sử dụng trong các cuộc điều tra DTH, tìm tỷ
lệ hiện mắc (Taux de prévalence) một bệnh nào đó trong quần thể, trong các cuộc khảo sát có
hệ thống để đánh giá tình trạng sức khỏe và bệnh tật của toàn bộ cộng đồng, là cơ sở cho một
chương trình can thiệp. Người ta có thể tiến hành phát hiện bệnh trong cộng đồng bằng các
cách khác nhau:
- Đơn giản: Chỉ dùng một test để phát hiện một bệnh.
- Đa dạng: dùng một test phát hiện hơn một bệnh.
- Nhiều giai đoạn: Dùng hơn một test để phát hiện một bệnh, hoặc tiến hành nhiều giai
đoạn.
- Bất kỳ (cơ hội): Thực hiện ở các cơ sở y tế mỗi khi có người tới khám. (Ví dụ: Phát
hiện bệnh ung thư cổ tử cung ở khoa phụ sản).
- Có hệ thống: thực hiện trên toàn bộ quần thể.
- Chọn lọc: Tiến hành trên nhóm có nguy cơ cao.
- Phát hiện sớm: Ở giai đoạn bệnh chưa có biểu hiện lâm sàng.
- Phát hiện muộn: Những trường hợp bị bỏ quên trong cộng đồng.
- Nhiều lần và liên tục: Nằm trong công tác giám sát dịch tễ từng bệnh.
2. Tiêu chuẩn về bệnh để tiến hành phát hiện bệnh
WHO quy định:


kết quả của một test tốt nhất hiện có, sẽ cho kết quả như sau:

TEST ĐỐI CHIẾU

Có bệnh Không bệnh Tổng
TEST
NGHIÊN CỨU
(+)
(-)
a (thật)
c (giả)
b (giả)
d (thật)
a + b
c + d

Tổng a + c b+ d a + b + c + d
1.1. Độ nhạy (Sensibilité)
Độ nhạy của một thử nghiệm là tỷ lệ giữa các kết quả dương tính thật so với tổng số
người bị bệnh thật sự, hay chính là khả năng phát hiện bệnh của thử nghiệm đó.
1.2. Độ đặc hiệu (Spécifilité)
Độ đặc hiệu của một thử nghiệm là tỷ lệ giữa các kết quả âm tính thật so với tổng số
người lành thật sự hay chính là khả năng nói lên sự không có bệnh của thử nghiệm đó.
1.3. Giá trị tiên đoán của kết quả dương tính (Valeur prédictive du résultat positif)

21
Giá trị tiên đoán của kết quả dương tính là tỷ lệ giữa các kết quả dương tính thật so với

=
ba
a
Vp

- Giá trị tiên đoán của kết quả âm tính:
;100×
+
=
cd
d
Vn

- Giá trị tổng quát:
;100×
+++
+
=
dcba
da
Vg

Ví dụ A Ví dụ B

Thiếu
máu
Bình
thường
Tổng


trong các chương trình phát hiện bệnh.
2. Biến số liên tục - cơ sở của việc chẩn đoán
Vấn đề quan trọng nhất trong việc chẩn đoán của một thử nghiệm là chọn lựa ngưỡng
ranh giới giữa người bình thường và người bị bệnh. Nếu như các biến số liên tục phân phối

22
PHÂN PHỐI “HAI ĐỈNH”
Bình thường

A

B

E

Mắc bệnh
Ranh giới


Đôi khi phải sử dụng cùng một lúc 2 nghiệm pháp để phát hiện một bệnh để làm tăng độ
nhạy và độ đặc hiệu của viêc phát hiện bệnh.
Ví dụ: Để phát hiện bệnh giang mai:
Tổng số người được kiểm tra qua thử nghiệm:

Giai đoạn 1: Test có độ nhạy cao _________ RPR (-) (+)
Giai đoạn II: Test có độ đặc hiệu cao ____________ FTA - ABS

Các cas (+) sai ở giai đoạn I (-) (+)
III. LỰA CHỌN THỬ NGHIỆM TRONG PHÁT HIỆN BỆNH
Về nguyên tắc thì vạch ranh giới không cố định . Một test có độ nhạy, độ đặc hiệu
<80% là không tốt. Nếu để phát hiện một bệnh nặng có thể chết, phải được điều trị bằng mọi
giá, người ta phải nghiên cứu một test có độ nhạy thật cao (nhằm tránh bỏ sót). Các quyết
định liên quan tới việc áp dụng các test trong chẩn đoán tùy thuộc vào bệnh nghiên cứu và các
điều kiện thực tiễn trong cộng đồng. Theo Galem và Gambino: Sự lựa chọn một test trong
thực tiễn như sau:
1. Một test có độ nhạy cao phải được ưu tiên
- Một bệnh nặng, không thể không biết
- Bệnh có thể điều trị được.
- Khi kết quả dương tính sai không gây nên thương tổn về tâm lý hoặc kinh tế cho người
được khám nghiệm.
Ví dụ: Bệnh Phéocromocytome chết nếu không biết, kiểm soát được 100% (nếu được
can thiệp), bệnh Phénylcétonurie, bệnh hoa liễu, các bệnh nhiễm trùng khác có thể điều trị
được .
2. Phải sử dụng test có độ đặc hiệu cao
- Một bệnh nặng nhưng khó điều trị hay nan y .
- Khi cho họ biết họ không có bệnh thì có ý nghĩa quan trọng về tâm lý và sức khỏe.

trình y tế ưu tiên khác (nhằm cân nhắc vấn đề tài chính).
Ngoài các tiêu chuẩn trên, vấn đề chọn lựa bệnh còn tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế
địa phương và tính chất bệnh tật của xã hội.
2. Test:
Trước khi đưa một test phát hiện bệnh vào sử dụng trong cộng đồng, sự hiểu
biết của chúng ta về giá trị của test đó vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ. Hơn nữa, test này
sử dụng tốt cho quần thể này nhưng chưa chắc đã tốt cho quần thể khác. Trong thực tế,
sử dụng nghiệm pháp phát hiện bệnh, là một sự hướng dẫn cần thiết cho chẩn đoán sau
đó.
Thử nghiệm phát hiện bệnh và thử nghiệm chẩn đoán khác nhau cơ bản như sau:
Test chẩn đoán Test phát hiện bệnh
- Áp dụng cho người có một sự rối loạn nhất định;
-Thực hiện trên từng cá nhân;
-Tốn kém hơn Chính xác hơn;
-Là cơ sở của điều trị;
- Áp dụng cho người có vẻ ngoài khỏe mạnh;
- Thực hiện trên từng nhóm ;
- Ít chính xác, ít tốn kém;
- Chưa phải là cơ sở cho điều trị;

25
Ví dụ: +
Đối với bệnh Lao:
- Xét nghiệm VSV. trong đờm - Chụp hình phổi (X quang)
+ Đối với bệnh Ung thư cổ tử cung:
- Sinh thiết vùng tổn thương - Phiến đồ âm đạo
Trên thực tế, người ta dựa vào độ nhạy và độ đặc hiệu của nghiệm pháp để sử dụng khi

thể, và P (
B
) = 1 - P (B);
(3) - dt là kết quả dương tính của test.
- at là kết quả âm tính của test.
(4) P(dt/B): Xác suất của kết quả dương tính từ người bị bệnh, hay là độ nhạy của test,
được ước lượng bằng:
ca
a
+
, và được tính bằng %.
(5) P(at/B) : Xác suất của kết quả âm tính từ người bị bệnh, hay là xác suất của kết quả
âm tính sai, và
() ()
BdtPBatP −= 1 .

26


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status