BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------------- NGUYỄN NGỌC THÙY DUNG
VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY
HỌC CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” LỚP 10 THPT
BAN CƠ BẢN Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số: 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
hất để tôi thực hiện luận
văn.
Cám ơn Ban Giám hiệu trường THPT Tân Phong, nơi tôi đang công
tác đã tạo điều kiện để tôi thực nghiệm trong quá trình làm luận văn.
Cám ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện luận văn. 49B48B47B46B45B44B43B42B41B40B39B38B37B36B35B34B33B32B31
B30B29B28B27B26B25B24B23B22B21B20B19B18B17B16B15B14B13B1
2B11B10B9B8B7B6B5B4B3B2B1B0B1H2H3H4H5H6H7H8H9H10H0H
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THPT : trung học phổ thông
TN : thực nghiệm
ĐC : đối chứng
hs : học sinh
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để đất nước bắt kịp xu hướng phát triển của thế giới, chúng ta
cần phải có những con người mới năng động, tự lực và sáng tạo. Chính
điều này đã đặt ra cho ngành giáo dục nhiệm vụ đổi mới trong phương
pháp dạy học. Nhưng đổi mới theo phương pháp cụ thể nào thì còn phải
chọn lựa cho phù hợp với từng đối tượng con người và nội dung dạy
học.
Chúng ta có thể dễ dàng chọn lựa và áp dụng phương pháp dạy
học dự án cho những học sinh ưu tú nhưng liệu có thể áp dụng cho đối
tượng đã là học sinh lớp 10 mà việc chuyển vế một phương trình bậc
Đối tượng nghiên cứu: nội dung và phương pháp dạy học chương
“Chất khí” lớp 10 THPT ban Cơ bản theo phương pháp dạy học theo
chủ đề .
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu vận dụng phương pháp dạy học theo chủ đề vào chương
“Chất khí” thành công thì sẽ nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức ở
học sinh đồng t
hời giúp học sinh năng động, tự lực hơn trong quá trình
học .
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Vận dụng phương pháp dạy học theo chủ đề trong dạy học
chương “Chất khí” lớp 10 THPT ban Cơ bản tại trường THPT Tân
Phong Quận 7, TP. Hồ Chí Minh.
6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lý luận của p
hương pháp dạy học theo chủ đề.
Xây dựng các tiến trình dạy học theo phương pháp dạy học theo
chủ đề đối với chương “Chất khí” lớp 10 THPT ban Cơ bản.
Soạn thảo bài giảng điện tử theo phương pháp dạy học theo chủ
đề đối với chương “Chất khí” lớp 10 THPT ban Cơ bản.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Tân Phong
Quận 7, TP.HCM
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận
Vận dụng lý luận vào việc xây dựng tiến trình dạy học
Tiến hành thực nghiệm sư phạm Chương 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY
Nam xã hội chủ nghĩa” [13].
Các quan điểm về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích
cực, lấy người học làm
trung tâm:
Từ thế kỉ 19, quan điểm giáo dục lấy học sinh làm trung tâm đã bắt đầu
phát triển. Theo Johann Heinrich Pestalozzi (1746-1827) là nhà giáo dục
Thụy Sĩ: sư phạm phải là một phương pháp khoa học có ý nghĩa thực dụng,
đề cập việc giảng dạy liên quan đến mọi khía cạnh cuộc sống, được xây dựng
trên một kiến thức sâu rộng. Kinh nghiệm phải đi trước sáng kiến và óc tưởng
tượng. Những bài học phải liên quan đến các sự việc thực tế để học sinh có
thể liên tưởng đến c
uộc sống chung quanh. Từ đó các tư tưởng trừu tượng sẽ
được học hỏi dần. Chỉ có thể hành động khi biết hành động như thế nào, có
nghĩa là các bài học đều hướng về học sinh, lấy học sinh làm trung tâm.[19]
Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu, song song
với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng. việc giảng dạy các môn
khoa học trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học,
bởi vậy không thể cứ tiếp tục giảng dạy c
ác khoa học như là những lĩnh vực
tri thức riêng rẽ.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình
nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa
biết mà nhằm phát hiện lại những tri thức loài người đã tích lũy được. Trong
học tập, học sinh cũng phải khám
phá ra những hiểu biết mới đối với bản thân
thì học sinh mới thật thông hiểu, ghi nhớ và vận dụng được. Đó là chưa kể khi
lên đến trình độ nhất định thì sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu
khoa học và người học cũng làm ra tri thức mới cho khoa học. Khác với
nghiên cứu khoa học, hoạt động học tập không phải là quá trình mò mẫm tự
Nội lực: sức học, sức tự học, tự phát triển của trò (học là hoạt động nhận
thức tích cực, tự lực, sáng tạo của người học).
Theo cơ sở triết học thì tác động của ông thầy dù quan trọng đến mức
“không thầy đố mày làm nên” thì vẫn là ngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác,
tạo điều kiện cho trò tự phát triển và trưởng thành. Tác động của m
ôi trường
xã hội dù là quan trọng đến mức “học thầy không tày học bạn” hay giáo dục
tay ba: nhà trường, gia đình, xã hội thì vẫn là ngoại lực giúp đỡ tạo điều kiện
thuận lợi cho người học.
Sức tự học hay năng lực tự học của trò dù còn non nớt đến đâu vẫn là nội
lực quyết định sự phát triển của bản thân người học. Và chất lượng giáo dục
đạt kết quả cao nhất khi tác động của thầy_ ngoại lực cộng hưởng được với
năng lực tự học của trò_
nội lực, nghĩa là khi thầy bồi dưỡng và phát huy đến
cao độ năng lực tự học của trò.
Do đó không thể nhấn mạnh một chiều hoặc tách rời nội lực với ngoại lực
mà là kết hợp chặt chẽ, mật thiết nội lực với ngoại lực, nhằm t
iến tới đỉnh cao
của chất lượng phát triển là cộng hưởng nội lực, ngoại lực với nhau. Nói cách
khác, quá trình tự học, tự nghiên cứu (cá nhân hóa) phải kết hợp với quá trình
hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học và quá trình dạy của nhà giáo (xã
hội hóa). Đó là quan điểm nội lực quyết định của dạy-học tích cực, lấy việc
học (trò) l
àm trung tâm.
Cơ sở sư phạm:[13]
Mô hình dạy học thụ động, lấy việc dạy của người thầy làm trung tâm,
nhấn mạnh và đề cao vai trò của thầy, của việc dạy.
Trong đó, thầy là chủ thể, trung tâm, đem kiến thức sẵn có truyền đạt
giảng giải cho học sinh, là người trao. Thầy có quyền về tri thức, đánh giá,
chủ thể người lớn.
Cơ sở sinh học: [13
]
Cơ sở sinh học của mô hình dạy học thụ động lấy việc dạy ( thầy ) làm
trung tâm là theo học thuyết của I.P.Pavlop (ví dụ: thí nghiệm cho chó ăn sau
khi bật sáng đèn hoặc bấm chuông reo).
Theo Pavlop, dạy là thành lập những phản xạ có điều kiện hình thành kinh
nghiệm hành động.
Học là hình thành những phản xạ trả lời mới chưa có trong vốn phản xạ
không điều kiện được di truyền.
Cơ chế để hình thành một phản xạ có điều kiện là phối hợp một kích
thích có điều kiện với một kích thích không điều kiện để tạo ra một trả lời
không điều kiện.
Theo cách đó, quy trì
nh dạy học bao gồm các khâu:
Xác định yêu cầu cần dạy, tức là định rõ phản xạ có điều kiện sẽ hình
thành; chọn tác nhân kích thích; tiếp theo đó là biến tác nhân kích thích t
rung
tính thành tác nhân kích thích có điều kiện.
Tăng hiệu quả dạy học: bằng cách kết hợp tác nhân kích thích trung
tính với tác nhân kích thích không điều kiện một số lần tối thiểu để củng cố
phản xạ trả lời, hoặc là bằng cách tăng cường độ kích thích không điều kiện
để thúc đẩy động cơ học.
Cơ sở sinh học của mô hình dạy học tích cực lấy việc học của trò làm
trung tâm
là học thuyết của B.F.Skinner.
Theo Skinner, cha đẻ của điều khiển học, học là tự điều hòa hành vi để
dẫn tới một hành vi mong muốn bằng cách thử sai. (ví dụ: thí nghiệm dạy
chim bồ câu tự tìm lấy thức ăn ; thí nghiệm dạy chuột đạp cần câu cơm).
Từ thực nghiệm, Skinner rút ra ba kinh nghiệm lý thuyết:
được tổ chức lại từ một phần chương
Giáo viên quyết định (áp đặt) tiến
trình học tập của học sinh.
Phù hợp với một số học sinh có cách
tư duy:logic, tuần tự, chặt chẽ.
Mục tiêu: kiến thức mới thông qua
hoạt động, bồi dưỡng các phương
thức tư duy khoa học. Dạy theo từng bài ri
êng rẽ trong một
thời lượng cố định dành cho từng
bài.
trình học
Kiến thức thu được là những khái
niệm liên hệ mạng lưới với nhau.
Trình độ nhận thức có thể đạt: phân
tích, tổng hợp, đánh giá.
Kết thúc chủ đề: có một tổng thể
kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và
khác với nội dung sách giáo khoa.
Kiến thức gần với thực tiễn.
Sau khi kết thúc chủ đề hiểu biết
vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung
cần học.
1.3. Những nét đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề [14]
Các kiến thức cần truyền đạt cho học sinh có thể liên quan đến một hay
nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên ngành khác nhau.
Tận dụng tối đa những kinh nghiệm của học sinh có liên quan đến kiến
thức của chủ đề học tập.
Định hướng cho học sinh nhận thức những kiến thức trong chủ đề bằng
hệ thống các câu hỏi định hướng. Hệ thống kiến thức chặt c
hẽ, sát thực và
thiết thực, quá trình học tập thoải mái, luôn tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh
đạt mục đích học tập và phát triển bản thân.
Nếu thành công, phương pháp dạy học theo chủ đề sẽ giúp học sinh phát
huy tính chủ động, tự tin, tự vận động, năng động, độc lập và tính độc đáo của
cá nhân.
Tận dụng được các p
hương tiện, công cụ học tập xung quanh học sinh.
Thích ứng với từng đối tượng học sinh.
Rèn luyện được khả năng làm việc theo nhóm, tính hợp tác của học sinh.
Khó khăn, hạn chế của dạy học theo chủ đề:
Khi khai thác chủ đề, các câu hỏi học sinh đưa ra có thể vượt ra khỏi
phạm vi chương trình, giáo viên khó đưa đến cho học sinh một câu trả lời thỏa
đáng.
Giáo viên phải năng động, sáng tạo, là người có vai trò nhất định trong
việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn nội dung chương trình học tập của học
sinh.
Vấn đề thời gian là quyết định rất lớn trong dạy học theo chủ đề.
1.4. Những nét mới trong dạy học theo chủ đề [14]
1.4.1. Những định hướng chung
gọi là câu hỏi nội dung và câu hỏi bài học.
_ Câu hỏi bài học: là câu hỏi gắn với nội dung bài học, sát thực, cụ thể.
Câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học là sự tiếp nối của những vấn đề
đang được phân tích, tìm hiểu, chúng có tác dụng định hướng, khuyến khích
người học để đi đến những kiến thức q
uan trọng của nội dung bài học. Nếu
không xây dựng những câu hỏi định hướng này thì học sinh sẽ không liên kết
dẫn đến hiểu không đầy đủ về trọng tâm do đó không đạt mục đích đã đề ra.
_ Câu hỏi nội dung: là câu hỏi có chủ đề riêng biệt, cụ thể với các nội
dung chi tiết nhằm gợi ý trả lời cho câu hỏi bài học và câu hỏi khái
quát. Loại câu hỏi này tạo nên dàn bài cho nội dung bài học.
1.4.3. Bài tập cho chủ đề học tập
Là loại bài tập gắn liền với thực tiễn, cần khả năng vận dụng sáng tạo
các kiến thức học tập và kinh nghiệm sống của học sinh trong chủ đề. Bài tập
loại này có tính mở, phải thực hiện trong thời gian dài.
Thông qua
việc thực hiện những bài tập như vậy, học sinh sẽ nhận thấy
việc học là một phần của cuộc sống chứ không mang tính ép buộc, áp đặt,
tách rời cuộc sống.
1.5. Sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học theo chủ đề
1.5.1. Khái niệm bài giảng điện tử [10], [23]
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ
kế hoạch hoạt động dạy học đều được “
chương trình hóa” do giáo viên điều
khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra.
Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền
thông. Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng:
văn bản, đồ họa, ảnh động, ảnh tĩnh, âm thanh và phim video.
1.5.2. Dạy học theo chủ đề có sử dụng bài giảng điện tử
Phương trình trạng thái khí lý tưởng
Phát biểu được nội dung cơ bản của
thuyết động học phân tử chất khí
Nêu được các đặc điểm của khí lý
tưởng
Phát biểu được các định luật Boyle –
Mariotte, Charles
Nêu được nhiệt độ tuyệt đối là gì
Nêu được các thông số p, V , T xác
định trạng thái của một lượng khí
Viết được phương trì
nh trạng thái của
khí lý tưởng
const
T
pV
Kỹ năng
Vận dụng được phương trình trạng
thái khí lý tưởng
Vẽ được đường đẳng tích, đẳng áp, và
đường đẳng nhiệt trong hệ tọa độ (p,
V)
2.1.2. Cấu trúc nội dung chương “Chất khí” theo sách giáo khoa
lớp 10 THPT ban Cơ bản [3]
nên người dạy khó thuyết phục học sinh của mình, thí nghiệm thiếu, thời
lượng dành cho chương ít nên giáo viên sẽ không đào sâu mà dễ xảy ra trường
hợp dạy cho có.
2.3. Vận dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học chương “Chất khí”
lớp 10 THPT ban Cơ bản
2.3.1. Cấu trúc lại nội dung chương “Chất k
hí” lớp 10 THPT ban
Cơ bản
Nội dung chương “Chất khí” sẽ được trình bày lại một cách hệ thống,
phù hợp để trả lời những câu hỏi định hướng, và sau đó thì đạt được các mục
tiêu về kiến thức và kỹ năng đã đề ra.
Câu hỏi khái quát: chất khí biến đổi trạng thái như thế nào? Tại sao?
Quá trình biến đổi trạng thái đó có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của
chúng ta?
Từ câu hỏi khái quát trên sẽ dẫn học sinh đến những câu hỏi bài học
như sau: quá trình biến đổi trạng thái khí tuân the
o quy luật chung nào? Có
những cách biến đổi trạng thái khí cụ thể nào? Tại sao lại như vậy?
Để trả lời những câu hỏi bài học như trên học sinh cần trang bị kiến
thức (câu hỏi nội dung):
_ Phát biểu nội dung cơ bản của thuyết động học phân tử chất khí.
_ Nêu đặc điểm của kh
í lý tưởng.
_ Nêu được các thông số p, V, T xác định trạng thái của một lượng khí.
_ Viết được phương trình trạng thái khí lý tưởng
const
T
pV
Học sinh Giáo viên
Thức ăn, nước uống, tiền, không
khí…
Không khí.
Mọi nơi xung quanh ta.
Học sinh tự làm việc theo nhóm tìm
hiểu về thuyết động học phân tử.
Tự đọc sách để trả lời câu hỏi: p, V, TKhí lý tưởng là chất khí mà các phân
tử khí được xem như chất điểm và chỉ
tương tác khi va chạm. [1], [3] Đố các em cái gì quý nhất, nếu không
có nó chúng ta không thể sống được?
Thiếu nước uống và thức ăn con
người có thể kéo dài
sự sống trong 4
ngày nhưng nếu thiếu không khí thì
chỉ trong vài phút con người sẽ chết.
Vậy cái gì quý nhất?
Chất khí có ở những đâu?
Chất khí có cấu tạo và vận động như
Quá trình biến đổi trạng thái khí tuân
theo quy luật chung nào? (nếu học
sinh không thể nhận ra ngay thì cần
có gợi ý: quá trình biến đổi trạng thái
khí là biến đổi từ trạng thái 1 sang
trạng thái 2; mỗi trạng thái được xác
định bởi 3 thông số p, V, T. Vậy mối
liên hệ tổng quát nhất của mối liên hệ
3 thông số này là gì?)
Nếu học sinh nhận định sai lầm với 3
định l
uật Boyle – Maroitte, Charles,
Gay Lusac thì cần nhận xét cho học
sinh thấy chỗ sai lầm.
Trong những trường hợp biến đổi đặc
biệt, được giữ cố định lần lượt 1 trong
3 thông số thì sẽ có mấy quá trình
biến đổi cụ thể? Đó là gì?
Với định luật Boyle – Mariotte, quá
trình đẳng nhiệt, tại sao
V
p
1
~
?
Với định luật Charles, quá trình đẳng
tích, tại sao p ~ T?
…………………………………………………………………………………
Muốn xác định trạng thái khí người ta dựa vào những yếu tố nào?