ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯƠNG THỊ DUNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO
CỦA HỌC SINH QUA DẠY HỌC NHÓM KHI DẠY
CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” LỚP 10 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên, năm 2013 Thái Nguyên, năm 2013 i
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS.
Tô Văn Bình đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình hoàn
thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp
giảng dạy vật lý, Ban chủ nhiệm khoa vật lý, Phòng sau đại học – Trường ĐHSP
Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường THPT
Đồng Hỷ, trường THPT Gang Thép, trường THPT Bắc Sơn đã tạo điều kiện sẵn
sàng giúp đỡ em hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân, các anh chị bạn
đọc đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013
Tác giả:
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các biểu đồ v
Danh mục các đồ thị v
Các chữ viết tắt trong luận văn vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH
TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH QUA DẠY HỌC
NHÓM 4
1.1. Tính tích cực tự lực và sáng tạo của học sinh 5
1.1.1. Tính tích cực của học sinh 5
1.1.2 Tính tự lực của học sinh 9
1.1.3. Tính sáng tạo của học sinh 16
1.2 Nội dung của dạy học hiện đại 21
1.2.1 Thế nào là dạy học hiện đại 21
1.2.2. Chức năng của hoạt động dạy và hoạt động học trong dạy học hiện đại 23
1.2.3. Dạy học theo xu hướng tích cực 26
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 73
3.1.1. Mục đích 73
3.1.2. Nhiệm vụ 73
3.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm 73
3.3. Phương pháp đánh giá thực nghiệm sư phạm 74
3.4. Tiến hành thực nghiệm 75
3.4.1. Công tác chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 75
3.4.2. Tổ chức thực hiện 75 3.5. Kết quả thực nghiệm 76
3.5.1. Yêu cầu chung về xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 76
3.5.2. Đánh giá hiệu quả dạy học nhóm đối với việc phát huy tính tích cực, tự chủ,
sáng tạo của học sinh qua các biểu hiện trong giờ học 78
3.5.3. Đánh giá hiệu quả dạy học nhóm đối với việc phát huy tính tích cực, tự chủ,
sáng tạo của học sinh qua bài kiểm tra 78
KẾT LUẬN CHUNG 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 94
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Phương pháp và phương tiện dạy học 38
Bảng 1.2. Tổ chức hoạt động dạy học 39
Bảng 3.1. Đặc điểm chất lượng học tập bộ môn của các lớp TN và ĐC 74
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả, thái độ , tình cảm, tác phong của HS 78
Bảng3.3. Kết quả bài kiểm tra số 1 79
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1. Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 1 81
Đồ thị 3.3. Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 2 84
Đồ thị 3.3. Đồ thị đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 3 87
vi
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Giáo dục và đào tạo GD-ĐT
Phương pháp PP
Phương pháp dạy học PPDH
Phương pháp dạy học tích cực PPDHTC
Tính tích cực TTC
Tự lực trong học tập TLTHT
Hoạt động tổ chức dạy học HĐTCDH
Hình thức tổ chức dạy học HTTCDH
Giáo viên GV
Học sinh HS
Trung học phổ thông THPT
201/2001/QĐ – TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001) của Thủ tướng Chính phủ ở mục
5.2 ghi rõ “ Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc
truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ
động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự
học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích tổng hợp,
phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động tích cực của học
sinh, sinh viên trong quá trình học tập….” 2
. Vài thập kỉ gần đây đã có nhiều nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS. Việc đổi mới phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học, trong đó có dạy học nhóm nhằm phát triển tính tích
cực, tự chủ, sáng tạo của HS trong học tập đang được nhiều GV quan tâm, nghiên
cứu và vận dụng. Tuy nhiên ở nhiều trường PT vẫn còn tình trạng thầy đọc, trò ghi
xen kẽ vấn đáp, giải thích minh họa, không tổ chức hoạt động nhóm.
Môn vật lý là một môn khoa học thực nghiệm vì vậy có nhiều điều kiện phát huy
khả năng tự lực, sáng tạo, làm chủ kiến thức cho HS. Để đạt kết quả đó, GV phải
biết kết hợp các hình thức tổ chức, các PPDH với các phương tiện dạy học hợp lí
theo một tiến trình nhất định. Hiện nay các trường PT đã được trang bị nhiều
phương tiện dạy học, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đổi mới trong dạy học.
Trên thế giới, việc đổi mới nội dung chương trình và cách tiếp cận nội dung chương
trình dạy học của nhiều quốc gia có xu hướng theo chủ đề tự chọn thông qua hoạt
động nhóm. Ở nước ta, phương thức dạy học thông qua hoạt động nhóm cũng đã
được áp dụng ở phổ thông nhưng nhưng nhìn chung còn ít. Kết quả nghiên cứu ban
đầu cho thấy, dạy học nhóm đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực của mỗi học sinh trong
quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Vì nó chú ý đến sự tương tác giữa thầy và
trò, giữa trò và trò. Phương pháp này đề cao vai trò tích cực, tự chủ của học sinh,
học sinh có nhiều cơ hội, bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình trước một vấn
- Day học nhóm trong dạy học vật lí
- Chương “Chất khí” vật lý 10 THPT
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo
của học sinh THPT.
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của LLDH hiện đại và hình thức tổ
chức dạy học nhóm.
- Nghiên cứu vận dụng cơ sở lý luận dạy học hiện đại vào dạy học
nhóm trong dạy học vật lí để phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của
học sinh THPT.
- Điều tra thực trạng dạy học nhóm phần kiến thức chương “Chất khí” Vật lí
10 THPT theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh THPT. 4
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc, đặc điểm chương “Chất khí” Vật lí 10
THPT
- Thiết kế dạy học nhóm một số kiến thức chương “Chất khí” Vật lí 10
THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
- TNSP để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu thực tiễn ( Điều tra thực tế )
- Thực nghiệm sư phạm ( Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí
số liệu)
7. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu và thiết kế tiến trình dạy thông qua hoạt động nhóm của phần
kiến thức về chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT
8. Đóng góp của luận văn
Theo nghĩa khác thì tích cực là đem hết khả năng và tâm trí vào việc làm. Ví
dụ học tập tích cực.
Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao.
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời
sống xã hội. Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá ra các quy
luật, định luật để phục vụ cho con người, giúp con người có thể làm việc hiệu
quả, giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên, hay dự đoán trước được hiện
trượng.Tuy vậy TTC có mặt tự phát và tự giác. Theo TSKH Thái Duy Tuyên mặt
tự phát của TTC là những yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh thể hiện ở tính tò
mò, hiếu kỳ, linh hoạt trong đời sống hàng ngày. Mặt tự giác của TTC là trạng
thái tâm lý. TTC có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm
lĩnh đối tượng đó. TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư
duy, tính tò mò trong khoa học… Nhờ TTC tự giác, có ý thức, con người có thể
đạt được những tiến bộ trong đời sống và phát triển nhanh hơn so với tính tích
cực tự phát. Vì vậy hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong các nhiệm
vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và
góp phần phát triển cộng đồng.
+ Tích cực trong học tập 6
Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi hoc. Thông qua quá trình học
tập, con người nhận thức được, lĩnh hội được những tri thức loài người đã tích luỹ
được, đồng thời có thể nghiên cứu và tìm ra những tri thức mới cho khoa học.
TTC trong hoạt động học tập về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở
khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri
thức. Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: tri giác
tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng… và được thể hiện ở nhiều
hình thức đa dạng phong phú.
nhất của TTC.
1.1.1.3. Các cấp độ của tính tích cực
Nói về TTC người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người học trong
quá trình thực hiện mục đích dạy học chung. Một cách khái quát I.F.Kharlamop viết
: “TTC trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, được dặc
trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ, Với nghị lực cao trong quá trình
nắm vững kiến thức cho chính mình”.
+ Các cấp độ của tính tích cực
- Tính tích cực bắt trước tái hiện: Xuất hiện do tác động kích thích bên ngoài
( yêu cầu của giáo viên), nhằm chuyển đối tượng từ ngoài vào trong theo cơ chế “
hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc”. Nhờ đó kinh nghiệm hoạt động
được tích luỹ thông qua kinh nghiệm của người khác.
Tái hiện và bắt chước là TTC ở mức độ thấp. Có thể giáo viên thay đổi
một chút dữ kiện là học sinh lúng túng không làm được. Nhưng nó lại là tiền đề
cơ bản giúp các em nắm được nội dung bài giảng để có điều kiện nâng TTC lên
mức cao hơn.
- Tính tích cực tìm tòi: xuất hiện cùng với quá trình hình thành khái niệm,
giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở
có tính tự giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý trí của học sinh.
Loại này xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên mà còn hoàn toàn tự phát
trong quá trình nhận thức. Nó tồn tại không chỉ ở trạng thái, cảm xúc mà còn ở dạng
thuộc tính bền vững của hoạt động. Ở mức độ này tính độc lập cao hơn mức trên,
cho phép học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho mình phương tiện thực hiện.
Ý thức tìm tòi giúp các em say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến thức
đã học theo nhiều hướng khác nhau, kiểm tra lại những kiến thức đã học trước đó. 8
Ý thức tìm tòi là phẩm chất của trí tuệ. Đó là sự độc lập trong tư duy, tự mình phát
9
HS và HS, chiếm được lòng tin yêu từ học sinh, có phương pháp tổ chức điều khiển
lớp học hợp lý và gây được hứng thú học tập, tạo điều kiện học sinh phát huy hết
khả năng của mình.
+ Ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo niềm tin khoa học cho HS, kích
thích óc sáng tạo của học sinh trong lớp học tập.
Tuy nhiên để thực hiện được các biện pháp trên thì học sinh phải có những
điều kiện:
+ Có phương tiện vật chất kĩ thuật tối thiểu cho học tập.
+ Có kiến thức, kĩ năng cơ bản, biết cách khắc phục khó khăn, niềm tin vào
năng lực bản thân
+ Phải ý thức được nhiệm vụ, cũng như mục đích học tập của bản thân học
sinh, tạo được hứng thú nhận thức cá nhân.
+ Phải biết tiến hành các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái
quát hoá, trừu tượng hoá…và các suy luận logic: Quy nạp, diễn dịch…để rút ra kết
luận.
+ Biết tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập, từ đó tự chỉnh quá trình học tập
cho phù hợp.
+ Được học trong môi trường sư phạm thuận lợi.
1.1.2 Tính tự lực của học sinh
1.1.2.1. Quan điểm về tính tự lực của học sinh
+ Theo nghĩa rộng:
Bản chất của tính tự lực trong học tập là sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho sự
tự học. Sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọng cho hoạt động học tập có mục đích,
cho sự điều chỉnh đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Nó giúp cho người học thực
hiện có kết quả trách nhiệm học tập của mình, sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm
và những phẩm chất cá nhân của mình một cách đúng đắn hợp lý giữa sự tự kiểm
tra và biết xây dựng lại hoạt động của mình khi gặp những trở ngại mà bản thân
chưa có sự đề phòng trước.
1.1.2.2. Biểu hiện của tính tự lực của học sinh
- Ý thức được nhu cầu học tập của mình, yêu cầu của xã hội, của tập thể,
hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra đối với việc học tập của mình. 11
- Ý thức được mục đích học tập, thực hiện được mục đích đó, làm thoả mãn
nhu cầu nhận thức của mình.
- Suy nghĩ kĩ, đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tập của mình,
tích cực hoá những kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được.
- Dự đoán trước những diễn biến tâm lý: cảm xúc động cơ, ý chí….đánh giá
đúng mối tương quan giữa khẳnng nguyện vọngvà sự cần thiết phải đạt được kết
quả học tập nhất định.
Tính tự lực nhận thức bao gồm những thành phần cấu trúc sau:
- Động cơ nhận thức: Thể hiện ở nhu cầu, hứng thú nhận thức, động cơ có
tính chất xã hội và thế giới quan, thiếu động cơ nhận thức thì không thể diễn ra hoạt
động nhận thức học tập.
- Năng lực học tập : Đặc trưng bằng tri thức, kĩ năng kĩ sảo vững vàng làm
chỗ dựa cho hoạt động nhận thức, bằng sự phát triển trí tuệ, phương pháp suy nghĩ.
Nhờ đó, người học có thể dễ dàng tự mình xác định được nhiệm vụ nhận thức, thay
đổi những cách thức hành động của mình để phù hợp với những hoàn cảnh mới và
biết đánh giá đúng những yêu cầu và nhiệm vụ đã đề ra. Từ đó mới có thể tự lĩnh
hội tri thức mới từ những nguồn nhận thức khác nhau, có thái độ phê phán, bình
phẩm trong học tập, biết vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được để tự học, giải
quyết nhiệm vụ do thực tiễn học tập và thực tiễn cuộc sống đặt ra. Nhờ đó, niềm tin
để bảo vệ ý kiến của mình, bảo vệ chân lý.
- Sự tổ chức học tập là sự thống nhất giữa phương pháp suy nghĩ và phương
pháp lao động chung của hoạt động tự lực nhận thức.
- Hành động ý chí: thể hiện ở tính mục đích, tính kiên trì, tinh thần kắc phục
hứng thú, động cơ học tập, khả năng nhận thức, giao tiếp…tức là bản thân người
học sinh cần có ý thức phát huy tính TLTHT bằng cách hình thành nhu cầu, động cơ
học tập, phất triển hứng thú học tập bộ môn dưới tác động của các biện pháp của
giáo viên. Mỗi học sinh phải là một chủ thể năng động, tích cực trong việc hình
thành nhu cầu, hứng thú, động cơ học tập. Các quá trình nhận thức của học sinh
THPT đã có tính chủ định. Các em đã có khả năng tư duy lý luận và tư duy trừu
tượng, nhưng khả năng này chưa trở thành phổ biến ở tất cả. Cho nên giáo viên 13
cần chỉ ra cho các em thấy điểm mạnh, điểm yếu của mình trong khả năng tư duy
để rèn luyện.
Đối với học sinh THPT, nhu cầu và khả năng giao tiếp trong nhóm bạn là yếu tố
thuận lợi cho việc hình thành và phát triển tính TLTHT vì thông qua giao tiếp học sinh
tập được ở bạn phương pháp học tập bộ môn, kinh nghiệm và kiến thức.
Tóm lại, bản thân mỗi học sinh THPT đều có đầy đủ các yếu tố tâm lý cho sự
hình thành và phát triển TLTHT, chỉ có điều là họ có đầy đủ ý thức và lòng quyết
tâm hay không cũng như giáo viên bộ môn có sử dụng một cách nhiệt tình các biện
pháp để phát huy phẩm chất này ở họ hay không.
1.1.2.4. Biện pháp dạy học phát huy tính tự lưc trong tự trong học tập
* Biện pháp dạy học:
Chúng tôi nhận thấy “khái niệm học tập” có nội dung tương đồng với khái
niệm “thủ thuật về phương pháp” của N.V.Savin cho rằng: “nhưng chi tiết về riêng
biệt của phương pháp, những yếu tố cấu thành nó được gọi là các thủ thuật về
phương pháp. Nếu như nhờ vào phương pháp mà dẫn đến việc nắm nội dung cơ bản
của tài liệu học tập, thi những thủ thuật phương pháp này hay thủ thuật phương
pháp khác sẽ đảm bảo việc nắm vững sâu sắc hơn vấn đề riêng biệt của đối tượng
hay chủ đề. Trong thực tế có thể bắt gặp một khối kượng lớn các thủ thuật phương
pháp đa dạng. Một số trong số đó là chung cho nhiều môn học, những cái khác chỉ
- Kết quả đạt được.
Chính những phàn hợp thành nêu trên là những biện pháp của phương pháp.
*Các biện pháp dạy học nhằm phát huy tính TLTHT của học sinh
Thế nào là biện pháp phát huy tính TLTHT của học sinh?
Đó là những thủ thuật do giáo viên sử dụng nhằm tác động vào các thành
phần của tính TLTHT của học sinh. Về phía học sinh, họ phải tích cực hưởng ứng
và làm theo sự hướng dẫn của giáo viên. Chẳng hạn như khi giáo viên nêu câu hỏi
có liên quan đến nội dung bài học thì học sinh phải chú ý lắng nghe, tích cực suy
nghĩ để trả lời. Từ đó hình thành nhu cầu nhận thức là yếu tố tiền đề, nền tảng của
tính TLTHT của học sinh.
Theo các quan điểm dạy học mới thì vai trò truyền thụ tri thức của giáo viên
từng bước giảm dần, thay vào đó là vai trò tự học của học sinh có sự hướng dẫn của
giáo viên ngày càng tăng lên. Cho nên các biện pháp nhằm phát huy tính TLTHT 15
của học sinh chính là các biện pháp tác động vào các yếu tố tâm lý của tính TLTHT
theo hướng nâng cao vai trò của học sinh, tạo điều kiện để học sinh trực tiếp làm
việc với đối tượng của hoạt động học là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thay vì thụ động
tiếp thu tri thức đã chế biến sẵn từ giáo viên như trong hoạt động dạy học truyền
thống hiện nay. Học sinh trực tiếp làm việc với đối tượng của hoạt động học có thể
diễn ra dưới hình thức tự học cá nhân hay học tập hợp tác với các bạn. Hoạt động
học của học sinh hay nói đúng hơn là hoạt động tự học có hướng dẫn sẽ trỏ thành
trung tâm của quá trình dạy học.
Dựa vào cơ sở lý luận đã nêu ở các phần trên, chúng tôI chia các biện pháp
phát huy tính TLTHT của học sinh thành bốn nhóm.
Một là nhóm các biện pháp tác động vào ý thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú
học tập.
Hai là nhóm các biện pháp giúp học sinh tự học.