Nhà văn - Liệt sĩ Nguyễn
Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
1. Bốn mươi năm về trước, trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu
Thân, Nguyễn Thi đi theo một cánh quân đánh vào Sài gòn với hy vọng là để lấy thêm tài
liệu cho mấy cuốn tiểu thuyết còn dang dở. Cũng không loại trừ miền đất ấy đã ghi dấu
nhiều kỷ niệm của đời ông, nơi lúc bấy giờ đứa con gái mà ông chưa biết mặt đang sống.
Sáu năm ở chiến trường Nambộ vào thời kỳ cuộc chiến tranh đang diễn ra đầy cam go đó,
với Nguyễn Thi lại là quãng thời gian ông thực hiện được nhiều nhất cho những dự định
về nghề nghiệp. Nhưng ông đã không trở về. Ông đã ngã xuống ở ngay cửa ngõ thành phố
trong một cuộc chiến đấu không cân sức
2. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Thi được mở đầu bằng giải thưởng văn học
Cửu Long năm 1951 cho tập thơHương đồng nội với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn. Cho
đến nay hầu như rất ít người biết đến thơ ông, có thể vì chất lượng nghệ thuật của nó.
Nhưng cũng vào thời điểm đó ông bắt đầu chuyển sang viết văn xuôi và càng ngày ông
càng nghiệm ra rằng mọi thành quả của lao động, ý nghĩa của cuộc đời ông chỉ thật sự có
khi ông gắn mình với cuộc sống của nhân dân và chiến sỹ. Năm 1954, tập kết ra Bắc và
trước khi trở lại chiến trường miền Nam năm 1962, ông có hai tập truyện ngắn Trăng
sáng và Đôi bạn.
Cũng như mọi tác phẩm văn học khác ra đời vào thời điểm bấy giờ, hai tập truyện
ngắn Trăng sáng và Đôi bạn đã nhập vào dòng chảy chung của văn học hướng về cuộc
đấu tranh thống nhất đất nước. Tình cảm đối với quê hương trong tấm lòng của những
người con miền Nam tập kết và của chính những người dân miền Bắc là một thứ tình cảm
đặc biệt, là động cơ cho mỗi người trong công việc hàng ngày đã được ông thể hiện khá
tinh tế trong các truyện như Quê hương, Đôi bạn, Xuống núi Đó là một thứ tình cảm
thiêng liêng, chi phối mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của xã hội lúc bấy giờ. Dưới nét
bút "ký họa" của ông, bức tranh cuộc sống miền Bắc đã góp phần tạo lòng tin cho con
người vào tương lai phía trước: đó là tâm thế của những con người được sống trong hoàn
trường lúc bấy giờ, với bút danh mới: Nguyễn Thi, ông vẫn ghi được hàng ngàn trang tư
liệu và viết được một số tác phẩm đặc sắc về cuộc sống và con người miền Nam trong
một thời kỳ lịch sử cam go. Những gì còn lại trong di cảo của Nguyễn Thi đã thể hiện sức
thanh xuân của một ngòi bút giàu tiềm năng sáng tạo.
3. Trong thời gian sống ở chiến trường Nguyễn Thi là một trong những người chịu
trách nhiệm tổ chức tờ Văn nghệ Quân giải phóng và bản thân ông cũng là một cây bút
chủ lực của tờ báo này. Ông quan niệm nhà văn cũng như văn chương là phải phục vụ cho
sự nghiệp cách mạng. Cho nên ông đã làm tất cả những gì mà một tờ báo ra đời trong
hoàn cảnh thiếu thốn của đời sống chiến tranh lúc bấy giờ đang cần; và đặt ra như một thứ
kỷ luật cho mình là đi và viết. "Ở chiến trường là phải làm liền, không viết nhanh thì việc
mới người mới ào tới, chuyện sự vụ chồng chất, cuối cùng tất cả sẽ mãi mãi chỉ là những
dự định". Ông tranh thủ mọi thời gian để ghi chép. Đặc biệt là sau những chuyến đi công
tác ở Mỹ Tho, Bến Tre, đi dự Đại hội anh hùng miền Nam về, ông ghi được hàng ngàn
trang tư liệu vô cùng quý giá về các sự kiện, con người, về văn hoá dân gian trong đó có
những tư liệu như đã là phác thảo khá hoàn hảo cho những cuốn tiểu thuyết, những truyện
ký. Những sáng tác của ông phần lớn được ra đời trong ý thức công dân - nghệ sỹ, trong ý
muốn từ bầu nhiệt huyết của mình để có thể truyền ngọn lửa yêu nước đến với người đọc
nhất là khi văn học nhận về mình trách nhiệm làm vũ khí chiến đấu và nhà văn là chiến
sỹ. Đó là những ghi chép kịp thời dường như còn mang hơi thở nóng hổi của một cuộc
sống chiến đấu đầy khẩn trương như Những sự tích đất thép, Đại hội anh hùng, Dòng kinh
quê hương, Những câu nói trong đại hội. Cùng với những tác phẩm khác, những sáng tác
này ra đời trong cảm hứng sâu sắc của ông về ý thức, về lòng quyết tâm đánh Mỹ của
mọi lớp người trên đất miền Nam. Với giọng điệu tráng ca, những bài ký của Nguyễn Thi
đã đốt lên trong lòng người đọc ngọn lửa của lòng yêu nước, của ý thức quyết tâm đánh
Mỹ đến cùng để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc qua những câu nói từng là phương châm
sống của nhân vật:"Đừng lo tôi chết, cứ để tôi ở đây sống với đồng bào" (Nguyễn Thị
Hạnh), "Chết, chết thẳng đứng còn hơn sống quỳ"(Nguyễn Văn Quang), "Cứ đánh, trước
khó sau quen" (Phạm Văn Cội)
Một trong những đặc điểm của văn xuôi giải phóng là nhà văn viết từ cảm hứng
anh hùng và các tác phẩm thường ra đời trên cơ sở người thật việc thật. Nói như Nguyễn