Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o - Bé y tÕ
viÖn vÖ sinh dÞch tÔ trung ¬ng
VŨ CÔNG THẢO THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, HỖ TRỢ, ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN AIDS
TẠI CÁC PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ NGƯỜI LỚN
Ở 3 TỈNH VIỆT NAM, 2009 - 2010 Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số: 62 72 01 17
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Hà Nội 11/2011
về y, sinh, xã hội học, thông tin giáo dục truyền thông, huy động cộng đồng trong lĩnh vực phòng
chống HIV/AIDS, nhưng nỗ lực ấy vẫn chưa đủ sức để ngăn chặn sự tấn công của đại dịch
HIV/AIDS. Đặc biệt ở các nướ
c đang phát triển, nơi mà nguồn lực dành cho chẩn đoán, điều trị,
theo dõi và quản lý người nhiễm HIV/AIDS còn hạn hẹp thì HIV/AIDS vẫn còn là vấn đề được
quan tâm hàng đầu của y tế công cộng và của toàn xã hội .
Để hạn chế sự lan rộng của đại dịch HIV/AIDS và kéo dài cuộc sống cho những người bị
mắc bệnh, nhiều biện pháp như tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, hiểu biế
t về HIV cho
cộng đồng, điều trị dự phòng, điều trị nhiễm trùng cơ hội và điều trị thuốc kháng vi rút (ARV) cho
người nhiễm đã được triển khai. Trong các biện pháp trên, việc chăm sóc, hỗ trợ và điều trị bằng
các thuốc ARV đóng một vai trò rất quan trọng. Mặc dù các thuốc ARV không điều trị khỏi
HIV/AIDS nhưng đã làm giảm đáng kể tỷ l
ệ bệnh tật và tử vong, kéo dài và cải thiện cuộc sống một
cách có ý nghĩa cho nhiều người đang phải chung sống với AIDS.
Tại Việt Nam, Để đáp ứng chống lại đại dịch HIV, năm 2000, Bộ Y tế đã ban hành hướng
dẫn quốc gia về chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS, được bổ sung chỉnh sửa vào năm 2005, 2009. Bộ
Y tế cũng có kế hoạch phân cấ
p điều trị bằng việc thiết lập các phòng khám ngoại trú tại các tỉnh,
thành phố. Người nhiễm HIV/AIDS có thể đăng ký để được chăm sóc và điều trị miễn phí tại một
trong những phòng khám này. Việc mở rộng điều trị thuốc ARV và theo dõi điều trị tại các phòng
khám ngoại trú đã được tiến hành từ tháng 3 năm 2006 với sự hỗ trợ của các dự án Quỹ
toàn cầu,
Quỹ hỗ trợ khẩn cấp của Tổng thống Mỹ (Pepfar), Quỹ Bill-Clinton … Việc triển khai điều trị này
đã mang lại hy vọng và tương lai cho nhiều người nhiễm HIV/AIDS, cũng như kịp thời ngăn chặn
sự lây nhiễm HIV cho những đối tượng nguy cơ và cho cộng đồng. Tại những phòng khám này
người nhiễm HIV/AIDS được cung cấp nhiều dịch vụ cần thiết: đượ
c tư vấn đầy đủ nhằm đảm bảo
việc tuân thủ điều trị có hiệu quả cao, giảm kỳ thị, hoà nhập cộng đồng… tạo điều kiện cho người
nhiễm HIV/AIDS có nhiều cơ hội sống, tự làm việc, tự chăm sóc, giảm gánh nặng cho gia đình và
án, các nhà tài trợ có căn cứ điều chỉnh các hoạt động phù hợp và hiệu quả hơn.
* Bố cục của luận án: Luận án gồm 120 trang (không kể phần phụ lục, mục lục, các chữ viết tắt),
kết cấu thành 4 chương:
- Đặt vấn đề: 2 trang
- Chương 1. Tổng quan: 33 trang
- Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 21 trang
- Chương 3. Kết quả: 38 trang
- Chương 4. Bàn luận: 23 trang
- Kết luận: 2 trang
- Kiến nghị: 1 trang
- Luận án gồm: 37 bảng, 10 biểu đồ
- Tài liệu tham khảo: 137
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1 Thực trạng nhiễm HIV/AIDS
Theo báo cáo cuối năm 2010 của UNAIDS và WHO, trên toàn thế giới có khoảng 70 triệu
người nhiễm, 30 triệu người đã tử vong và hiện còn khoảng 40 triệu người đang chung sống với
HIV/AIDS. Cứ mỗi ngày có thêm khoảng 7.000 người nhiễm mới (trong đó có 6.000 người lớn và 6
1.000 trẻ em), 95% các ca nhiễm mới ở các nước chậm và đang phát triển, chủ yếu ở các nước châu
Phi, cận Sahara, sau đó tới các nước Đông Nam Á. HIV/AIDS xếp hàng thứ 4 trong số các nguyên
nhân gây tử vong tại các nước châu Phi. Phụ nữ chiếm hơn 50% số người đang sống với HIV trên
toàn thế giới. Trong số hơn 70 triệu người đã bị nhiễm HIV trên thế giới, 45% ở độ tuổi thanh niên
từ 15 – 24 tuổi.
Trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được phát hiện tại Việt Nam vào tháng 12 năm 1990
tại thành phố Hồ Chí Minh. Cho đến ngày 30/6/2011, theo báo cáo của Cục phòng chống
CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân AIDS người lớn (được xác định từ đủ 18 tuổi trở lên).
- Cán bộ Y tế trực tiếp tham gia công tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân AIDS tại các phòng khám
ngoại trú và tạ
i cộng đồng.
- Đồng đẳng viên, cộng tác viên. 7
- Người thân của bệnh nhân AIDS: Bố, mẹ, vợ/chồng, anh chị em.
- Các báo cáo về HIV/AIDS của Bộ Y tế, của 3 tỉnh/thành phố nghiên cứu; hồ sơ bệnh án của bệnh
nhân AIDS tham gia nghiên cứu.
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành có chủ đích tại 3 phòng khám ngoại trú đang cung cấp dịch
vụ chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho bệnh nhân AIDS người lớn tại 3 tỉ
nh, thành phố: Hà Nội, Nghệ
An và Hồ Chí Minh.
Phòng khám ngoại trú tại các tỉnh nghiên cứu được lựa chọn tham gia nghiên cứu trên cơ sở
thuận tiện, là những phòng khám đã và đang cung cấp dịch vụ điều trị thuốc ARV được ít nhất 1
năm. Có ít nhất 300 bệnh nhân hiện đang được chăm sóc, hỗ trợ và điều trị thuốc ARV.
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Tiến hành điều tra, can thiệp trên
đối tượng nghiên cứu từ tháng
6/2009 đến tháng 12/2010.
- Điều tra lần 1: 6/2009 - 9/2009 (nghiên cứu mô tả thực trạng).
- Điều tra lần 2: 10/2010 - 12/2010 (đánh giá sau can thiệp điều trị bằng thuốc ARV).
(Z
(1-α/2)
= 1,96); ε: Giá trị tương đối (ε = 0,1); Do chọn mẫu có chủ đích, nhân thêm hệ số ảnh
hưởng thiết kế DE = 2; ước tính tỷ lệ từ chối tham gia nghiên cứu là 10%. Với các tham số nêu
trên, cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là 844, thực tế khi tiến hành nghiên cứu đã lấy 300 bệnh nhân
AIDS ở mỗi phòng khám ngoại trú vào nghiên cứu, do đó tổng số đối tượng nghiên cứu là 900.
+ Cỡ mẫu cho nghiên cứu thử nghi
ệm lâm sàng: Đánh giá hiệu quả can thiệp, cỡ mẫu được
tính theo công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu thuần tập (cohort study) không đối chứng:
[(1 – p
1
)/p
1
+ (1 – p
2
)/p
2
]
n
2
= Z
2
(1-α/2)
______________________________________
[ℓn(1 – ε)]
2
n
2
2.2.5 Phương pháp chọn mẫu
2.2.5.1 Đối tượng nghiên cứu mô tả
* Nghiên cứu định lượng: Chọn mẫu có chủ đích, mỗi tỉnh, thành phố chọn 01 phòng khám ngoại
trú có số lượng bệnh nhân AIDS đang quản lý, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị n >300, số liệu được thu
thập từ một mẫu ngẫu nhiên 300 bệnh nhân. Thực tế
nghiên cứu, do chọn mẫu chủ đích, các phòng
khám ngoại trú tham gia nghiên cứu đều có số lượng bệnh nhân AIDS đủ lớn nên số bệnh nhân
tham gia nghiên cứu ở mỗi phòng khám là 300. Tổng số bệnh nhân AIDS tham gia nghiên cứu là
900.
* Nghiên cứu định tính: Đối tượng tham gia thảo luận nhóm trọng tâm được chọn có chủ định, riêng
bệnh nhân AIDS được chọn trong tổng số 300 đối tượng tham gia nghiên cứu định lượng. Đối
tượng tham gia phỏng vấn sâu đượ
c chọn có chủ đích.
2.2.5.2 Đối tượng nghiên cứu can thiệp lâm sàng
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân AIDS được đưa vào nghiên cứu theo đợt, là những bệnh
nhân được duyệt đưa vào điều trị thuốc ARV do Ban xét duyệt điều trị thuốc ARV của Ban quản lý dự
án tỉnh, thành phố và quận/huyện lựa chọn cho tới khi đạt cỡ mẫu 300 cho mỗi phòng khám và được
theo dõi liên tục trong thời gian 1 năm. 2.2.6 Công c
ụ thu thập thông tin và chỉ số, biến số nghiên cứu
Bộ chỉ số nghiên cứu gồm 5 phần với 43 chỉ số nhằm mô tả thực trạng, các yếu tố liên quan và
đánh giá hiệu quả hoạt động chăm sóc, hỗ trợ, quản lý điều trị bệnh nhân AIDS trước và sau 1 năm
điều trị bằng thuốc ARV.
Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu.
B
ảng kiểm trang thiết bị, cơ sở vật chất.
Chỉ số hiệu quả (CSHQ), để so sánh hiệu hiệu quả trước và sau can thiệp tăng lên được bao
nhiêu %, cách tính như sau:
thiệp lâm sàng nhưng không có đối chứng.
2.5.3. Khắc phục hạn chế đề tài
- Điều tra viên và giám sát viên được tuyển chọn và tập huấn thống nhất về phương pháp điều tra, được
thử nghiệm bộ công cụ và th
ực hành kỹ năng điều tra (điều tra thử).
- Quá trình điều tra được giám sát chặt chẽ thông qua hoạt động giám sát thực địa và kiểm tra chất
lượng phiếu điều tra cũng như hồ sơ bệnh án.
2.6. Đạo đức trong nghiên cứu
Chỉ tiến hành nghiên cứu các đối tượng đồng ý tham gia. Các thông tin, dữ liệu được được đảm
bảo bí mật và chỉ phục vụ cho m
ục đích nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu được sử dụng để xây dựng
và điều chỉnh nội dung can thiệp cho người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS ngày càng có hiệu quả.
Giúp cho những người nhiễm HIV/AIDS khác tại địa bàn nghiên cứu được hưởng lợi trực tiếp hoặc
gián tiếp từ chương trình.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị
bệnh nhân AIDS tại phòng khám ngoại trú người lớn ở địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị bệnh nhân AIDS tại phòng khám
ngoại trú người lớn ở đị
a điểm nghiên cứu
Phòng khám ngoại trú người lớn ở địa điểm nghiên cứu có đủ các phòng làm việc theo quy
định, gồm: phòng đón tiếp, phòng khám, phòng lấy máu/xét nghiệm, phòng dược, phòng tư vấn,
phòng hành chính; trung bình có 5,6 phòng/1 phòng khám ngoại trú. Cán bộ, nhân viên của phòng
khám ngoại trú gồm: Bác sĩ, y tá, tư vấn viên, kỹ thuật viên, cán bộ dược, nhân viên hỗ trợ, nhân
viên khác; trung bình có 16 cán bộn, nhân viên/1 phòng khám ngoại trú. 10
hoặc lang thang. Nghề nghiệp không ổn định hoặc thất nghiệp chiếm tỷ lệ cao: 72,9%, tiếp đến là
lái xe: 16,3%; công nhân: 6,3%; nhân viên hành chính: 4,5%.
Tỷ lệ bệnh nhân AIDS tham gia nghiên cứu không xác định được nguy cơ lây nhiễm HIV khá
cao 25,2%. 74,8% xác định
được nguy cơ, trong đó lây nhiễm do tiêm chích ma túy: 43,4%, qua
quan hệ tình dục: 29,4%.
Bảng 3.8 Nơi giới thiệu bệnh nhân nghiên cứu đến phòng khám ngoại trú
Địa điểm NC
Nơi giới thiệu
Hà Nội
(n= 300)
Nghệ An
(n= 300)
HCM
(n= 300)
Tổng
(n= 900)
(%) (%) (%) (%)
- Phòng XNTN
- Nhóm TCCĐ
- PKNT khác
- Tự đến
- Khác
- Không biết
6,3 23,7 35 21,7
4,0 0,0 3,3 2,4
18,3 21,7 12,7 17,6
62,0
*
- Thuốc kháng sinh 19 2,1
- Thuốc kháng virus HIV 872 96,9
- Không biết 9 1,0
ARV được phối hợp
mấy loại thuốc
- Từ 2 loại thuốc 37 4,1
- Ít nhất 3 loại thuốc trở lên 835 92,8
- Không biết 28 3,1
96,9% bệnh nhân nghiên cứu hiểu đúng ARV là thuốc kháng vi rút HIV; vẫn còn 2,1% bệnh
nhân nghiên cứu cho biết ARV là thuốc kháng sinh và 1,0% không biết thuốc ARV là gì.
Khi hỏi bệnh nhân nghiên cứu về thuốc ARV được kết hợp từ bao nhiêu loại thuốc, 92,8%
cho biết thuốc được phối hợp ít nhất 3 loại trở lên, 4,1% cho biết ARV được kết hợp từ 2 loại và
3,1% bệnh nhân không biết thuốc ARV được kết hợp từ bao nhiêu loại thuốc.
Bả
ng 3.10 Kiến thức về thời gian điều trị và cách uống thuốc ARV
Nội dung
Tần số
(n = 900)
Tỷ lệ
(%)
Thời gian điều trị ARV
- Điều trị đến khi thấy cơ thể khỏe lên 9 1,0
- Điều trị suốt đời 872 96,9
- Không biết 19 2,1
Cách uống thuốc ARV
- Uống thuốc ARV 2 lần/ngày 900 100,0
- Khoảng cách giữa 2 lần uống ARV là 12 giờ 900 100,0
và kể tên được các tác dụng phụ có thể gặp phải khi tham gia điều trị ARV. Tác dụng phụ được nhắc
đến nhiều nhất nổi mẩn (75,9%); hoa mắt, chóng mặt (45,6%); nôn (36,7%).
81,4
86,6
94,8
70
75
80
85
90
95
Kiến thức
Uống đúng
thuốc
Uống đúng số
lượng
Uống đúng thời
gian
Tỷ lệ (%)
Biểu đồ 3.3 Kiến thức về tuân thủ điều trị
Đa số bệnh nhân nghiên cứu đều cho rằng tuân thủ điều trị là cần phải uống đúng thời gian
(94,8%), uống đúng số lượng thuốc quy định (86,6%) và uống đúng thuốc (81,4%).
Bảng 3.12 Kiến thức về không tuân thủ điều trị
Không tuân thủ điều trị ARV Tần số
(n = 900)
T
ỷ lệ
(%)
- Thông báo cho cán bộ y tế 360 40,0
- Không biết 19 2,1
Khi quên thuốc phần lớn bệnh nhân nghiên cứu cho rằng phải uống bù ngay liều vừa quên và
tính thời gian để uống liều tiếp theo (82,7%), 16,3% bỏ luôn liều vừa quên và uống như thường lệ,
vẫn còn 1,0% không biết làm thế nào khi quên uống thuốc.
Phần lớn bệnh nhân nghiên cứu đều biết đến các biện pháp hỗ trợ việc tuân thủ điều trị bằng cách
tự xây dựng kế hoạch phù hợ
p cho mình (76,8%), 44,2% phối hợp cùng người hỗ trợ và 40,0% thông
báo khó khăn cho cán bộ y tế.
61,9
38,1
0
20
40
60
80
Đạt Không đạt
Mức độ
Tỷ lệ (%)
Biểu đồ 3.4 Kiến thức chung về tuân thủ điều trị ARV
Chỉ có 61.9% bệnh nhân AIDS tham gia nghiên cứu đạt điểm kiến thức chung về tuân thủ
điều trị, vẫn còn 38.1% chưa đạt kiến thức về tuân thủ điều trị.
3.1.3. Tình trạng bệnh nhân nghiên cứu trước điều trị thuốc ARV
72,8% bệnh nhân nghiên cứu ghi nhận không có tiền sử nhiễm trùng cơ hội. Trong t
ổng số
27,2% bệnh nhân nghiên cứu ghi nhận có tiền sử nhiễm trùng cơ hội, cao nhất: Zona (9,6%), tiếp
đến: Lao (8,4%), nấm miệng: (6,0%), thấp nhất: Viêm võng mạc do CMV (0,2%).
84,8% bệnh nhân nghiên cứu không có tiền sử mắc Lao. Trong 15,6% BN NC có tiền sử
thuốc và tỷ lệ bệnh nhân chưa được điều trị dự phòng.
58,6
3,0
16,2
22,2
0
10
20
30
40
50
60
Tự điều trị PK tư nhân PKNT khác khác
Hình thức
Tỷ lệ (%)
Biểu đồ 3.5 Hình thức điều trị ARV của bệnh nhân nghiên cứu trước khi đăng ký tại phòng
khám ngoại trú
Trong tổng số 99 bệnh nhân nghiên cứu đã điều trị ARV trước khi đăng ký tại phòng khám
ngoại trú, 58,6% bệnh nhân tự điều trị, chỉ có 16,2% bệnh nhân điều trị tại phòng khám ngoại trú khác,
đã có 3,0% bệnh nhân điều trị tại phòng khám tư nhân.
Có 5 loại phác đồ điề
u trị bằng thuốc ARV được bệnh nhân AIDS sử dụng trước khi đăng ký
điều trị tại phòng khám ngoại. Phổ biến nhất là phác đồ d4T/3TC/NVP (57,7%) tiếp đến là
d4T/3TC/EFV (20,8%); ít phổ biến nhất là phác đồ ZDV/3TC/LPV/R (1,0%). Điều trị dưới hình thức
khác 9,6% và không rõ phác đồ 5,8%.
u có mức CD4 rất thấp <100 tế bào chiếm 57,3%, tiếp đến là CD4 từ 100 đến 200 tế bào:
27,2%. Bệnh nhân nghiên cứu có chỉ số CD4 >300 tế bào: 6,3% và >500 tế bào: 1,6%.
90,4% (809/895) bệnh nhân nghiên cứu có kết quả xét nghiệm mức độ nhiễm độc gan trước khi
điều trị ARV, trong đó chủ yếu ở mức bình thường: 53,3%; mức độ nhẹ: 41,9%. Số bệnh nhân ở
mức độ nặng thấp, chiếm 1,1%; mức độ r
ất nặng: 0,2%.
Mức độ thiếu máu của bệnh nhân nghiên cứu trước khi điều trị ARV: Chỉ có 53,4% bệnh
nhân có kết quả xét nghiệm Hgb, trong đó chủ yếu ở mức bình thường: 83,5%, số bệnh nhân ở mức
độ nặng: 0,6% và rất nặng (có thể đe dọa tính mạng): 2,5%.
65,7% (588/895) bệnh nhân nghiên cứu có kết quả xét nghiệm về mức độ suy thận (chỉ số
Creatine – mg/dl), số bệnh nhân có chỉ
số bình thường chiếm 95,9% và mức độ I (nhẹ): 4,1%.
Không có bệnh nhân nào ở mức độ suy thận II, III và IV.
3.2 Hiệu quả hoạt động chăm sóc, hỗ trợ, quản lý điều trị trên bệnh nhân AIDS ở phòng khám
ngoại trú người lớn tại địa điểm nghiên cứu
3.2.1 Kết quả hoạt động chăm sóc hỗ trợ, quản lý điều trị bệnh nhân AIDS
Bảng 3.26 Kết quả hoạ
t động tư vấn, hỗ trợ bệnh nhân AIDS tham gia nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Nội dung
Hà Nội
(n = 300)
Nghệ An
(n = 300)
HCM
(n = 300)
Tổng
(n = 900)
• Tư vấn nhóm
- Số buổi
(%)
HCM
(%)
Tổng
(%)
1. d4T/3TC/NVP 75,3 73,3 45,3 64,7
2. d4T/3TC/EFV 20,7 18,3 36 25
3. ZDV/3TC/NVP 4 7 11,3 7,4
4. ZDV/3TC/EFV 0 1 6,3 2,4
5. TDF/3TC/LPV/R 0 0,3 0 0,1
6. Kh¸c 0 0 0,7 0,2
7. Kh«ng ghi 0 0 0,3 0,1
Phác đồ điều trị ARV ban đầu tại phòng khám ngoại trú của bệnh nhân nghiên cứu là phác
đồ bậc I, chủ yếu là phác đồ có Lamivudin (3TC): 99,7%. Trong đó kết hợp d4T: 89,7% và kết hợp
ZDV: 10,0%. Vẫn còn 0,1% bệnh nhân điều trị không rõ phác đồ.
Chỉ có 5,3% bệnh nhân nghiên cứu có gián đoạn điều trị. Trong đó chủ yếu là gián đoạn lần I:
85,4%. Nguyên nhân của gián đoạn điều trị chủ yếu do tác d
ụng phụ cấp: 18,8%, đang điều trị lao:
12,5%, lý do khác: 60,4%. Không có trường hợp nào ghi nhận do thất bại điều trị hay hết thuốc.
30,4% (272/895) bệnh nhân AIDS điều trị ARV tham gia nghiên cứu có thay đổi phác đồ điều
trị. Nguyên nhân chủ yếu do tác dụng phụ cấp và mãn tính: 59,5%; điều trị lao: 12,9%; có tới 5,1%
bệnh nhân thay đổi phác đồ do hết thuốc (xảy ra ở Hà Nội và nghệ An). Đã có 0,7% bệnh nhân thay
đổi phác đồ
do thất bại điều trị.
75,9
0,1
10,9
8,6
4,6
18,4
19,8
26,7
33,5
41,5
67,6
0
20
40
60
80
Tỷ lệ %
Anh/chị/em Bố/mẹ Vợ/chồng
Chỉ số
Trước can thiệp
Sau can thiệp
Biểu đồ 3.8 Hiệu quả hoạt động chăm sóc, hỗ trợ bệnh nhân AIDS từ người thân
Người hỗ trợ, chăm sóc chính cho bệnh nhân AIDS trong quá trình điều trị chủ yếu là
vợ/chồng, tiếp đến là bố/mẹ và anh/chị/em. Tỷ lệ bệnh nhận được chăm sóc, hỗ trợ từ người thân
sau 12 tháng can thiệp, điều trị thuốc kháng vi rút ARV đều tăng hơn trước can thi
ệp. Tỷ lệ được
vợ chồng chăm sóc, hỗ trợ tăng cao nhất: từ 41,5% tăng lên 67,6%; tỷ lệ được anh/chị/em chăm sóc,
hỗ trợ tăng không đáng kể: từ 18,4% lên 19,8%. Chỉ số hiệu quả lần lượt là 7,6%, 32,96% và
62,89%.
22,3
44,1
37,7
52,5
0
40
50
60
Tỷ lệ %
Nhận BKT, BCS Tham gia câu lạc bộ
Chỉ số
Trước can thiệp Sau can thiệp
Biểu đồ 3.10 Hiệu quả tiếp cận dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ bệnh nhân AIDS tại địa điểm NC
Bệnh nhân AIDS tham gia nghiên cứu còn có sự thay đổi trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc, hỗ
trợ. nhận được chăm sóc, hỗ trợ từ đồng đẳng viên và cộng tác viên. Tỷ lệ bệnh nhân AIDS điều trị
thuốc kháng vi rút tham gia nghiên cứu tại địa điểm nghiên c
ứu nhận được bơm kin tiêm, bao cao
su tăng từ 43,8% lên 51,2% và tham gia câu lạc bộ người nhiễm HIV/AIDS tăng từ 21,9% lên
38,7% chỉ số hiệu quả lần lượt là 16,89% và 76,7%.
3.2.3. Hiệu quả điều trị thuốc ARV trên bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 3.32 chỉ số CD4 sau điều trị ARV của bệnh nhân nghiên cứu
Số tế bào CD4
Trước ĐT Sau 6 tháng Sau 12 tháng
Số lg (%) Số lg (%) Số lg (%)
- < 100 426
*
57,3 63
**
18,3 19
***
6,9
- 100 – 200 202 27,2 131 38,1 93 33,8
- 200 - 300 68 9,2 96 27,9 73 26,5
điề
u trị, giữa sau 6 tháng điều trị với sau 12 tháng điều trị kết quả còn cho thấy mối liên quan rất
chặt chẽ tăng số lượng bệnh nhân theo hướng tích cực và có ý nghĩa thống kê với p<0,001. 19
Bảng 3.33 Chỉ số ALT sau điều trị ARV của bệnh nhân nghiên cứu
Chỉ số ALT
Trước ĐT Sau 6 tháng Sau 12 tháng
Số lg
(n=900)
Tỷ lệ
(%)
Số lg
(n=767)
Tỷ lệ
(%)
Số lg
(n=683)
Tỷ lệ
(%)
- Không có KQXN 91 9,6 418 54,5 365 53,4
- Có KQXN 809 90,4 349 45,5 318 46,6
Bt <40 UI 431
*
53,3 150
**
Số lg
(n=588)
Tỷ lệ
(%)
Số lg
(n=110)
Tỷ lệ
(%)
Số lg
(n=96)
Tỷ lệ
(%)
Bt 0,8 - 1,2 564
*
95,9 109
**
99.1 94
***
97,9
Độ 1: < 1,5 24 4,1 0 0 2 2,1
Độ 2: 1,5 - 3,4 0 0 0 0 0 0
Độ 3a: 3,5 - 5,9 0 0 0 0 0 0
Độ 3b: 6,0 - 10 0 0 1 0.9 0 0
Độ 4: > 10 0 0 0 0 0 0
*
&
**
: OR = 0,2 , 95%CI (0,5 - 1,3), p>0,05 ;
* *
&
95%CI (1,28-2,55)
<0,05
Không 233 193
Tác dụng phụ
Có 5 4 0R = 0,46
95%CI (0,99-2,38);
> 0,05
Không 575 215
Mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân AIDS tham gia
nghiên cứu. Ở những bệnh nhân xác định được nguy cơ lây nhiễm HIV thì tuân thủ điều trị cao gấp
3,99 lần so với những bệnh nhân không xác định được nguy cơ với p<0,05.
Có mối liên quan giữa những bệnh nhân thay đổi và không thay đổi phác đồ điều trị ARV cũng
như giữa những b
ệnh nhân có nhiễm trùng cơ hội và không có nhiễm trùng cơ hội với tuân thủ điều
trị (p<0,05).
Chưa thấy có sự liên quan giữa những bệnh nhân có tác dụng phụ và không có tác dụng phụ khi
điều trị ARV với tuân thủ điều trị.
Bảng 3.36 Yếu tố liên quan đến số lượng tế bào CD4 của bệnh nhân nghiên cứu
Yếu tố
Tăng số lượng tế
bào CD4
Liên quan p
Có Không
Điều trị dự phòng
Cotrimoxazole
Có 500 72 0R = 4,73
95%CI (3,36-6,69)
<0,05
Không 195 133
21
Bảng 3.37 Yếu tố liên quan đến bỏ điều trị của bệnh nhân AIDS tham gia nghiên cứu
Yếu tố
Bỏ điều trị
Liên quan p
Có Không
Yếu tố nguy cơ
Có 29 644
0R=0,43
95%CI (0,21-0,96)
<0,05
Không 12 115
Thay đổi phác đồ
Có 30 200
0R=8,99
95%CI (4,27-20,2)
<0,05
Không 11 659
Bệnh nhiễm trùng
cơ hội
Có 18 227
0R=2,18
95%CI (1,09-4,3)
<0,05
Không 23 632
Tác dụng phụ
Có 5 4 0R=29,8
95%CI (6,05-154,8)
<0,05
Không 36 855
bố trí cán bộ và nhân viên theo vị trí làm việc, mỗi PKNT có từ 15 đến 17 cán bộ nhân viên. Kết
quả này hoàn toàn đáp ứng quy định về nhân lực của Bộ Y tế, nhưng cao gấp 2 - 3 lần kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Văn Kính (2007) và cộng sự.
Để hỗ trợ cho các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ điều trị bệnh nhân AIDS tại cơ sở y tế nói
chung, tại phòng khám ngoại trú nói riêng còn có đội ngũ đồng đẳng viên và cộng tác viên. Trong
nghiên cứu này, các phòng khám ngoại trú tại địa đi
ểm nghiên cứu có đội ngũ đồng đẳng viên và 22
cộng tác viên khá đông, đối với đồng đẳng viên, trung bình là 27 người ở mỗi phòng khám ngoại trú,
còn cộng tác viên là 28 người, kết quả này cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu
Phương nghiên cứu năm 2009 tại Đống Đa, của Nguyễn Thị Minh Hạnh năm 2007 tại quận Tây Hồ,
Hà Nội.
Khi tham gia điều trị một yêu cầu bắt buộc là người nhiễm và gia đình người nhi
ễm phải
được tham gia tập huấn, do vậy tỷ lệ tham gia tập huấn trước điều trị ở đây là 100% và có tới
85,6% các đối tượng được tập huấn từ 3-6 buổi.
4.1.2 Về một số yếu tố liên quan đến cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị cho bệnh nhân
AIDS tại Phòng khám ngoại trú người lớn ở địa điểm nghiên cứu
Đặc điểm bệnh nhân AIDS tham gia nghiên cứu: 87,1% ở nhóm 20 – 39 tuổi; nam giới
chiếm 72,8%, thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương (2009); 15,1% có trình độ học vấn
thấp, tỷ lệ này thấp hơn kết quả điều tra cơ bản của Ngân hàng phát triển Châu Á (2002); 54,5%, có
vợ/chồng, đây là một trong những thuận lợi đối với công tác chăm sóc, điều trị ARV cho người
nhiễm HIV, vì họ sẽ
có được sự quan tâm, chăm sóc của gia đình trong hoạt động điều trị ARV;
72,9% không có việc làm hoặc việc làm không ổn định; 43,4% lây nhiễm qua tiêm chích ma túy.
Tỷ lệ này thấp hơn với tỷ lệ của toàn quốc trong báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS năm 2010 và
một số nghiên cứu khác.
Đã có 34,1% bệnh nhân AIDS tự đến phòng khám ngoại trú để được chăm sóc, hỗ trợ và điều
23
đương với nghiên cứu của Đỗ Duy Cường tại Quảng Ninh (2009).
4.2.2 Hiệu quả hoạt động chăm sóc, hỗ trợ, quản lý điều trị trên bệnh nhân AIDS tại địa điểm
nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, bệnh nhân AIDS nhận được hỗ trợ từ người thân trong quá trình
điều trị ARV chiếm tỷ lệ khá cao, cao nhất là vợ/chồng tiếp đến là bố/mẹ và sau nữa là anh/chị/em;
tỷ
lệ này tăng lên sau 12 tháng can thiệp điều trị bằng ARV, lần lượt, trước can thiệp: 18,4%, 26,7%,
41,5% và sau can thiệp: 19,8%, 33,5%, 67,6% với chỉ số hiệu quả lần lượt là: 7,6%, 32,96% và
62,89%. Những người thân hỗ trợ bệnh nhân AIDS bằng cách nhắc nhở uống thuốc, chăm sóc ăn
uống, an ủi động viên. Việc bệnh nhân AIDS nhận được chăm sóc, hỗ trợ của người thân chứng tỏ
sự kỳ thị, phân bi
ệt đối xử trong các gia đình người nhiễm HIV/AIDS đã có những thay đổi lớn.
Yếu tố này rất cần thiết và quan trọng trong quá trình điều trị cũng như giúp bệnh nhân yên tâm, ổn
định tâm lý trong cuộc sống.
Hỗ trợ từ đồng đẳng viên và cộng tác viên cho bệnh nhân AIDS đều tăng, hỗ trợ từ đồng
đẳng viên tăng từ 22,3% lên 44,1% và từ cộng tác viên tăng từ 33,7% lên 52,5% chỉ số hiệu quả
lần
lượt là 97,75% và 39,25%.
Số người tham gia câu lạc bộ người nhiễm mặc dù có sự gia tăng giữa trước và sau can
thiệp bằng thuốc ARV từ 21,9% lên 38,7%, chỉ số hiệu quả là 76,7% nhưng vẫn còn thấp. Tỷ lệ
bệnh nhân AIDS được nhận bơm kim tiêm, bao cao su tăng từ 43,8% lên 51,2%, chỉ số hiệu quả là
16,89%. Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn thấp, lý giải cho điều này có thể do bệnh nhân AIDS tham gia
nghiên cứu đã
được tập huấn, kiến thức được nâng lên, giảm hoặc thay đổi một phần hành vi nguy
cơ nên đã giảm nhu cầu sử dụng bơm kim tiêm và bao cao su.
Sau 6 tháng và 12 tháng điều trị ARV, số lượng CD4 đã thay đổi rõ rệt đặc biệt ở nhóm <100
tế bào, tỷ lệ của nhóm này đã giảm từ 57,3% trước điều trị xuống 18,3% sau 6 tháng và còn 6,9%
được điều trị dự phòng, số bệnh
nhân có CD4 tăng cao gấp 4,73 lần số bệnh nhân không được điều trị dự phòng.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan rất chặt chẽ giữa tác dụng phụ của thuốc
với bỏ điều trị, tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện tác dụng phụ bỏ điều trị cao gấp 29,8 lần nh
ững bệnh nhân
không xuất hiện tác dụng phụ. Các yếu tố như: đồng nhiễm HBV/HCV, thay đổi phác đồ cũng có
mối liên quan chặt chẽ với việc bỏ điều trị của bệnh nhân với OR lần lượt là 10,8 và 8,99.
KẾT LUẬN
1. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị
bệnh nhân AIDS tại phòng khám ngoại trú người lớn ở địa điểm nghiên cứu
Thực trạng việc cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị bệnh nhân AIDS tại phòng khám
ngoại trú ở địa điểm nghiên cứu
- Phòng khám ngoại trú tại địa điểm nghiên cứu đã cung cấp đủ các dịch vụ cho bệnh nhân AIDS
đăng ký điều trị theo quy
định.
- Trung bình, mỗi phòng khám ngoại trú có: 5,6 phòng làm việc, 16 cán bộ nhân viên.
- 100% bệnh nhân AIDS tham gia nghiên cứu và gia đình họ được tập huấn trước điều trị thuốc
kháng vi rút ARV.
Một số yếu tố liên quan đến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều trị bệnh nhân AIDS tại
phòng khám ngoại trú ở địa điểm nghiên cứu
- Trung bình có 27,3 đồng đẳng viên và 28,3 cộng tác viên hỗ
trợ cho 1 phòng khám ngoại trú
trong công tác chăm sóc, hỗ trợ người bệnh AIDS.
- Bệnh nhân nghiên cứu: 15,1% có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống, 54,5% có vợ/chồng;
72,9% không có việc làm hoặc việc làm không ổn định; 43,4% lây nhiễm HIV do tiêm chích ma
41,5% lên 67,6% và từ bố mẹ tăng
từ 26,7% lên 33,5%.
+ Tỷ lệ bệnh nhân AIDS nhận được hỗ trợ từ đồng đẳng viên tăng từ 22,3% lên 44,1% và từ cộng
tác viên tăng từ 33,7% lên 52,5%.
+ Tỷ lệ bệnh nhân AIDS nhận được bơm kim tiêm, bao cao su tăng từ 43,8% lên 51,2% và tham
gia câu lạc bộ tăng từ 21,9% lên 38,7%.
- Sau 6 tháng và 12 tháng điều trị ARV, số lượng CD4 ở nhóm bệnh nhân <100 tế bào giảm từ
57,3% trướ
c điều trị xuống 18,3% sau 6 tháng và còn 6,9% sau 12 tháng; ở nhóm bệnh nhân từ
300 – 500 tế bào và >500 tế bào cũng có thay đổi, từ 6,3% trước điều trị đã tăng lên 15,7% sau
6 tháng và 32,7% sau 12 tháng. KIẾN NGHỊ Để nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc, hỗ trợ điều trị bệnh nhân
HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú trong thời gian tới, cần tập trung giải quyết
những vấn đề sau:
1. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhất là các trang thiết bị phục vụ chẩn đoán giai
đoạn, đánh giá đáp ứng điều trị và đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ,
nhân viên các phòng khám ngoại trú.
2. Cung cấp đầy đủ phương tiện, dụng cụ và có chế độ tiền lương, phụ cấp phù hợp để duy trì và
đẩy mạnh hoạt động của đội ngũ cộng tác viên, đồng đẳng viên trong chăm sóc, hỗ trợ điều trị
người bệnh AIDS.
3. Mở rộng hệ thống phòng khám ngoại trú gắn với việc từng bước xã hội hóa việc điều trị thuốc
kháng vi rút ARV để tăng tỷ lệ người bệnh AIDS được chăm sóc, hỗ trợ, điều trị.