Rabelais và Gogol (Nghệ
thuật ngôn từ và văn hoá
trào tiếu dân gian)
Vì vậy việc trở về với ngôn lời dân gian sống động là thiết yếu, và nó được thực
hiện một cách thật dễ cảm nhận đối với mọi người trong sáng tác của những nhà văn đã
diễn đạt thiên tài tâm thức của nhân dân như Gogol. Ở đây đã gạt bỏ cái quan niệm thô
thiển thường tồn tại trong các giới chính thống về một sự vận chuyển nào đó thẳng tuột
về phía trước. Trở nên sáng rõ là bất kỳ một bước tiến thực sự hệ trọng nào về phía
trước cũng song hành với việc trở lại cái cội nguồn ("cái khởi thuỷ"), chính xác hơn là
làm mới cái cội nguồn. Chỉ có trí nhớ mới có thể tiến lên phía trước, chứ không phải sự
lãng quên. Trí nhớ trở về với cội nguồn và làm mới nó. Tất nhiên, ngay bản thân những
thuật ngữ "phía trước" và "phía sau" theo cách hiểu này cũng mất đi tính tuyệt đối khép
kín của chúng, đúng hơn là bằng sự tương tác của mình chúng làm lộ ra cái bản chất
nghịch lý sống động của chuyển động, đã được triết học nghiên cứu và lý giải theo nhiều
cách khác nhau (từ những triết gia ở Élée đến Bergson). Trong trường hợp đời sống
ngôn ngữ, sự trở lại như thế có nghĩa là sự khôi phục cái trí nhớ hiện hành, được tích luỹ
với đầy đủ dung tích ngữ nghĩa của nó. Một trong những phương tiện khôi phục - làm
mới đó chính là văn hoá trào tiếu dân gian, biểu hiện thật rực rỡ trong sáng tác của
Gogol.
Ngôn từ trào tiếu ở Gogol được tổ chức sao cho mục đích của nó không phải là
việc chỉ ra đơn giản các hiện tượng tiêu cực riêng lẻ, mà là khai mở một bình diện đặc
biệt của thế giới như một chỉnh thể.
Theo nghĩa đó khu vực cười ở Gogol đã trở thành khu vực kết nối. Ở đây cái đối
lập và cái không tương hợp được liên kết lại, và tồn tại như một liên hệ. Ngôn từ kéo
theo những ấn tượng toàn thể của kết nối - với các thể loại ngôn lời hầu như luôn rất xa
với văn chương. Một câu chuyện phiếm đơn thuần (của một quý bà) vang lên trong ngữ
cảnh này, trở thành một vấn đề ngôn ngữ, một điều có ý nghĩa, lộ ra từ dưới lớp rác
Một điểm đặc trưng là không có gì hệ trọng trong những gì Gogol muốn truyền
đạt lại được ông thể hiện ở khu vực hồi ức. Ví dụ, quá khứ của Chichikov được mô tả
ở vùng xa và trên một bình diện ngôn ngữ khác so với việc kiếm tìm "những linh hồn
chết" của y,- ở đây không có tiếng cười. Còn ở đâu thực sự bộc lộ tính cách, thì cái tố
chất cười kết nối, va đập, liên kết với mọi thứ xung quanh luôn thường xuyên hoạt động.
Điều quan trọng là thế giới trào tiếu ấy luôn luôn mở cho những tương tác mới.
Cái khái niệm truyền thống quen thuộc về chỉnh thể và thành tố của chỉnh thể chỉ có
được ý nghĩa trong chỉnh thể, ở đây cần được xem xét lại và nghiên cứu sâu hơn. Vấn đề
là ở chỗ mỗi thành tố như thế đồng thời lại là đại diện cho một chỉnh thể nào đó khác (ví
dụ, của văn hoá dân gian), mà trong đó nó trước hết sẽ tìm ra ý nghĩa của mình. Như
vậy, tính chỉnh thể của thế giới của Gogol về mặt nguyên tắc không đóng kín, không tự
thoả mãn.
Chỉ có nhờ văn hoá dân gian cái tính đương thời nơi Gogol mới dự phần được vào
"thời đại lớn".
Nó đem đến chiều sâu và mối liên hệ cho các hình tượng tập thể được carnaval
hóa: đại lộ Nevski, giới quan chức, giới thư lại, các bộ, cục (phần đầu Chiếc áo khoác,
câu chửi: "Bộ của những trò đểu giả và nhảm nhí", v.v ). Chỉ trong nền văn hóa ấy mới
hiểu được những cuộc tử vong vui nhộn, những cái chết vui vẻ trong sáng tác của Gogol
– một Bulba sau khi bị mất cái tẩu, chủ nghĩa anh hùng vui nhộn, sự biến thái của Akaki
Akakievich lúc lâm chung (cơn mê sảng trước khi chết với những lời chửi rủa và nổi
loạn), những cuộc phiêu lưu của y sau khi lìa đời. Các tập thể được carnaval hóa, về
thực chất, được tiếng cười dân gian rút ra khỏi cuộc sống "thật sự", "nghiêm túc", "xứng
đáng". Không có điểm nhìn nghiêm túc đối lập với tiếng cười. Tiếng cười là "nhân vật
tích cực duy nhất".
Vì thế, chất nghịch dị ở Gogol không phải là sự phá vỡ đơn giản những chuẩn
mực, mà là sự phủ định tất cả các chuẩn mực trừu tượng, khô cứng có kỳ vọng trở thành
tuyệt đối và vĩnh cửu. Ông phủ định tính hiển nhiên và thế giới của cái "đương nhiên" vì
sự bất ngờ và không thể lường trước của sự thật. Dường như ông muốn nói rằng cần chờ
đợi cái thiện không phải từ những cái ổn định và quen thuộc, mà từ "phép lạ". Ở đây ẩn
chứa tư tưởng của nhân dân về sự đổi mới và sự khẳng định cuộc sống.