Vài nét về tổ chức của xã hội Văn Lang qua tài liệu ngôn ngữ học doc - Pdf 19

Vài nét về tổ chức của xã hội Văn Lang
qua tài liệu ngôn ngữ học

Trong một bài nghiên cứu về từ “phụ đạo” 1 (Hoàng Thị Châu: Tìm hiểu
từ “phụ đạo” trong truyền thuyết về Hùng Vương Nghiên cứu lịch sử,
số 102, tháng 9-1967) chúng tôi đã nhấn mạnh đến giá trị tài liệu lịch sử
của những từ chỉ chức vị, chỉ thân phận xã hội những lớp người khác
nhau dưới thời các Vua Hùng. Nay tôi trình bày kết quả việc tìm hiệu hệ
thống tên gọi trong truyền thuyết dựng nước của dân tộc.

Chúng tôi sẽ không đề cập đến những từ như lạc vương, lạc hầu, lạc
tướng. Vì đó là cách người Hán gọi tên những người đứng đầu trong bộ
máy chính quyền ở ta bằng những quan chức của họ: vương, hầu,
tướng… phụ thêm với tộc danh Lạc mà họ gọi ta do đặc điểm nông
nghiệp của dân ta.

Phụ đạo được dùng để gọi những người đứng đầu một cộng đồng tộc,
trong các ngôn ngữ các dân tộc thiểu số anh em. Theo nhiều bản ngọc
phả về Hùng Vương thì đó là tên chỉ chức vị gọi những người đứng đầu
các “bộ” hợp thành nước Văn Lang. Đây là một chức vị kế thừa, trái lại
người đứng đầu mỗi kẻ, mà bóng dáng của họ còn để lại gần đây trong
chức tiên chỉ, do dân chọn lấy trong những người lớn tuổi nhất.

Cũng thế, ở các dân tộc Tây Nguyên, cầm đầu buôn, plây là già làng do
dân bầu ra theo nguyên tắc dân chủ nguyên thủy, nhưng chức pơ-tao
tức là thủ lĩnh dân tộc (hiểu theo nghĩa rộng của từ dân tộc) lại là một
chức vụ kế truyền theo dòng dõi.

Những người giúp Hùng Vương trong việc cai trị gọi là bồ chính. Ở dân
tộc Gia-rai, người giúp việc pơ-tao cai quản một số plây cũng được gọi
bằng một từ tương tự là pồ-ta-rinh.


Từ quan trong từ ghép quan lang được nhiều tác giả giải thích bằng
tiếng Hán là từ chỉ quan chức. Nhưng theo truyền thuyết thì từ quan
lang đã có từ lâu đời trong thời Hùng Vương: trước khi người Hán sang.
Hơn nữa quan lang được đặt đối lập với từ mỵ nương và còn nói rõ là
dùng để gọi con trai và conc gái các vua Hùng. Những điều truyền
thuyết ghi lại khá phù hợp với tài liệu so sánh ngôn ngữ về từ mỵ nương
như chúng ta vừa thấy: mi được phiên âm từ dạng tương tự như còn
thấy trong các ngôn ngữ dân tộc anh em: mái, mại, mai, me; nương là
do từ nàng, đang. Vậy cả hai từ mị nương có nghĩa là “con gái”, “phụ
nữ”, “giống cái”, duy chỉ khác nhau ở sắc thái tu tù học. Từ thứ nhất có
nghĩa thông dụng rộng rãi hơn, từ thứ hai có vẻ trang trọng, quý phái
hơn. Trong từ ghép quan lang thì từ lang có nghĩa là “đàn ông” và cũng
được dùng với vẻ trang trọng, quý phái trong các ngôn ngữ Mường,
Tày, Thái, gần đây. Ngoài ra, lang lại là một từ thông âm và thông nghĩa
vời từ drang-lo trong tiếng Ba-na là “đàn-ông”, a-rang trong tiếng Ê-đê,
a-rang trong tiếng Chàm ; a-rang trong các ngôn ngứ Mã-lai, In-đô-nê-
xi-a với nghĩa là “người”1 (Xem: Hoàng Thị Châu: Nước Văn Lang và
cương vực của nó qua tài liệu ngôn ngữ học. In trong tập này)
Nếu chúng ta lập thành phương trình; mị nương quan lang:

mỵ = (con gái, giống cái)
nương = (đàn bà quý phái) (Mường, Thái, Tày)

quan = ?
lang = (đàn ông quý phái) (Mường, Thái, Tày)

thì có thể suy ra nghĩa của từ quan là “con trai”, “giống đực” và từ này
đã được tìm thấy trong tiếng Stiêng (ở tỉnh Biên Hòa) là “giống đực”.



Hệ thông tên kẻ và mạng lưới thổ ngữ giúp chúng ta xác định được, lần
đầu tiên, sự tồn tại của công xã kiểu châu Á ở Việt Nam từ thời nước
văn Lang.

Hệ thống những từ xưng hô gọi chức vị được truyền thuyết phản ảnh
lại cho thấy rằng: dân cư trong xa hội Văn Lang đã không còn thuần
nhất nữa, họ đã phân ra thành những tầng lớp xã hội cách biệt nhau
đến mức đòi hỏi phải có những từ xưng hô riêng cho mỗi lớp người. Và
hệ thống tên gọi này chỉ có thể ra đời sau khi những lớp người ấy đã
hình thành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status