Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi tại huyện vĩnh linh tỉnh quảng trị - Pdf 19

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
LÊ HOÀI NAM
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BỆNH TẬT VÀ NHU CẦU
KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ NĂM 2010
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
CHUYÊN NGÀNH: Y HỌC DỰ PHÒNG
Mã số: CK. 60 72 73
HUẾ, – 2011
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
BS. Lê Hoài Nam
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BMI : Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
BHYT : Bảo hiểm y tế
CSSK : Chăm sóc sức khoẻ
CĐ : Cao đẳng
ĐH : Đại học
NCT : Người cao tuổi
PHCN : Phục hồi chức năng
PTTH : Phổ thông trung học
THCS : Trung học cơ sở
TYT : Trạm Y tế

1.3.3. Việc triển khai thực hiện các chính sách CSSK người cao tuổi 25
1.3. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG CỦA HUYỆN VĨNH LINH TỈNH
QUẢNG TRỊ 26
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 28
2.1.1. Đối tượng 28
2.1.2. Thời gian 28
2.1.3. Địa điểm 28
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 28
2.2.2. Cỡ mẫu 28
2.3. NỘI DUNG VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 29
2.3.1. Bệnh tật và nhu cầu khám chữa bệnh ở người cao tuổi 29
2.3.2. Một số yếu tố liên quan đến nhu cầu khám chữa bệnh của người
cao tuổi 30
2.4. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA VỀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 31
2.5. KỸ THUẬT THU THẬP THÔNG TIN 32
2.6. HẠN CHẾ SAI SỐ 33
2.7. PHÂN TÍCH, XỬ LÝ SỐ LIỆU 33
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1. TÌNH HÌNH BỆNH TẬT VÀ NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH CỦA
NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ 34
3.1.1. Đặc điểm chung 34
5
3.1.2. Tình hình bệnh tật của người cao tuổi trong 2 tuần qua 35
3.1.2. Nhu cầu dịch vụ khám chữa bệnh của người cao tuổi 39
3.2. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHU CẦU KHÁM CHỮA
BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI 43

Bảng 3.15. Tình hình nhu cầu dịch vụ của người cao tuổi và tình trạng hôn
nhân 44
Bảng 3.16. Tình hình sinh hoạt bản thân của người cao tuổi 45
Bảng 3.17. Tình hình người cao tuổi khám chữa bệnh điều kiện sống, nhà ở,
môi trường 45
Bảng 3.18. Tình hình nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi mắc các
triệu chứng bệnh và thông tin đại chúng 46
Bảng 3.19. Tình hình nhu cầu KCB của người cao tuổi và tham gia các Hội ở
địa phương 46
Bảng 3.20. Tình hình nguồn chi tiêu của người cao tuổi 47
Bảng 3.21. Tình hình nhu cầu KCB của người cao tuổi và tình hình kinh tế. 47
Bảng 3.22. Tình hình nhu cầu KCB của người cao tuổi mắc các triệu chứng
bệnh và bảo hiểm y tế 48
Bảng 3.23. Tình hình nhu cầu thuốc của người cao tuổi khi khám bệnh 48
Bảng 3.24. Tình hình chi phí cho nhu cầu dịch vụ y tế của người cao tuổi 49
Bảng 3.25. Tình hình người cao tuổi có bệnh THA khám chữa bệnh 49
Bảng 4.1. So sánh tình hình bệnh tật với các nghiên cứu khác 53
Bảng 4.2. So sánh tình hình khám chữa bệnh của người cao tuổi theo nhóm
tuổi với các nghiên cứu khác 56
7
Biểu đồ 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa điểm 34
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ người cao tuổi có triệu chứng cơ năng theo giới 35
Biểu đồ 3.3. Bệnh tật của người cao tuổi theo chương bệnh 38
Biểu đồ 3.4. 10 bệnh mắc cao nhất ở người cao tuổi 39
Biểu đồ 3.5. Người cao tuổi mắc bệnh và nhu cầu dịch vụ khám chữa bệnh
trong 2 tuần qua 40
Biểu đồ 3.6. Tình hình nhu cầu thuốc của người cao tuổi khi khám bệnh 49
8
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:

Do các đặc điểm về sinh lý, người cao tuổi là đối tượng dễ bị mắc bệnh và có
nhiều vấn đề sức khoẻ hơn so với các lứa tuổi khác. Tình hình bệnh tật của người
dân nói chung và của NCT nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường,
kinh tế, văn hoá- xã hội, chính trị, tập quán, Nó khác nhau theo từng giai đoạn lịch
sử của mỗi nước. Việc xác định mô hình bệnh tật tại một nơi cụ thể, tại một thời
điểm cụ thể, sẽ là cơ sở khoa học giúp cho công tác phòng bệnh, xây dựng kế hoạch
cấp cứu và điều trị để giúp hạ thấp tối đa tần suất mắc bệnh.
Khi người cao tuổi mắc bệnh thì công tác điều. trị trở nên khó khăn phức tạp
và rất tốn kém về kinh tế do vậy công tác tuyên truyền phòng bệnh cho người cao
tuổi đang là vấn đề đặt ra hết sức quan tâm của Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy
Nhà nước ta đã có pháp lệnh chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi. Cũng như các nước
đang phát triển khác số lượng người già ở Việt Nam ngày càng tăng lên. Xu hướng
già hoá dân số đang đặt ra nhân loại đứng trước hàng loạt những thử thách to lớn và
một trong những thử thách đó là vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho một số lượng đông
10
đảo người cao tuổi trong cộng đồng [8]. Tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị số
lượng người cao tuổi trung bình hàng năm cũng tương đối cao, năm 2009 số người
cao tuổi trên địa bàn toàn huyện là 14.412 người chiếm 15,7% dân số, trong đó nam
giới là 6.732 người chiếm 46,7%, nữ giới là 7.680 chiếm 53,3%.
Vấn đề chăm sóc bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi không phải là mới, chính
sách đã khá cụ thể, song dường như triển khai chưa được đều khắp. Nếu các đoàn
thể có quan tâm hơn nữa thì việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi sẽ
được giải quyết tốt hơn nhiều. Chúng ta sẽ thực hiện thành công chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi là lớp người cần được xã hội tôn vinh
trọng thị và bảo vệ chăm sóc [15].
Cũng như bối cảnh chung của cả nước, vấn đề người cao tuổi trên địa bàn
Huyện Vĩnh Linh đã và đang trở thành mối quan tâm của Đảng, của các cấp chính
quyền và đoàn thể địa phương song thực tế nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người cao
tuổi hiện nay nhìn chung còn chưa được đáp ứng đúng, đầy đủ và kịp thời do thiếu
mô hình bệnh tật ở người cao tuổi.

từ môi trường xã hội và cả những yếu tố xuất phát từ phía người cung cấp dịch vụ [5].
Dịch vụ khám chữa bệnh là dịch vụ chi phí toàn bộ các hoạt động chăm sóc
sức khỏe cho cộng đồng, cho con người mà kết quả tạo ra các sản phẩm hàng hóa
không tồn tại dưới hình thức vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận tiện và
hiệu quả các nhiệm vụ ngày càng tăng của cộng đồng vì con người [11].
Kể từ năm 1987 khi tuyên ngôn Alma-Ata về chăm sóc sức khỏe ban đầu ra
đời đến nay, chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho người dân nói chung, người cao tuổi
nói riêng, y tế cộng đồng đã có nhiều thay đổi rõ rệt. Chính phủ các nước đã cam
kết tìm giải pháp đổi mới hệ thống y tế theo hướng đáp ứng nhu cầu, giảm bớt thiếu
công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế và trong phân bố ngân sách tài chính, nâng
12
cao chất lượng y tế. Do vậy công bằng y tế thể hiện trong tiếp cận và nhu cầu dịch
vụ y tế là mục tiêu xây dựng chính sách, chiến lược y tế công cộng trong cải cách hệ
thống y tế hiện nay [9].
- Về kinh tế. Khi phải lựa chọn một dịch vụ y tế nào đó, con người luôn tư
duy theo các nguyên lý kinh tế nhằm đạt được lợi ích tối đa với mức chi phí hiện có.
Cách đề cập này tỏ ra có ưu thế trong việc xem xét trình tự, trong đó người dân tiếp
cận thực tế với các dịch vụ, sự chuyển dịch vụ này sang dịch vụ khác như: Tự mua
thuốc chữa, đi khám y tế tư nhân, đến cơ sở y tế Nhà nước hoặc cơ sở y tế tư nhân
khác, Tùy thuộc vào sự tiện lợi, thuận tiện trong khoảng cách, thời gian đi lại, sự
tiếp đón hoặc thái độ ân cần chu đáo, chi phí khám chữa bệnh, thời gian chữa trị và
chất lượng kỹ thuật để có lựa chọn thích hợp với khả năng kinh tế, sự quan tâm đến
bệnh tật của chính những người cao tuổi trong gia đình và mức độ trầm trọng của
bệnh tật. Đây cũng là cách được các nhà chính sách, nhà nhân y học dùng xem xét
thái độ tìm kiếm của người dân trước một vấn đề y tế cụ thể [21].
Qua cách đề cập hành vi ứng xử trong chăm sóc sức khỏe, sự tiếp cận có thể
được xem là khả năng đang được các dịch vụ y tế mới đáp ứng việc khám chữa
bệnh của người dân, đánh giá các yếu tố. Không gian, thời gian và chi phí, chất
lượng dịch vụ,
- Khoảng cách: Với phương tiện giao thông, thông tin liên lạc và vô tuyến

người cao tuổi thường hay bị mắc các bệnh thoái hóa và bệnh mạn tính. Tuy nhiên,
có sự khác biệt giữa mô hình bệnh tật do người cao tuổi tự nhận định và mô hình
bệnh tật do thầy thuốc phát hiện; Thực tế đây là yếu tố quyết định nhất đối với người
dân có thu nhập thấp. Mặc dù Nhà nước cũng đã quan tâm rất nhiều đến khám chữa
bệnh cho người nghèo nhưng cũng chưa giải quyết căn nguyên của vấn đề.
- Các yếu tố của con người như trình độ học vấn, hiểu biết, thói quen về
sức khỏe cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sức khỏe và bệnh tật.
- Các yếu tố như khám chữa bệnh, tư vấn y tế phụ thuộc vào người cung cấp
dịch vụ như: Chất lượng, trính độ, thái độ, thời gian phục vụ,
14
- Tiếp cận và nhu cầu khám chữa bệnh: Từ khi đất nước ta đổi mới đến nay,
Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ và ưu tiên chăm sóc cho người cao
tuổi (NCT) như khám chữa bệnh miễn phí, ưu tiên trong các dịch vụ y tế công cộng,
cấp thẻ BHYT, xây dựng các cơ sở khám bệnh chuyên khoa cho NCT. Sự quan tâm
đó của Đảng, Nhà nước và toàn dân dành cho NCT đã được thể hiện trong Hiến
pháp, Luật chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, các văn kiện, các Chỉ thị, Nghị
quyết, Nghị định, Pháp lệnh của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về chăm sóc NCT.
Nhưng tiếp cận và nhu cầu khám chữa bệnh không luôn song hành với nhau, nghĩa
là có nhu cầu khám chữa bệnh không phụ thuộc mức độ bệnh hiện thời và sự tác
động, tư vấn của thầy thuốc và nhiều yếu tố khác.
1.1.1. Khái niệm về người cao tuổi
Việc phân chia già trẻ theo tuổi không phản ánh chính xác quá trình sinh học.
Có người có tuổi nhưng vẫn còn trẻ, khoẻ mạnh trái lại, cũng có người chưa nhiều
tuổi nhưng đã có những biểu hiện già.Vì vậy phân chia theo tuổi chỉ có tính ước lệ
và có giá trị tương đối [3],[5].
Theo Tổ chức Y tế thế giới xắp xếp các lứa tuổi như sau:
Người trẻ: Từ 18-44 tuổi
Người trung niên: Từ 45-59 tuổi
Người cao tuổi: Từ 60-74 tuổi
Người già: Từ 75-89 tuổi

chính thức trở thành quốc gia có dân số già (tỉ lệ người trên 60 tuổi lớn hơn 10%)
vào năm 2014. Như vậy chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm nữa Việt Nam sẽ phải đối
mặt với các khó khăn do việc "già hóa dân số" mang lại. Hiện nay hệ thống cơ sở hạ
tầng và mặt bằng kinh tế, dân trí của nước ta còn thấp. Nếu như Việt Nam không sự
chuẩn bị tốt ngay từ bây giờ thì chắc chắn trong những năm tới áp lực của việc "già
hóa dân số" ngày càng đè nặng lên xã hội. Hậu quả là việc chăm sóc mang tính toàn
diện đối với người cao tuổi ở nước ta khó có thể thực hiện được tốt [17], [20].
16
1.1.2. Những bệnh thường gặp ở người cao tuổi
- Bệnh tim mạch: Thường gặp cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tăng
huyết áp, tai biến mạch máu não, tâm phế mạn, rối loạn nhịp tim.
- Bệnh hô hấp: Viêm phế quản mạn, hen phế quản.
- Bệnh hệ tiêu hoá: Ung thư gan xơ gan, viêm loét dạ dầy - tá tràng.
- Bệnh thận và tiết niệu: Viêm thận mạn, sỏi tiết niệu, u xơ tiền liệt tuyến.
- Bệnh xương khớp: Viêm khớp, vôi hoá cột sống.
- Bệnh xương khớp: Loãng xương, thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp,
gãy xương các loại, biến dạng xương các loại.
- Bệnh nội tiết chuyển hóa: Đái tháo đường, suy giáp, suy sinh dục, tăng
chlesterol máu, tăng acid uric máu, suy vỏ thượng thận.
- Bệnh về máu và cơ quan tạo máu: Thiếu máu do thiếu sắt, hội chứng tăng
đông máu, thiếu máu do thiêú acid folic hoặc vitamin B12, bệnh bạch cầu (cấp và
mạn tính), u tủy xương, ung thư hạch.
- Bệnh tự miễn: Những loại có tự kháng thể kháng gama globulin, tự kháng
thể kháng nhân, tự kháng thể đặc hiệu (kháng hồng cầu, kháng giáp, kháng niêm
mạc dạ dày). Ngoài ra, người già hay gặp tự miễn dịch tiềm tàng.
- Bệnh về mắt: Đục thủy tinh thể, glôcôm, thoái hóa võng mạc và mạch máu,
xơ cứng tuần tiến các mạch võng mạc, teo dây thần kinh thị giác.
- Bệnh về tai - mũi - họng: Giảm thích lực, rối loạn tiền đình, chảy máu cam,
viêm xoang, ung thư xoang (xoang hàm, xoang sàng, vòm mũi họng)
- Bệnh răng - hàm - mặt: Tình trạng mất nhiều răng, viêm thoái hóa quanh

Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và một số rối loạn liên quan cơ chế
miễn dịch.
Chương IV: Bệnh nội tiết dinh dưỡng và chuyển hoá
Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương VI: Bệnh hệ thần kinh
Chương VII: Bệnh mắt và phụ cận
Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm
18
Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn
Chương X: Bệnh hệ hô hấp
Chương XI: Bệnh hệ tiêu hoá
Chương XII: Bệnh da và mô đới da
Chương XIII: Bệnh hệ cơ - Xương và mô liên.kết
Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu- Sinh dục
Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ
Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh
Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm sắc thể
Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng và cận
lâm sàng bất thường, không phân loại ở nơi khác.
Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân
bên ngoài.
Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong
Chương XXI: Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ và việc tiếp súc với
cơ quan y tế.
1.2. TÌNH HÌNH BỆNH TẬT NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM
- Tình hình bệnh tật người cao tuổi trên thế giới
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới tháng 6/2002, dân số thế giới là 6,122
tỷ người. Mô hình sức khỏe bệnh tật đặc trưng của các nước đang phát triển là các
bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng và đan xen vào bệnh lý tim mạch, đái đường,

và tăng Cholesterol ở NCT thấy ảnh hưởng của tăng Cholesterol máu kéo theo tăng
huyết áp với tỷ lệ khá cao trên 50% [12].
Nghiên cứu tình hình mắc bệnh cấp cứu NCT ở Hà Nội năm 1993, theo Trần
Đức Thọ và Nguyễn Xuân Bình thấy 1/3 số bệnh nhân được cấp cứu là NCT trong
đó tai biến mạch máu náo (39,9%), bệnh tim mạch (21,9%), chấn thương và tai nạn
(7,1%), xuất huyết tiêu hoá (3,9%), các bệnh khác (15%) [26].
20
Qua một số nghiên cứu trong và ngoài nước về chăm sóc y tế, xã hội và tình
trạng sức khoẻ NCT chưa đặc biệt chú ý tới nghiên cứu tại cộng đồng trên qui mô
cả nước để xác định nhu cầu chăm sóc y tế-xã hội và thực trạng tìm kiếm và mức
độ sử dụng dịch vụ CSSK, khám chữa bệnh của NCT, nhất là ở vùng nông thôn với
hơn 70% người cao tuổi đang sinh sống; để có những giải pháp chăm sóc nâng cao
chất lượng cuộc sống cho NCT trên toàn quốc.
Đoàn Yên, Lương Chí Thành và cộng sự nghiên cứu tại 7 tỉnh trong cả nước
thì khoảng 60% người cao tuổi bị ốm trong thời gian 4 tuần trước thời điểm điều
tra. Khoảng 70% số người cao tuổi được điều tra tại 3 tỉnh cho biết có mắc triệu
chứng của bệnh mạn tính: Tăng huyết áp 28,4%; Biểu hiện của bệnh trầm cảm 5%;
Người cao tuổi nhu cầu dịch vụ y tế Nhà nước khi bị ốm là 40%. Những người trên
85 tuổi có tỷ lệ nhu cầu dịch vụ bệnh viện thấp hơn 2 lần so với nhóm tuổi từ 60-64
do khả năng đi lại hạn chế [40].
Theo nghiên cứu của Viện Lão khoa, bệnh khớp đặc biệt cao ở vùng miền
núi, bệnh tim mạch đặc biệt cao ở vùng thành thị [38].
Phạm Khuê nghiên cứu 435 người cao tuổi nằm điều trị tại bệnh Viện Lão khoa
năm 1993, gặp nhiều nhất là bệnh tim mạch 59,6%; Tiêu hóa 39%; Hô hấp 35,6%;
Bệnh tiết niệu sinh dục 10,8%; Bệnh thần kinh 4,6%; Bệnh về máu 4,1% [18].
Trần Đức Thọ nghiên cứu 3 xã phường của Hà Nội, Huế, Vũng Tàu năm
2001, nhóm bệnh về mắt cao nhất là 94,6%; Bệnh tai-mũi-họng 77%; Bệnh tim
mạch 70,7%; Bệnh xương khớp 55,7% [33].
So với các bệnh mắc chung ở các lứa tuổi theo niên giám thống kê y tế năm
2001, cao nhất là bệnh hô hấp 18,6%; Bệnh nhiễm khuẩn 11,4%; Bệnh tim mạch

thấy: Về tuổi thọ: Người có độ tuổi từ 60-69 tuổi là 52,5%, độ tuổi từ 70-79 tuổi
chiếm 35,4% và độ tuổi trên 80 tuổi chiếm 12% [14].
- Về giới: Nữ giới chiếm 62,3%, nam giới chiếm 37,7% [12]. Cụ bà chiếm tỷ
lệ 62,3%, cụ ông chiếm tỷ lệ 37,7% (Gần 2 cụ bà có 1 cụ ông) [12].
Về bệnh tật: Bệnh phổ biến nhất là bệnh hệ tuần hoàn chiếm 35,5%. Bệnh
xương khớp chiếm 20,7%. Bệnh tiêu hóa chiếm 8,9%. Bệnh thần kinh chiếm 8,5%.
22
Bệnh về mắt chiếm 7,4%. Bệnh về hô hấp chiếm 7,4%. Bệnh về Tai - Mũi - Họng
chiếm 6,8%. Bệnh nội tiết chuyển hoá chiếm 4,8%. Bệnh Răng miệng chiếm 3,8%.
Bệnh da và tổ chức dưới da chiếm 2,3%. Bệnh tiết niệu sinh dục chiếm 1,4%. Bệnh
Nhiễm trùng và ký sinh trùng chiếm 0,4%. Bệnh tâm thần chiếm 0,4%. Bệnh Ung
thư và khối u chiếm 0,2%. Bệnh dị tật bẩm sinh chiếm 0,2%. Bệnh khác không xác
định chiếm 0,2%.Bệnh máu và cơ quan tạo máu chiếm 0,2%.
Một số nghiên cứu khác tại Bệnh viện Bạch mai vè bệnh tật người cao tuổi
cho thấy: Bệnh tim mạch chiếm 59,3%, tiêu hoá chiếm 39%, hô hấp chiếm 35,6%,
tiết niêu sinh dục chiếm 10,8%, thần kinh chiếm 4,6%, máu và cơ quan tạo máu
chiếm 4,1%, nội tiết dinh dưỡng chiếm l,38%[11].
Theo tác giả Phạm Khuê nghiên cứu mô hình ốm đau và hành vi tìm kiếm
chăm sóc sức khỏe người lớn tuổi cho thấy tỷ lệ bệnh tật ở nữ giới 65,9%; Nam
giới 56,6% [22].
1.3. TÌNH HÌNH NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
Kiến thức về CSSK của người cao tuổi: Nhìn chung, người cao tuổi tại các
tỉnh nghiên cứu ít có kiến thức về phòng chống một số bệnh thường gặp như tăng
huyết áp, đau khớp. Khoảng hơn 45% người cao tuổi không biết gì về cách phòng
chống bệng tăng huyết áp. NCT được chẩn đoán là tăng huyết áp biết nhiều cách
phòng chống cao hơn hẳn những người không bị bệnh. Nam giới cao tuổi có kiến
thức phòng bệnh tăng huyết áp tốt hơn phụ nữ cao tuổi (39,0% và 49,8%). Đặc biệt
phụ nữ cao tuổi và người cao tuổi có điều kiện kinh tế nghèo có kiến thức về phòng
bệnh kém hơn các nhóm khác[20], [22].
Đối với ốm cấp tính, hình thức tự điều trị và sử dụng dịch vụ y tế tư nhân

40% người cao tuổi sử dụng DVYT nhà nước khi bị ốm. Những người trên 85 tuổi
có tỷ lệ sử dụng dịch vụ bệnh viện thấp hơn 2 lần so với nhóm tuổi từ 60-64 do khả
năng đi lại hạn chế. Tại 3 tỉnh nghiên cứu, người cao tuổi ở 2 tỉnh Hải Dương và
Ninh Thuận có xu hướng tự điều trị và sử dụng dịch vụ y tế tư nhân cao hơn tỉnh
Vĩnh Long.
24
- Đối với bệnh mạn tính, đến cơ sở y tế nhà nước để chẩn đoán bệnh là hình
thức phổ biến ở cả 3 tỉnh điều tra. Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi tự chẩn đoán bệnh
cũng tương đối cao, chiếm khoảng 27%. Sử dụng dịch vụ y tế tư nhân trong điều trị
bệnh mạn tính là hình thức phổ biến ở cả 3 tỉnh. Phụ nữ cao tuổi có xu hướng sử
dụng dịch vụ y tế tư nhân với tỷ lệ cao hơn nam giới, trong khi nam giới cao tuổi lại
sử dụng dịch vụ bệnh viện với tỷ lệ cao hơn.
- Khoảng cách tới cơ sở y tế, điều kiện kinh tế và tâm lý ngại làm phiền tới
con cháu là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế của người cao
tuổi. Tuy nhiên, sự thuận tiện về khoảng cách tới cơ sở y tế là lý do chính để người
cao tuổi lựa chọn cơ sở y tế khám chữa bệnh. Hầu hết người cao tuổi mong muốn
được khám chữa bệnh ở những cơ sở y tế gần nhà như khám tại nhà, khám ở cơ sở y
tế tư nhân hoặc KCB tại TYT xã.
- Về tình hình chăm sóc người cao tuổi tại gia đình:
Ở các tỉnh thuộc khu vực phía Nam và phía miền Trung, người cao tuổi có
xu hướng thường sống chung cùng với con cháu, trong khi ở khu vực phía Bắc
người cao tuổi lại thường sống riêng cùng với vợ/chồng.
Đối với những gia đình nhiều thế hệ, người cao tuổi được con cái quan tâm
chăm sóc tốt hơn so với trước đây do nhận thức tốt hơn về trách nhiệm đối với cha
mẹ cũng như có kiến thức tốt hơn nên biết cách chăm sóc cha mẹ hơn. Tuy nhiên,
tình trạng đô thị hoá ở vùng nông thôn hiện nay đã làm cho con cái ít có thời gian
chăm sóc cha mẹ. Người cao tuổi chủ yếu chỉ được con cái chăm sóc khi ốm đau.
Người cao tuổi hiện tại thường là người chăm sóc cho con cháu trong gia đình.
Đối với những vùng có mô hình gia đình đặc thù như tình trạng người cao
tuổi không sống chung cùng gia đình và con cháu như ở tỉnh Đăk Lăk và Hải

tính ưu việt của Đảng và Nhà nước. Người cao tuổi đã được quan tâm chăm sóc tốt
hơn. Điều này đặc biệt rõ nét đối với những NCT tàn tật, cô đơn không nơi nương
tựa và NCT từ 90 tuổi trở lên.

Trích đoạn MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA VỀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU Tình hình bệnh tật của người cao tuổi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status