BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
.......................................
THÁI VĂN THÀNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ DẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ KHẢ NĂNG TÁI
SINH CỦA LÂM PHẦN TRÂM BẦU (Compretum quadrangulare Kurz)
TẠI HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số : 62.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ XUÂN TRƯỜNG
HÀ NỘI, 2011
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đã từ lâu cát bay, cát nhảy, cát trôi luôn là mối đe dọa thường xuyên và nguy
hiểm đối với cuộc sống của người dân ven biển các tỉnh miền Trung nước ta. Trải
qua hàng triệu năm vận động địa chất, cát theo sóng biển được đưa lên bờ, từ đó gió
phân bố tự nhiên của địa phương. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một nghiên
cứu nào về loài cây này để bổ sung cho danh lục các loài cây trồng rừng phòng hộ
của địa phương.
Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã chọn đề tài: “ Nghiên cứu một số đặc điểm
lâm học và khả năng tái sinh của lâm phần Trâm bầu (Compretum
quadrangulare Kurz) tại huyện Vĩnh Linh – tỉnh Quảng Trị”. Nhằm góp phần
hoàn thiện cơ sở khoa học về đặc điểm lâm học của loài để đề xuất định hướng các
biện pháp gây trồng, phát triển bổ sung tập đoàn cây trồng nhằm nâng cao khả năng
cố định cát và bảo vệ môi trường đối với các vùng cát ven biển, góp phần bảo vệ
môi trường phát triển nông thôn bền vững.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu về rừng phòng hộ ven biển
Nghiên cứu về rừng phòng hộ và phát triển nông, lâm nghiệp trên các vùng bị
sa mạc hóa nói chung và các vùng trên đất cát ven biển nói riêng đã được nhiều tác
giả quan tâm chú ý từ thế kỷ XVIII. Các nghiên cứu được tiến hành theo nhiều khía
cạnh khác nhau nhưng tập trung chủ yếu vào các vấn đề như động thái cát di động,
đặc điểm đất cát ven biển; các loài cây trồng và cấu trúc đai rừng phòng hộ, khả
năng phòng hộ chắn gió, chắn cát cũng như giá trị kinh tế của hệ thống đai rừng trên
vùng đất cát ven biển…Có thể điểm qua một số nét chính như sau:
Để hạn chế và ngăn chặn hiện tượng cát bay gây thiệt hại cho đời sống và sản
xuất con người thì trồng rừng phòng hộ trên đất cát ven biển là một giải pháp rất
hiệu quả. Vấn đề này được nhiều nước trên thế giới quan tâm phát triển, đặc biệt ở
các nước có nhiều vùng bị ảnh hưởng bởi cát bay như nước ta. Cho đến nay, trên
thế giới có nhiều loài cây trồng đã được thử nghiệm và bước đầu đem lại hiệu quả:
xây dựng hệ thống đai rừng phòng hộ môi trường, cải tạo tiểu khí hậu. Các công
trình nghiên cứu của V.A thì phạm vi chắn gió của đai thưa hẹp hơn đai hơi kín.
Machiakin G.I cho rằng đai rừng hơi kín giảm tốc độ gió nhiều nhất. Ở vị trí sau đai 30
H, tốc độ gió giảm 40% và phạm vi chắn gió đạt 60 –100 H mới phục hồi như cũ [14].
+ Ngay từ năm 1766, các cánh đồng hoang khô hạn ở Ucren, Quibiep, Tây
Xiberi đã được cải tạo để có triển vọng canh tác nông nghiệp kết hợp bằng cách xây
dựng hệ thống đai rừng phòng hộ môi trường, cải tạo tiểu khí hậu. Các công trình
nghiên cứu của V.A Lômitcosku (1809), Dokuchaep (1892), X.A Timiriazep
(1893,1909,1911) cho rằng trên các hoang mạc muốn cải thiện tiểu khí hậu và cải
tạo đất trồng rừng phòng hộ thành một hệ thống theo đai hoặc mạng lưới ô vuông,
có kết cấu kín, hỗn giao nhiều tầng [3].
+ Công trình nổi bật của Trung Quốc được đánh giá là một thành công vĩ đại
trong những năm gần đây về cải thiện điều kiện môi trường chống bão cát và hạn
chế xói mòn là hệ thống phòng hộ quy mô lớn được tiến hành trên 551 hạt thuộc 13
tỉnh phía Bắc từ Sơn Tây, Ninh Hạ, khu vực tự trị Nội Mông đến Bắc Kinh, Liêu Ninh [3].
5
Hiệu quả phòng hộ của đai rừng cũng rất được chú ý. Các kết quả nghiên cứu
đều khẳng định vai trò to lớn của các đai rừng để phòng hộ và cải thiện điều kiện
canh tác. Theo Zheng Haishui (1996), một đai rừng có chiều rộng 100m mỗi năm có
khả năng cố định được 124 – 223 m3 cát. Ở thành phố Zhanjiang 20.000 ha các đụn
di động và bán di động đã được cố định bởi các đai rừng và kết quả hàng ngàn ha
đất nông nghiệp được phục hồi [11].
Theo tài liệu của Trạm Nông Lâm Daodong ở đảo Hải Nam, một khu trồng
rừng Phi lao 10 tuổi đã tạo một lớp thảm mục dày 4 – 9 cm, với tổng cành lá rụng
15- 21 tấn/ha trong 10 năm. Thu nhập từ khai thác gỗ củi ở tuổi 15 đạt 2.500 đến
4.000 USD/ ha.
Các đai rừng Phi lao trồng trên đất cát có tác dụng giảm nhiệt độ quá cao vào
các châu lục như sau:
Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài;
Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1.000
loài.
Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam
Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.000 loài.
Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500 loài;
Madagasca: 7.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng
phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài;
Xomali và Eritrea: 1.000 loài.
Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu
vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang
Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga,
Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài.
Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam
Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.500 loài.
1.1.4. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia thành ba dạng cấu trúc là cấu trúc
sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian. Cấu trúc của lớp thảm thực vật là
kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn
7
giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm sinh
thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ
sinh thái rừng.
Baur G.N. (1962) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về
cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu
các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự
sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong
lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng.
1.1.5. Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được
tiến hành từ lâu trên thế giới. Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của
Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva
(1978)…Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực
vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần
loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó. Vì vậy, việc nghiên cứu
thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại
hình thảm thực vật.
Ramakrishman (1981 – 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng
Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt
cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá.
Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái
nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy
bỏ hóa được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134
chi và 167 loài.
1.2. Ở Việt Nam
Theo Luật Bảo vệ Phát triển rừng năm 2004 [12] thì: “Rừng phòng hộ được sử
dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa,
hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường”. Rừng phòng hộ
bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, rừng
phòng hộ chắn sóng lấn biển và rừng phòng hộ bảo vệ môi trường.
9
Như vậy, ở nước ta rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển đã được thể chế
hóa trong Luật Bảo vệ Phát triển rừng và được định nghĩa khá rõ rang, trong đó
Châu Á đầu tiên trên thế giới). Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam
được chia thành 10 kiểu.
Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng
Miền nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể
rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil.
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật
rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960).
Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại
hình lớn:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải
trồng rừng.
Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa
thưa.
Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt
tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ,
cải tạo.
Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá
hoại, cần khai thác hợp lý.
Phan Nguyên Hồng (1970) phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển Miền bắc
Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống.
Thái Văn Trừng (1978) đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ kín
tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những
kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật. Năm 1975, trên cơ sở
các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế
lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam
theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt
Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay.
nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa.
12
Ngô Tiến Dũng (2004) dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của
UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn quốc gia Yok Don thành: kiểu
rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng
rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau.
1.2.2. Những nghiên cứu về hệ thực vật
Ở nước ta, trong thực vật chí Đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp
theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao
có mạch. Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới
10.000 đến 12.000 loài. Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc
chắn, năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản
của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta. Gần đây, Phan Kế
Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết
được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ.
Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc
cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305
họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế
giới. Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta
có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm
Indonesia - Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam
Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á.
* Nhận xét chung
Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập
trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung
phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình.
Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: hầu hết các tác
quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý,
địa hình. Bên cạnh đó, tác giả này còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm
thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập
quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của
tán lá. Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng
Việt nam thành 14 kiểu. Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để
trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể.
14
Vũ Đình Phương (1987) trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên ở nước ta, ông
cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh rừng tự nhiên cần phải
hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của rừng. Những quy luật tự
nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng, nghiên cứu về cấu trúc rừng hỗn
loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là cơ
sở cho việc đề xuất biện pháp thâm canh rừng. Nguyễn Hải Tuất (1991), nghiên cứu
quy luật cấu trúc quần thể cây rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm
bảo tính ổn định của một hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc
rừng.
Trần Văn Con (1992) ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu động
thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai Kon Tum) đã cho rằng,
sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái
sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa). Mô phỏng toán học có thể
rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng
rừng và các tương quan nhất định.
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng của nước ta còn có một số tác giả như:
Phạm Minh Nguyệt (1994) đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được
quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ. Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát
triển tốt. Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra
Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Văn Phú (1975) đã thống kê 39 loài cây bộ
Đậu thân bò và thân leo làm thức ăn giàu protein cho gia súc Miền Bắc Việt Nam.
Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc
cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ.
Phan Kế Lộc (1978) điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ Trinh nữ
(Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin.
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên
đã thống kê được 3.210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương.
Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài
hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài.
16
Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác (dạng
sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển
hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn.
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc
164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta.
Trần Đình Đại (2001) căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại
các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây bắc bộ (Lai
Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1.050 chi và 3.074 loài thuộc 6 ngành thực vật
bậc cao có mạch.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia
Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi,
213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín. Các loài này được xếp thành
8 nhóm có giá trị khác nhau. Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu
(Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ
Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng.
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận
nhiên và con người. Bão lụt hàng năm thường xuyên đe dọa đời sống của cư dân địa
phương. Nguy cơ sạt lở bờ biển và hiện tượng cát bay, cát trôi, cát chuồi là những
mối đe dọa thường xuyên. Ngay cả việc phát triển sản xuất nâng cao đời sống trong
mấy năm gần đây như đào hồ nuôi trồng thủy sản cũng đã làm xáo trộn không ít
cảnh quan, môi trường; cộng với việc khai khoáng đại trà đã làm cho những vùng
đất nơi đây vốn đã khốn khó lại càng khốn khó hơn. Thực trạng nhiễm mặn đất
trồng, sa mạc hóa cảnh quan, gia tăng hạn hán, ngập úng do lún sụt địa tằng... do
hậu quả của khai khoáng và đào hồ nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát gây ra, đã
và đang là vấn nạn của đời sống cư dân tại chỗ.
Một trong những phương thức phát triển bền vững là phải là xây dựng hệ
thống nông lâm kết hợp lấy nguồn gen bản địa làm gốc, bảo tồn, phát triển thảm
18
thực vật tự nhiên đã có trên cơ sở hiểu biết tường tận tiềm năng đất đai và đa dạng
sinh học.
Năm 2005, Đổ Xuân Cẩm Trường Đại học Nông Lâm Huế đã nghiên cứu về
tiềm năng sử dụng cây bản địa ở vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, qua bước
đầu điều tra đã xác định được 372 loài, thuộc 268 chi và 112 họ thực vật khác nhau.
Trong đó có họ Myrtaceae có giá trị nhất về phục hồi rừng tự nhiên và khai thác gỗ
củi. Trong số 7 chi hiện hữu của họ này ở vùng nghiên cứu, chi Syzygium có đến 6
loài, trong đó có 5 loài cây gỗ có ý nghĩa sinh thái và sử dụng vào đời sống… Từ đó
đã đề xuất một số nhóm cây gổ, cây bụi sử dụng để trồng rừng, xúc tiến tái sinh tự
nhiên góp phần tạo ra những dải rừng hỗn loài phòng hộ bền vững cho bờ biển.
Năm 2008, Phan Thị Thúy Hằng - Trường Đại học Khoa học, Đại Huế và
Nguyễn Nghĩa Thìn - Trường Đai học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà
Nội đã có những nghiên cứu bước đầu về đa dạng thảm thực vật tự nhiên vùng cát
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế: với kết quả là có 320 loài thực vật bậc cao
có mạch phân bố trên các sinh cảnh khác nhau. Đặc biệt, nhiều nơi có các cây gỗ
Số liệu công bố về diện tích đất cát ven biển ở nước ta được tập hợp qua bảng
1.1 dưới đây cho [2].
Bảng 1.1.Số liệu diện tích đất cát ven biển Việt Nam
TT
Thời gian (năm)
Diện tích(ha)
1
1980
502.045
2
1989
462.700
3
1994
600.000
4
1997
thái khắc nghiệt và rất nhạy cảm với điều kiện khí hậu, thời tiết. Điều kiện môi
trường của vùng đất này trong vài thập niên vừa qua có sự biến động khá mạnh do
tác động của thiên nhiên và con người. Bão lụt hàng năm thường xuyên đe dọa đời
sống của cư dân địa phương. Nguy cơ sạt lở bờ biển và hiện tượng cát bay, cát trôi,
cát chuồi là mối đe dọa thường xuyên đang là vấn nạn của đời sống cư dân tại chỗ.
Tuy nhiên qua điều tra thực tế tại địa phương hiện nay tại một số xã vùng cát ven
biển huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị có hệ thống rú cát trong đó loài chiếm ưu thế
là cây Trâm bù (Trâm bầu) đã tồn tại hàng trăm năm có tác dụng phồng hộ, chống
cát bay cát nhảy, giữ nước, điều hoà không khí....
Từ thực tế đó việc nghiên cứu về đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh của
lâm phần Trâm bầu tại địa bàn huyện Vĩnh Linh là một hướng đi rất quan trọng
nhằm góp phần đề xuất các biện pháp gây trồng, phát triển bổ sung tập đoàn cây
trồng để nâng cao hiệu quả phòng hộ và bảo vệ môi trường đối với các vùng cát ven
biển được hợp lí.
21
Chương 2
MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu:
2.1.1. Mục tiêu chung:
Đánh giá hiện trạng, đặc điểm lâm học, khả năng tái sinh lâm phần Trâm bầu
ven biển huyện Vĩnh Linh nhằm đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh góp
phần nâng cao khả năng phòng hộ đề xuất hướng quản lý, bảo vệ và phát triển lâm
phần Trâm bầu trên địa bàn huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị và các địa phương
vùng cát.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được hiện trạng phân bố và đặc điểm lâm học của lâm phần Trâm
bầu ven biển huyện Vĩnh Linh – Tỉnh Quảng Trị.
- Các tài liệu và báo cáo có liên quan tới cây Trâm bầu.
2.4.2. Phương pháp ngoại nghiệp.
2.4.2.1. Lập ô tiêu chuẩn
- Căn cứ vào hồ sơ về hiện trạng rừng hiện nay, tiến hành lập các ô tiêu chuẩn.
Mỗi ô tiêu chuẩn điển hình có diện tích 1000 m2. Việc lập các ô tiêu chuẩn phải
đảm bảo đại diện cho các lâm phần Trâm bầu, các ÔTC được đặt tại các vị trí có
loài Trâm bầu phân bố, điều kiện vùng cát thay đổi từ mới hình thành ven biển đến
đã ổn định ở phía trong. Cụ thể như sau:
+ Vùng 1: Là các lâm phần Trâm bầu nằm sát biển, cồn cát mới hình thành,
khả năng di động cao.
+ Vùng 2: Là các lâm phần Trâm bầu nằm ở vùng trung gian, cồn cát đã tương
đối ổn định nhưng khả năng di động vẫn khá cao.
+ Vùng 3: Là các lâm phần Trâm bầu nằm cách xa biển, cồn cát đã ổn định, ít
có khả năng cát tái di động.
Mỗi vùng tiến hành lập 02 ô tiêu chuẩn điển hình.
- Tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển: D1.3 ( Đường kính
than cây tại vị trí cách mặt đất 1.3m), HVN (Chiều cao vút ngọn), DT (Đường kính
tán) trên các ô tiêu chuẩn.
2.4.2.2. Phương pháp thu thập số liệu trong ô tiêu chuẩn
* Điều tra tầng cây cao
23
- Đường kính ngang ngực (D1,3): Dùng thước kẹp kính có độ chính xác đến
mm đo tại vị trí 1,3m.
- Chiều cao vút ngọn(Hvn): Dùng thước đo cao Bumleiss, tuỳ theo địa hình mà
đứng cách cây theo các khoảng cách trên thước tiến hành đo độ chính xác của thước
đến 0,1m, sau đó tính toán chiều cao của cây.
- Đo đường kính tán cây (Dt) bằng cách đo gián tiếp thông qua hình chiếu
lâm học với tỷ lệ 1/200 trên giấy kẻ li.
* Điều tra lớp cây tái sinh và lớp cây bụi, thảm tươi:
- Trong mỗi ÔTC lập 5 ô dạng bản, mỗi ô dạng bản có diện tích 25 m2 (5m x
5m) để điều tra lớp cây tái sinh và lớp cây bụi thảm tươi.