Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Ngoại Hình Và Khả Năng Sinh Sản Của Gà Địa Phương Lạc Thủy - Hòa Bình - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––

ĐỖ THỊ KIM DUNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA
GÀ ĐỊA PHƯƠNG LẠC THỦY - HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––

ĐỖ THỊ KIM DUNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA
GÀ ĐỊA PHƯƠNG LẠC THỦY - HÒA BÌNH
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số ngành: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TRẦN THANH VÂN

Bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn nuôi đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện về thời gian và vật
chất cho tôi học tập, triển khai đề tài và bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm,
các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi thú y, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và bảo vệ
thành công luận văn này.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn
chân thành tới các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đã động viên,
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài và
hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả

Đỗ Thị Kim Dung


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG ..................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ..................................................................................... vii
MỞ ĐẨU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài .............................................................................................. 1

2.4.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu ............................................................... 34
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu............................................................................ 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 39
3.1. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của đàn gà địa phương Lạc Thủy ... 39
3.1.1. Đặc điểm ngoại hình .................................................................................... 39
3.1.2. Các chiều đo cơ thể gà ở 38 tuần tuổi........................................................... 42
3.2. Kết quả nghiên cứu về một số chỉ tiêu trên đàn gà Lạc Thủy giai đoạn hậu bị ..... 44
3.2.1. Tỷ lệ nuôi sống ............................................................................................ 44
3.2.2. Khối lượng cơ thể gà hậu bị qua các tuần tuổi.............................................. 46
3.2.3. Tiêu tốn thức ăn của gà hậu bị qua các tuần tuổi .......................................... 47
3.3. Kết quả các chỉ tiêu nghiên cứu trên đàn gà Lạc Thuỷ giai đoạn sinh sản
20 - 40 tuần tuổi .................................................................................................... 49
3.3.1. Tỷ lệ chết và loại thải của gà thí nghiệm giai đoạn sinh sản 20 - 40 tuần tuổi ...... 49
3.3.2. Khối lượng cơ thể của gà Lạc Thủy giai đoạn sinh sản ................................ 49
3.3.3. Tuổi thành thục về tính ................................................................................ 50
3.3.4. Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống .............................................. 51
3.3.5. Khối lượng trứng và chất lượng trứng .......................................................... 54
3.3.6. Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở của gà địa phương Lạc Thuỷ............... 57
3.3.7. Tiêu tốn thức ăn của gà thí nghiệm cho sản xuất trứng giống và gà con giống .. 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.................................................................................. 60
1. Kết luận............................................................................................................. 60
2. Đề nghị.............................................................................................................. 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 62


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CD


Nxb

Nhà xuất bản

pp

paper page

STT

Số thứ tự

TB

Trung bình

Tr

Trang

TT

Trong tuần


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí nghiệm nuôi gà hậu bị ........................................................ 31

1

MỞ ĐẨU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia cầm ở nước ta có truyền thống từ lâu đời, đã và đang góp phần
quan trọng cải thiện sinh kế của hàng triệu nông dân. Hàng năm, ngành chăn nuôi
gia cầm cung cấp 18 - 20 % tổng khối lượng thịt các loại, đứng thứ hai sau thịt lợn
(thịt lợn chiếm vị trí số 1 với tỷ lệ 75 - 76 %), bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm còn
cung cấp nguồn thực phẩm có dinh dưỡng khá hoàn chỉnh đó là trứng gia cầm.
Vốn có nhiều truyền thống trong chăn nuôi, song hành với tiến độ hội nhập
của cả nước, ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở Việt
Nam ngày càng phát triển. Tuy nhiên, với tình hình chăn nuôi diễn biến phức tạp,
dịch bệnh nhiều, do yếu tố thích nghi nên một số giống gà nhập ngoại thường có
sức chống chịu bệnh tật kém và một số chưa phù hợp với thị hiếu của người tiêu
dùng. Trong điều kiện đó một số giống gia cầm địa phương đang được chú trọng
khôi phục và phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu đó.
Gà địa phương Lạc Thủy là một loại gà mới được phát hiện ở Huyện Lạc
Thủy - Tỉnh Hòa Bình, đây là một loại gà có chất lượng thịt khá tốt, khả năng kháng
bệnh cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Tuy nhiên cho đến nay ở Việt
Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về đối tượng này. Sau khi tiến hành
điều tra và thu thập, bước đầu đặt tên giống gà này là gà Lạc Thủy cho đúng với
nguồn gốc xuất xứ của chúng. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của gà
địa phương Lạc Thủy - Hòa Bình” để bước đầu có cơ sở khoa học đánh giá về đặc
điểm loại gà địa phương này. Trong khuôn khổ của đề tài này do thời gian và kinh
phí còn hạn chế nên những đánh giá của chúng tôi chỉ là bước đầu, làm cơ sở cho
các đề tài và nghiên cứu chuyên sâu sau này về loại gà địa phương này.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được một số đặc điểm ngoại hình của gà địa phương Lạc Thủy.
- Đánh giá được khả năng sinh sản của gà địa phương Lạc Thủy.

bên ngoài của gia cầm có thể quan sát được như: màu lông, da, hình dáng, mào tích,
… Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh
hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi.
Tính trạng ngoại hình
- Sự phát triển của bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền
của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Gà con mới nở có bộ lông tơ
che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần dần được thay thế bằng bộ lông cố định.
- Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có
liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm. Theo Brandsch H. và Bilchel
H. (1978) [4]), những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh. Theo Siegel
P. B. và Dunington E. A. (1978) [78], những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh
phù hợp với khả năng tăng trọng cao. Hayer J. F. và Cs (1970) [68], cho biết gà mái
mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormone có tác
dụng ngược với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông.
- Màu lông là do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào
tương của tế bào. Đặng Hữu Lanh và Cs (1999) [25] cho biết, màu sắc lông, da là
mã hiệu của giống, đó là những tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc lông da là
những chỉ tiêu trong chọn lọc gia cầm. Thông thường, màu sắc đồng nhất là giống
thuần, trên cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp. Màu sắc do
một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu lông
của đời sau trong chọn lọc.
Các giống gia cầm khác nhau có bộ lông khác nhau, sự khác nhau về màu
sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (Melanogene) trong các


4

tế bào lông, nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom (Carotinoit) thì lông có màu vàng,
xanh tươi hoặc màu đỏ. Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng.
- Đầu: Cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong


5

ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay chữ nhật. Gà hướng trứng lại có kết
cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác.
Theo tài liệu của Champer J. R. (1990) [65] thì kích thước các chiều đo có
tương quan với sức sản xuất của gà Broiler. Tác giả cũng cho biết độ lớn góc ngực,
dài chân, dài đùi và đường kính ống chân có tương quan với khối lượng cơ thể.
Siegel P. B. và Cs (1978) [78] cho biết tương quan giữa độ lớn góc ngực và khối
lượng cơ thể từ 0,4 - 0,68 trung bình là 0,42.
1.1.2. Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh
Sức sống và khả năng kháng bệnh ở gia cầm là những tính trạng di truyền
đặc trưng cho từng loài, giống, dòng, cá thể và được xác định bởi khả năng chống
chịu những ảnh hưởng của dịch bệnh và ngoại cảnh môi trường, nó là yếu tố quan
trọng giúp chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao. Trong cùng một giống, sức sống của
mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng vẫn
nằm trong giới hạn của phẩm giống. Theo Lê Viết Ly (1995) [29] cho biết, động vật
thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức
sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp.
Khavecman (1972) [20] cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được
xác định bởi tính di truyền, có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi
trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh. Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu
phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của
môi trường (Brandsch H., Bilchel H., 1978) [4].
Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật,
khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Trong chăn nuôi người ta thường lấy
tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm, như
giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải.
Gavora J. F. (1990) [67] khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm cho biết:
sức sống được thể hện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di

thuộc vào giống, dòng, tính biệt. Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái do
có sự tác động khác nhau của hormone.
Nêu ra mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu đối với sức sống
và năng suất của gà, Ngô Giản Luyện (1994) [28] đã xác định được, ở gà Hybro
nuôi tại Việt Nam thì những gà mái có số lượng bạch cầu cao ở độ tuổi 60 và 110
ngày sẽ tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao.
Lê Xuân Đồng, Nguyễn Thượng Trữ (1988) [10] cho rằng sức sống và khả
năng kháng bệnh còn phụ thuộc vào thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cũng
như tuổi của gia cầm.


7

Trong chăn nuôi, để nâng cao tỷ lệ nuôi sống, sức đề kháng, giảm tổn thất do
bệnh tật gây ra, bên cạnh việc cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh thú y và
chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với từng loại vật nuôi thì một vấn đề hết sức quan
trọng là cần chọn nuôi giống vật nuôi có khả năng thích nghi cao. Vấn đề này chỉ có
thể xác định được thông qua các thử nghiệm trong thực tế.
1.1.3. Tính trạng sản xuất của gia cầm
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [41] các tính trạng sản xuất là các tính trạng
số lượng như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối
lượng trứng… Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh
trưởng, sinh sản,… đều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền của các tính trạng
số lượng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Phần lớn các tính trạng sản
xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền học của tính trạng số
lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Các tính trạng số lượng
(Quantitative character) là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau giữa các cá
thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại và sự khác nhau
này chính là nguồn vật liệu cung cấp cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân
tạo. Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, được nuôi

Trong đó:

P là giá trị kiểu hình
G là giá trị kiểu gen
E là sai lệch môi trường

Nếu trung bình sai lệch môi trường của một quần thể bằng (0), thì trung bình
giá trị kiểu hình bằng trung bình giá trị kiểu gen. Khi đó thuật ngữ trung bình quần
thể (population mean) là trung bình giá trị kiểu hình hoặc trung bình giá trị kiểu gen
của quần thể và trung bình quần thể là tổng các tích số của từng giá trị kiểu gen với
tần số của nó khi đề cập đến các thế hệ kế tiếp nhau.
Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor
gene) cấu tạo thành, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhò,
nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện
tượng này gọi là hiên tượng đa gen (polygene). Môi trường có ảnh hưởng rất lớn
đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính trạng chất lượng là những tính
trạng đơn gen thì rất ít khi bị ảnh hưởng bởi môi trường. Tác động của các nhân tố
ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, nước uống, không khí… lên tính trạng
số lượng rất lớn có thể làm kìm hãm hoặc phát huy và làm thay đổi các giá trị của
tính trạng. Giá trị kiểu gen được phân theo 3 phương thức hoạt động bao gồm: sự
cộng gộp, sai lệch trội và tương tác giữa các gen.
G=A+D+I
Trong đó:

G là giá trị kiểu gen (geneotypic value)
A là giá trị cộng gộp (additive value)
D là sai lệch do tác động trội lặn (dominancedeviation)
I là sai lệch do tương tác giữa các gen (interaction deviation)



thấy rằng muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải:
* Tác động về mặt di truyền (G)
- Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
- Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen I bằng cách phối giống tạp giao


10

* Tác động về môi trường bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi như: thức
ăn, thú y, chuồng trại. Trong chăn nuôi, các giống vật nuôi luôn nhận được từ bố mẹ
một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó và được xem như là được nhận từ
bố mẹ một khả năng di truyền, tuy nhiên khả năng đó có phát huy tốt hay không còn
phụ thuộc rất lớn vào điều kiện sống của vật nuôi.
1.1.4. Cơ sở khoa học nghiên cứu về khả năng sinh sản ở gia cầm và các yếu tố
ảnh hưởng
1.1.4.1. Sinh lý sinh sản ở gia cầm mái
Gia cầm là loài đẻ trứng, trứng khi được thụ tinh và được ấp sẽ nở cho ra con
gia cầm non. Con mái thoái hóa buồng trứng bên phải chỉ còn lại buồng trứng và
ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển. Âm đạo gắn liền với tử cung và cũng
nằm trong lỗ huyệt, do đó lỗ huyệt đảm bảo ba chức năng: thải phân, thải nước tiểu
và là cơ quan sinh dục.
Kích thước và hình dạng của buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loài gia cầm.
Gà 1 ngày tuổi buồng trứng có kích thước 1 - 2 mm, khối lượng 0,03g. Thời kỳ gà
đẻ trứng, buồng trứng có hình chum nhỏ, khối lượng khoảng 45 - 55g chưa rất nhiều
tế bào trứng. Sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kỳ đầu
của sự phát triển phôi. Sau mỗi lứa tuổi lại có những thay đổi về cấu trúc và chức
năng của buồng trứng.
Chức năng chủ yếu của buồng trứng là tạo trứng. Quá trình phát triển của tế
bào trứng trải qua ba thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín.
Trước khi bắt đầu đẻ, buồng trứng gà có khoảng 3500 - 4000 tế bào trứng,

bảo đủ thời gian chiếu sáng 15 - 18 giờ/ ngày thì gà có khả năng đẻ cách nhật và
giảm năng suất trứng.
1.1.4.3. Cơ chế điều hòa quá trình đẻ trứng
Tác nhân kích thích đầu tiên tới sự phát triển của hệ sinh dục ở gà là các
hormone hướng sinh dục từ tuyến yên, tiếp theo FSH kích thích nang trứng sinh
trưởng phát triển. LH kích thích trứng chín và rụng. Cuối cùng nang trứng tiết
Oestrogen kích thích sự phát triển và hoạt động của ống dẫn trứng.
Để điều hòa quá trình chín và rụng, tuyến yên tiết Oxytoxin tăng cường co
bớp cơ trơn ống dẫn trứng và tử cung, tiết prolactin ức chế FSH và LH. Sau khi
trứng rụng, bao noãn co lại tiết progesterone duy trì hình thành trứng ở ống dẫn
trứng và trạng thái hoạt động của nó. Vì vậy, để điều chỉnh nhịp nhàng chức năng
bộ máy sinh sản phải nhờ mối quan hệ khăng khít giữa tuyến yên và vùng dưới đồi.
Khả năng đẻ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, tuổi đẻ, trạng thái sinh
lý, đặc điểm cá thể, điều kiện nuôi dưỡng và các yếu tố môi trường.
Trong các yếu tố môi trường thì ánh sáng ảnh hưởng nhất đến sự phát triển
chức năng sinh dục của gia cầm. Dùng ánh sáng nhân tạo kích thích cho gà đẻ sớm.
Tuy nhiên việc đẻ sớm có điều bất lợi là gà chưa đạt đủ khối lượng cơ thể, do đó


12

trứng đẻ ra bé, chu kỳ sinh học ngắn, kết thúc đẻ sớm dẫn đến năng suất kém. Vì
vậy trong chăn nuôi gia cầm đẻ trứng phải hạn chế thức ăn và ánh sáng để kéo dài
tuổi thành thục về tính và thể vóc ở mức cho phép. Ví dụ đối với gà hướng trứng
khi đạt khối lượng khoảng 1260g đối với gà mái và 1450g đối với gà trống ở 133
ngày tuổi. Gà đẻ trứng giống thịt như ISA, AA phải nuôi hạn chế thức ăn đến 140
ngày tuổi, khối lượng sống đạt 2150g đối với gà mái và 2500g đối với gà trống, sau
đó mới cho ăn tăng để thúc đẻ.
Thực hiện nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng của gà hậu bị sẽ nâng cao sức đẻ
trứng của gà đẻ, khối lượng trứng to, thời gian đẻ kéo dài. Ví dụ gà Leghorn có thể

Follicun và rơi vào ống dẫn trứng. Thời gian lưu lại ống dẫn trứng là 20 - 24 giờ.
1.1.4.5. Năng suất sinh sản của gà mái và các yếu tố ảnh hưởng
Năng suất sinh sản là tiền đề cho mọi năng suất ở vật nuôi, là tính trạng được
các nhà chọn giống quan tâm. Đối với gà mái, các tính trạng năng suất sinh sản
được quan tâm là: Tuổi đẻ trứng đầu, tỷ lệ đẻ, sản lượng trứng, chất lượng trứng, tỷ
lệ trứng có phôi,... Ở các loài gia cầm khác nhau thì những đặc điểm sinh sản cũng
khác nhau rõ rệt.
Đối với gia cầm, sự di truyền về sinh sản cũng phức tạp. Theo các công trình
nghiên cứu của nhiểu tác giả, việc sản xuất trứng gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh
hưởng mang tính chất di truyền đó là: tuổi thành thục về sinh dục, cường độ đẻ, bản
năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ.
- Tuổi thành thục về sinh dục: người ta cho rằng ít nhất cũng có 2 gen chính
tham gia vào yếu tố này là gen E (gen liên kết với giới tính) với gen e và cặp thứ hai
là E’ và e’. Gen trội E chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục.
- Cường độ đẻ trứng: Hai yếu tố này do hai cặp gen R và r; R’ và r’ phối
hợp cộng lại để điều hành.
- Bản năng đòi ấp do hai gen A và C điều khiển phối hợp với nhau
- Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M và m
điều khiển. Gia cầm có gen mm thì mùa đông vẫn đẻ đều.
- Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ do cặp gen P và p điều hành
* Tuổi thành thục về sinh dục
Tuổi thành thục về sinh dục là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả
năng tham gia vào quá trình sinh sản. Ở gà, tuổi thành thục về tính dục được tính từ
khi gà bắt đầu đẻ bói đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5 % đối với đàn (quần
thể) gà (Theo Pingel H., Jeroch H., 1980 dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004
[38]).Tuy nhiên, xác định tuổi đẻ của gà dựa trên số liệu của từng cá thể trong đàn
là chính xác nhất. Tuổi thành thục về tính dục chịu ảnh hưởng bởi giống và môi
trường. Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính dục cũng khác nhau. Pingel
H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]) cho rằng: tuổi
thành thục về tính của gà khoảng 170 - 180 ngày, biến động trong khoảng 15 - 25

yếu tố khác như tiêm phòng vaccine cho gà con sẽ làm đẩy lùi ngày đẻ quả trứng
đầu tiên. Khẩu phần ăn cũng có ảnh hưởng mạnh đến chỉ tiêu này (Jonhanson I.,
1972) [18]. Hệ số di truyền tuổi thành thục về tính dục ở gà là 0,15 - 0,42 (Pingel
H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38])).
Tuổi thành thục sinh dục hay còn gọi là tuổi đẻ quả trứng đầu của gà mái là
một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục. Chỉ tiêu này cũng là một yếu tố cấu
thành năng suất. Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi
nở đến khi đẻ quả trứng đầu tiên. Trong một đàn, tuổi đẻ quả trứng đầu được xác
định bằng tuổi đẻ 5 % của số cá thể trong đàn.


15

Lerner J. M. và một số tác giả khác cho rằng có các gen trên nhiễm sắc thể
giới tính cùng tham gia tính trạng này (dẫn theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim
Đường, 1992) [30]. Theo Hayer J. F. (dẫn theo Brandsch H. và Bilchel H., 1978) [4]
thì những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu > 245 ngày sẽ cho sản lượng trứng thấp hơn
những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu < 215 ngày là 6,9 quả. Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ
thuộc vào chế độ nuôi dường, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu
sáng. Thời gian chiếu sang dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ trứng sớm (Khavecman, 1972
(dẫn theo Phạm Minh Thu, 1996 [44]).
Theo Dickerson (1952); Yyob và Merat (1975) (dẫn theo Trần Long, 1994)
[27] đã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng có thể chưa trưởng
thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (- 0,21 đến - 0,16). Theo Siegel P. B.
và Dunmington E. A. (dẫn theo Bùi Thị Oanh, 1996) [37], thì khối lương cơ thể và
cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục của gà
mái. Trước đây người ta đề cập đến chọn lọc khối lượng cơ thể lúc gà còn non để
giúp cho quá trình tăng sự phát triển của nang trứng và sức đẻ trứng. Nhưng thực tế,
gà nặng cân lại đẻ ít trứng. Hocking và Cs dẫn theo Champer J. R. (1990) [65] giải
thích rằng nguyên nhân gây nên hiện tượng đẻ trứng ít của gà cân nặng là do tồn tại

và trật đẻ có tương quan với nhau, gà đẻ muộn thì độ dài trật đẻ ngắn. Độ dài trật
đẻ phụ thuộc vào giống, thời gian chiếu sáng và thời gian đòi ấp…
* Sản lượng trứng
Sản lượng trứng là số trứng của một gà mái đẻ ra trong một chu kỳ đẻ hoặc
trong một thời gian nhất định, có thể tính theo tháng hoặc năm. Khi điều kiện môi
trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng…) nhiều gen tham gia điều khiển
quá trình liên quan đến sinh sản đều phát huy tác dụng, cho phép gia cầm phát huy
được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng. Hệ số di truyền về sản lượng trứng của
gà là 0,2 - 0,3 (Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004
[38]); 0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [41].
Sản lượng trứng là chỉ tiêu phản ánh chất lượng trứng giống. Sản lượng trứng
là số trứng thu được trong một thời gian sinh sản của gà, nó phụ thuộc vào tuổi
thành thục, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, cường độ đẻ và thời gian đẻ. Cường độ
đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian nhất định. Cường độ này được xác định theo
khoảng thời gian 30 ngày hoặc 60 ngày hoặc 100 ngày trong giai đoạn đẻ.
Theo Card L. E. (1977) [64] thì quần thể gà mái cao sản đẻ theo quy luật,
cường độ đẻ trứng cao nhất vào các tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến
hết năm đẻ. Khi cường độ đẻ giảm nhiều gà thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp.
Bản năng này khác nhau ở các giống gà. Số lượng trứng có tương quan di truyền âm
với khối lượng cơ thể nhưng khối lượng trứng có tương quan dương với khối lượng
cơ thể. Cho nên gà mới đẻ lần đầu thường có khối lướng trứng nhỏ, sau đó tăng dần
lên cũng với sự phát triển của cơ thể gà trong thời gian đẻ.
Theo Jull M. A. (1976) [70] và Hutt F. B. (1978) [17] thì hệ số tương quan
giữa sản lượng trứng 3 tháng đầu với sản lượng trứng cả năm là rất chặt chẽ từ 0,7 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status