ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯƠNG NGỌC ANH
Tên đề tài:
THEO DÕI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ
KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GIỐNG LỢN ĐỊA PHƯƠNG
(LỢN ĐEN) NUÔI TẠI NGUYÊN BÌNH – CAO BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Niên khóa : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Trang đầu khóa luận tốt nghiệp tôi xin chân thành cảm ơn các thầy
cô giáo trong khoa đã tận tình giúp đỡ tôi trên con đường học tập và
nghiên cứu khoa học trong suốt 4 năm qua. Đặc biệt tôi xin bày tỏ long
biết ơn chân thành và sâu sắc tớ thầy Tiến sĩ Trương Hữu Dũng, thầy đã
tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập vừa qua để tôi hoàn
thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban
giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên cùng tất cả các thầy,
cô giáo trong khoa Chăn nuôi – Thú y.
Để có được những số liệu điều tra theo yêu cầu của khóa luận còn có sự
giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện của các cô chú cán bộ phòng Khuyến Nông
Khuyến Lâm, Trạm thú y huyện Nguyên Bình và toàn thể các bạn đồng
nghiệp đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Một lần nữa tôi xin gửi đến các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi –
Thú y lời cảm ơn chân thành, lời chúc sức khỏe hạnh phúc và thành đạt.
Thái Nguyên,ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Trương Ngọc Anh
LỜI NÓI ĐẦU
Lý thuyết đi đôi với thực hành đó là phương châm giảng dạy của Bộ
giáo dục và đào tạo. Thực tập tốt nghiệp là giai đoan cuối cùng trong các
trường Đại Học – Cao Đẳng – Trung học chuyên nghiệp. Đây là thời gian hết
1.1.1.1. Vị trị địa lí 1
1.1.1.2 Địa hình 1
1.1.1.3. Đất đai 2
1.1.1.4. Khí hậu 2
1.1.1.5 Thủy văn sông ngòi 3
1.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 4
1.1.2.1 Tình hình dân cư 4
1.1.2.2. Trình độ dân trí 5
1.1.2.3. Phát triển văn hóa giáo dục và y tế 5
1.1.2.4. Hoạt động của phòng nông lâm nghiệp huyện 6
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện 7
1.1.3.1. Tình hình sản xuất Nghành trồng trọt 7
1.1.3.2 Tình hình sản xuất Nghành chăn nuôi của huyện 10
1.1.4. Những thuận lợi và khó khăn 11
1.1.4.1. Thuận lợi 11
2.2.1.1. Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn 20
2.2.1.2. Đặc điểm về sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn 25
2.2.1.3. Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 28
2.2.1.4. Khả năng sinh sản của lợn nái 31
2.2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 34
2.2.1.6. Vài nét về tập quán và tình hình chăn nuôi lợn đen tại Nguyên Bình 35
2.2.2. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam 39
2.2.2.1. Tình hình chăn nuôi lợn trong nước 39
2.2.2.2. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới 42
2.3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. 43
2.3.1. Đối tượng 43
2.3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 43
2.3.3. Thời gian theo dõi 43
2.3.4. Nội dung nghiên cứu 43
2.3.5. Phương pháp nghiên cứu 43
2.4.5. Tỷ lệ nuôi sống lợn con qua các giai đoạn 60
2.4.6. Một số chiều đo chính của lợn nái trưởng thành ở địa phương. 62
2.5 Kết luận và đề nghị 63
2.5.1. Kết luận 63
2.5.2. Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng một số giống cây trồng chính
huyện Nguyên Bình năm 2013 9
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 17
Bảng 2.1. Cơ cấu đàn lợn Đen các xã nuôi tại huyện Nguyên Bình - Cao Bằng
năm 2010 - 2013 39
Bảng 2.2. Sản xuất thịt lợn trên thế giới trong những năm gần đây 43
Bảng 2.3. Cơ cấu của đàn lợn huyện Nguyên Bình qua 3 năm 47
Bảng 2.4. Phân bố và cơ cấu đàn lợn tại 3 xã của huyện Nguyên Bình năm 2013 49
1
Phần thứ nhất
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trị địa lí
Nguyên Bình là một huyện miền núi vùng cao, nằm ở phía Tây của tỉnh
Cao Bằng, trung tâm huyện cách thành phố 35km, với vị trí và tiếp giáp với
các địa phương như sau:
Huyện Nguyên Bình nằm ở vị trí toạ độ 105
0
40’ kinh độ Đông, 22
0
30’
đến 22
0
50’ vĩ độ Bắc.
- Phía Đông giáp huyện Hoà An.
- Phía Tây giáp huyện Bảo Lạc và Ba Bể tỉnh Bắc Kạn.
- Phía Nam giáp huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.
- Phía Bắc giáp huyện Thông Nông.
1.1.1.2 Địa hình
Huyện Nguyên Bình có địa hình núi đồi phức tạp, chủ yếu là núi đá
vôi, độ dốc lớn, chia cắt mạnh và cao từ 700m - 1.300m. Điểm cao nhất là
1.931m (Phía Oắc), điểm thấp nhất 100m. Độ cao trung bình của huyện là
1.100 m. Nhìn chung, địa hình của các xã trên địa bàn huyện Nguyên Bình
chiếm 26,1% tổng diện tích.
1.1.1.4. Khí hậu
Khí hậu của huyện thuộc kiểu khí hậu á nhiệt đới với 2 mùa rõ rệt:
- Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởng
của gió mùa Đông Bắc khô hanh, thường xảy ra những đợt rét đậm kéo dài
kèm theo sương muối (tháng 12 và tháng 1, tháng 2); Độ ẩm không khí trung
bình 82%/năm. Lượng bốc hơi bình quân trong năm 831,6 mm, lượng bốc hơi
lớn tập trung từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, do đó trong các tháng này
thường xuyên xảy ra khô hạn.
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, lượng
mưa trung bình 1200 mm. Trong đó mưa lớn nhất trung bình 2.043,7 mm.
Lượng mưa trong năm phân bố không đều thường tập trung vào các tháng 6,
tháng 7 và tháng 8. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20
0
C, cao nhất khoảng
35 - 36
0
C, thấp nhất từ 0
0
C đến 6
0
C. 3
+ Gió bão: Gió Đông Nam và Đông Bắc là 2 hướng gió chủ đạo của
huyện, tốc độ trung bình 1,4 m/giây, mạnh nhất lên đến 20 m/giây, bị ảnh
hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới. Sương muối năm nào cũng tập trung vào
tháng giêng, tháng 2 ít nhất 2 - 3 ngày, có nơi có năm kéo dài 5 - 7 ngày,
xã Mai Long, Triệu Nguyên, Thái Học, Vũ Nông). Nguồn nước sử dụng cho
sinh hoạt và sản xuất chủ yếu lấy từ các khe lạch nhỏ, khe đá và nước mưa.
Đặc biệt, các làng bản trên cao nơi đồng bào Dao; H’Mông cư trú quanh năm
thiếu nước trầm trọng nhất là về mùa khô.
1.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
1.1.2.1 Tình hình dân cư
Trên địa bàn toàn huyện có 07 dân tộc sinh sống kết quả điều tra dân
tộc có:
Dân tộc Tày, Nùng chiếm 47,0 %
Dân tộc Dao chiếm 38,7 %
Dân tộc Mông chiếm 5,6 %
Dân tộc Kinh chiếm 8,6 %
Và các dân tộc khác chiếm tỷ lệ rất ít 0,1%
Mỗi dân tộc trong huyện đều có bản sắc riêng, phong tục tập quán
riêng, tạo nên nền văn hóa phong phú đa dạng, có lễ hội truyền thống vẫn
được tổ chức thường xuyên hàng năm đó là bản sắc văn hóa quý báu của
huyện cần được bảo vệ. Trong đó, chiếm tỷ lệ lớn nhất là dân tộc Dao. Dân
tộc Mông và dân tộc Dao sống chủ yếu ở vùng cao hẻo lánh và vùng núi đá.
Một bộ phận đồng bào này thường sống du canh, du cư hoặc định cư nhưng
còn du canh.
Tổng dân số toàn huyện là 39 644 người. Mật độ dân số bình quân
chung của huyện là 47người/Km
2
. Nhưng điều đáng lưu ý là sự phân bố dân
cư không đều giữa các xã trong huyện. Nơi có mật độ đông dân nhất là Thị
trấn Nguyên Bình 207người/Km
2
và Thị trấn Tĩnh Túc 165 người/Km
2
Thực hiện Nghị Quyết của Đảng công tác giáo dục thực sự được coi là
quốc sách hàng đầu, trong 5 năm qua ngành giáo dục – đào tạo có nhiều
chuyển biến tiến bộ, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, cơ sở vật
chất phục vụ cho sự nghiệp giáo dục được đầu tư ngày càng nhiều cả về số
lượng lẫn chất lượng. Số trẻ trong độ tuổi đi học được được huy động ra lớp
đạt từ 95% trở lên.
Giai đoạn 2010 – 2013 huyện thực hiện chương trình số 05 – CTr/ HU
về thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở và nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo đạt được kết quả như sau:
Về phổ cập giáo dục THCS đạt 8/20 đơn vị, vượt mục tiêu đề ra, xóa
mù chữ đạt 100% số xã, thị trấn. Về nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
từng bước được nâng lên năm học sau cao hơn năm học trước. 6
Trình độ đội ngũ giáo viên: năm 2010, 2011 tổng số giáo viên toàn ngành
là 696 giáo viên, đến năm 2012 – 2013 tổng số giáo viên là 853 giáo viên.
+ Giáo viên dạy giỏi các cấp năm 2010 – 2011 có 156/750 đạt 20,8%,
năm 2012 – 2013 có 185/771 đạt 24%.
+ Học sinh giỏi các cấp năm 2010 – 2011 là 127 em, năm 2012 – 2013
có 227 em.
Tuy nhiên việc phát triển nghành giáo dục của huyện vẫn còn một số
hạn chế, bất cập như việc chống mù chữ ở một số xã chưa được quan tâm
thường xuyên, còn khoán cho ngành giáo dục, xẩy ra hiện tượng tái mù chữ
trở lại; số trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn chưa đến lớp học chiếm
khoảng 4% so với tổng số trẻ trong độ tuổi, chất lượng dạy và học chưa
đồng đều, nhiều phân trường, lớp trẻ cơ sở vật chất còn thiếu thốn, tạm bợ.
• Y tế
Mạng lưới y tế từ huyện đến xã được quan tâm, đầu tư xây dựng. Đến
nghiệt đất bạc màu là nguyên nhân khách quan làm năng suất cây trồng rất
thấp. Cây lúa, ngô tuy là giống cây lương thực chủ đạo nhưng giống ngô,
giống lúa canh tác ở đây trong những năm trước đây chủ yếu là loại cây giống
địa phương do đồng bào tự để giống có năng suất thấp thời gian sinh trưởng
dài ngày, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào dân tộc Dao, Mông.
Ngoài ra, một số dược liệu có giá trị cũng từng bước được đầu tư trồng và
chăm sóc như sa nhân, sâm đất, …
Tổng sản lượng lương thực năm 2010 đạt 12.627 tấn, bình quân lương
thực đầu người đạt 327 kg/người/năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 15
triệu đồng/ha/năm. Năm 2013 tổng sản lượng lương thực đạt 15.639 tấn,
lương thực bình quân đầu người đạt 394 kg/người/năm, giá trị sản xuất nông
nghiệp đạt 17 triệu/ha/năm.
Nguồn lâm sản đáng chú ý ở huyện Nguyên Bình cũng như ở các xã
đặc biệt khó khăn trong vùng đá vôi là cây chè đắng. Đây là loại thảo dược có
giá trị tác dụng cao và được đồng bào ưa dùng trong cuộc sống hàng ngày.
Trong những năm gần đây, cây chè đắng bị khai thác, chặt phá và đang có
nguy cơ bị mai một nếu không có kế hoạch bảo vệ và trồng theo các chương
trình dự án. Trúc sào là loại cây thích hợp với khí hậu và thổ nhưỡng của hầu
hết các xã, đặc biệt là cây trúc sào được phát triển thích hợp các xã vùng núi
đá vôi. Trúc sào là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế, dễ chăm sóc và bảo 8
quản do vậy trúc sào đang được trồng ở nhiều xã theo quy mô và quy trình tập
quán của địa phương. Tuy nhiên, việc chưa có định hướng thị trường và công
nghệ phù hợp nên sản phẩm trúc sào chưa thật sự phát huy được thế mạnh.
Diện tích trồng một số cây trồng chủ yếu năm 2013:
+ Diện tích trúc sào là: 1435 ha, trong đó trên 900 ha đang được khai thác.
+ Diện tích dong riềng: 100 ha
STT Loại cây Diệntích (ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản Lượng
(tấn)
1 Lúa đông xuân 159 61,30 1068
2 Lúa mùa 2.745 50,90 9.535
3 Ngô 2.985 34,65 7.698
4 Khoai lang 128 54,00 780
5 Sắn 185 86,45 1.375
6 Mía 27,8 52,68 855
7 Lạc 133,6 1,60 135,5
8 Đậu tương 351,6 1,86 387,80
9 Thuốc lá 25 0,44 11
10 Chè 16,7 1,54 28,5
11 Cam, quýt, bưởi 50 1,34 68,5
12 Dứa 2,5 1,55 4,4
13 Nhãn, Vải 18 0,13 2,7
14 Xoài 1,85 18,6 27,5
15 Mận, đào 39 5,24 155
16 Lê 48 18,20 77,6
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013 huyện Nguyên Bình)
Nhìn chung, diện tích canh tác cây nông nghiệp chủ yếu là một vụ. Các loại
cây lương thực khác như: khoai lang, khoai sọ, sắn, được trồng trên diện tích
không lớn nhưng cũng góp phần giải quyết vấn đề lương thực cho địa phương.
Các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: lạc, đỗ tương đang được
trồng rộng rãi hơn, nhiều hơn như xã: Tam Kim, Thành Công, Quang Thành
và Thái Học. Cây dong rềng là loại cây có khả năng hàng hoá tốt được trồng
nhiều ở các xã: Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh và thị trấn Tĩnh Túc.
soát, ngăn chặn.
• Chăn nuôi gia cầm
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, chăn nuôi gia cầm cũng
được người dân quan tâm. Ngoài những giống gia cầm địa phương, thì huyện
đã nhập nhiều giống có năng suất cao chất lượng thịt tốt như : gà Tam Hoàng,
Lương Phượng, Sacso… được bà con nuôi rộng rãi. Nhiều hộ đã đầu tư nuôi
theo hướng thâm canh, nhưng do khâu phòng dịch bệnh chưa tốt nên dẫn đến
hàng năm gia cầm chết dịch nhiều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của gia
cầm. Năm 2013 tổng đàn gia cầm của huyện có 81.325 con giảm 2.983 con so
với năm 2012. 11
1.1.4. Những thuận lợi và khó khăn
1.1.4.1. Thuận lợi
- Nguyên Bình có diện tích tự nhiên tương đối lớn 83.915,71 ha. Vị trí
nằm cách không xa trung tâm tỉnh lỵ có thị trấn Nguyên Bình, Tĩnh Túc và
trung tâm cụm xã Nà Bao là các tiền đề khá thuận lợi cho huyện Nguyên Bình
có khả năng phát triển nền kinh tế đa dạng tổng hợp. Yếu tố khí hậu ôn hòa,
chế độ nhiệt độ phong phú, độ ẩm tương đối khá nên có thể bố trí đa dạng cây
trồng nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Huyện có mạng lưới giao thông khá thuận lợi, có sự quan tâm thích
đáng của trung ương và của tỉnh có thể chuyển dịch nhanh cơ cấu trong thời
gian tới.
- Huyện Nguyên Bình có nguồn tài nguyên khoáng sản, lâm sản và
thảm thực vật phong phú, đa dạng về thành phần loài và đất đai, khí hậu phù
hợp với nhiều loại cây trồng nông – lâm nghiệp có giá trị kinh tế như: trúc
sào, thuốc lá, chè, đỗ tương, dong riềng, cây dược liệu và các loại cây ăn quả
có nguồn gốc ôn đới khác.
suất, tăng vụ, khả năng mở rộng diện tích hầu như không có.
- Sản xuất của huyện trong thời gian vừa qua đã có sự tăng trưởng,
nhưng chưa ổn định và còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, dịch bệnh… các dịch
vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn phụ thuộc vào nguồn lực
bên ngoài.
- Đất đai sản xuất của Nguyên Bình nhìn chung có độ phì kém, chua
nhiều, độ dốc tương đối cao, ít phù hợp với các dự án sản xuất công nghiệp
quy mô lớn. Nằm xa các trung tâm tiêu thụ, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, cũng là
một bất lợi của Nguyên Bình trong việc phát triển sản xuất công nghiệp.
- Xuất phát điểm kinh tế còn thấp, kết cấu hạ tầng mặc dù đã được cải
thiện nhưng còn yếu và thiếu. Trong thời gian vừa qua huyện có chủ trương
chuyển dịch cơ cấu cây trồng và đã có sự chuyển biến tích cực, song vẫn còn
ở tốc độ chậm so với mặt bằng chung của tỉnh. Sản xuất của huyện đã có sự
tăng trưởng, nhưng chưa ổn định và còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, dịch
bệnh… các loại dịch vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn
phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài.
- Trên địa bàn huyện sản xuất nông, lâm nghiệp là hai ngành sản xuất
chính. Tuy nhiên việc sử dụng hai loại đất này hiện quả chưa cao, giá trị sản
lượng thu được thấp, hệ số sử dụng đất chưa cao.
- Hệ thống các tuyến đường giao thông nội huyện và liên vùng còn
chưa đồng bộ và rất phức tạp. 13
- Hệ thống lưới điện, thông tin liên lạc chưa phủ sóng toàn huyện và
còn nhiều hạn chế. Hiện những mạng thông tin di động như Mobi fone, S
Fone còn chưa phủ sóng đến Thị trấn Nguyên Bình.
- Dân cư sống không tập trung, đa dân tộc, trình độ dân trí thấp, tư
tưởng trông chờ ỷ lại còn nhiều, nên khó khăn trong việc quản lý tuyên
1.2.3.1. Công tác chăn nuôi
* Chăn nuôi trâu bò
Chúng tôi đã xuống từng địa bàn xã, từng cơ sở để tìm hiểu phương
pháp chăn nuôi của bà con, từ đó tham gia vào giúp đỡ bà con chăn nuôi theo
phương thức giản đơn nhưng vẫn mang lại hiệu quả bằng cách xử lí các phụ
phẩm nghèo chất dinh dưỡng, nhiều xơ quá khó tiêu hóa của Ngành nông
nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn cho trâu bò bằng cách ủ rơm
với urê. Đây là biện phát tốt để nâng cao hiệu quả và năng suất chăn nuôi,
nguyên liệu gồm 4kg urê + 100 lít nước vào rơm khô. Bể có thể dùng bể nổi
hoặc bể chìm hoặc túi nilon dày.
Vận động bà con cách phơi thức ăn để dự trữ đảm bảo lượng thức ăn
cho trâu bò trong những ngày mưa phùn gió rét để tăng cường sức đề kháng
chống lại bệnh tật giảm tỉ lệ chết của đàn trâu bò trong vụ đông. Vận động bà
con thường xuyên vệ sinh chuồng trại và hưỡng dẫn bà con sử dụng sức kéo
của trâu, bò một cách hợp lí như không nên cho trâu bò kéo, cày liền trong
nhiều giờ vào mùa đông không nên cho trâu bò làm việc quá sớm để tránh
cảm lạnh.
Trâu bò chửa giai đoạn cuối không nên tiêm vacxin, thức ăn phải đảm
bảo chất lượng, tránh cho thức ăn kém phẩm chất (thối mốc, lên men), chăn
thả phải gần chuồng, bãi chăn thả phải bằng phẳng tránh gây tác động kích
thích, chuẩn bị công tác đỡ đẻ tốt.
Khi trâu bò đẻ khó phải can thiệp để tỷ lệ sơ sinh đạt hiệu quả cao hơn.
Ngoài ra còn giúp đỡ bà con cách xác định thời gian phối giống thích hợp để
làm tăng tỉ lệ thụ thai. Cách bố trí chuồng trại, đem phân vào hố ủ để hạn chế
điều kiện kí sinh trùng phát triển, định kì tẩy giun sán và tiêm phòng, khi trâu bò
có biểu hiện khác thường thì phải cách li và có chế độ nghỉ ngơi, ăn uống tốt,
báo cáo ngay cho cán bộ thú y cơ sở biết để có biện pháp sử lí, điều trị kịp thời.
* Chăn nuôi lợn
Trong chăn nuôi lợn rất nhiều hộ còn coi nhẹ việc công tác vệ sinh xây
dựng chuồng trại chưa đúng kĩ thuật, không đảm bảo các điều kiện cho phát
ngày tuổi. Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, định kì tẩy giun sán và tiêm
phòng định kì. Sau khi lợn con cái sửa phải cho lợn nái ăn đầy đủ dinh dưỡng
để nhanh lại sức và chuẩn bị cho kì phối giống tiếp theo.
* Chăn nuôi gia cầm
Đối với những hộ gia đình khó khăn về vốn và chưa có kinh nghiệm
điều kiện chăn nuôi gia cầm theo phương thức chăn nuôi công nghiệp thì
chúng tôi vận động bà con nuôi gà địa phương theo phương thức nuôi thả
vườn hoặc bán chăn thả. 16
1.2.3.2. Công tác thú y
* Công tác tiêm phòng
Trong thời gian thực tập chúng tôi đã tuyên truyền và vận động bà con
là công tác vệ sinh như: Vệ sinh thức ăn nước uống, thức ăn phải sạch sẽ
không hư hỏng, không thối mốc…
Vệ sinh chuồng trại: chuồng trại phải thường xuyên quét dọn sạch sẽ,
khô ráo, không được cho nước ứ đọng, chuồng đủ ánh sáng, đảm bảo thoáng
mát về màu hè và ấm áp về mùa đông, phải có hố ủ phân, phát quang xung
quanh chuồng trại.
Với phương châm phòng hơn chữa bệnh cũng đủ thấy tầm quan trọng của
công tác phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm là biện pháp tích cực và bắt buộc.
Trên cơ sở đó, hàng năm trạm thú y huyện tổ chức 2 đợt tiêm phòng
vào tháng 3 và tháng 4, đợt 2 vào tháng 9 và tháng 10. Tuy nhiên, việc tiêm
phòng dịch cho đàn gia súc, gia cầm còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân
trình độ nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế cộng với phương
thức chăn nuôi quản canh.
* Công tác điều trị bệnh
Trong chăn nuôi việc phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho những gia