ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ CHỌI NUÔI
BÁN CHĂN THẢ TẠI TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
NĂM - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ CHỌI NUÔI BÁN
CHĂN THẢ TẠI TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
NĂM - 2017
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết
quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
1.1.6. Một số đặc điểm tự nhiên của xã Tứ Xã huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ..... 17
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................ 18
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ................................................... 18
1.2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài .................................................... 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .22
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................ 22
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 22
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ........................................................................ 22
2.1.3.Thời gian thực hiện luận văn ............................................................ 22
2.2. Nội dung nghiên cứu .............................................................................. 22
iv
2.2.1. Tình hình chăn nuôi gà Chọi tại xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh
Phú Thọ ...................................................................................................... 22
2.2.2. Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình của gà Chọi ..................... 22
2.2.3. Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Chọi ..................................... 22
2.2.4. Nghiên cứu về tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng và cho thịt
của gà Chọi ................................................................................................ 23
2.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 23
2.3.1. Tình hình chăn nuôi gà Chọi tại xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh
Phú Thọ ...................................................................................................... 23
2.3.2. Đặc điểm ngoại hình của gà Chọi .................................................... 23
2.3.3. Khả năng sinh sản của gà Chọi ........................................................ 23
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh trưởng của gà Chọi .......... 29
2.3.5. Khảo sát năng suất thân thịt của gà Chọi......................................... 28
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .................................................... 31
3.1. Số lượng, cơ cấu và sự phân bố đàn gà Chọi tại xã Tứ Xã, huyện Lâm
Thao, tỉnh Phú Thọ........................................................................................ 31
3.1.1. Biến động về số lượng đàn gà nuôi tại xã Tứ Xã từ năm 2015 –
vi
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
cs:
Cộng sự
ĐVT:
Đơn vị tính
FAO:
Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
NST:
Năng suất trứng
SS:
Sơ sinh
TCVN:
Tiêu chuẩn Việt Nam
VCK:
Vật chất khô
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm chiếm vai trò quan trọng và có truyền thống lâu đời
trong xã hội Việt Nam. Về số lượng vật nuôi, năm 2016 Việt Nam có 2,52
triệu con trâu; 5,5 triệu con bò; đàn bò sữa xấp xỉ 283 nghìn con; tổng đàn
lợn 29,1 triệu con; tổng đàn gà 277,1 triệu con; vịt 71,3 triệu con và đàn dê
cừu 2,1 triệu con (Theo Tổng cục Thống kê năm 2016) [38]. Ngày nay các
giống gia cầm nhập ngoại chuyên trứng, chuyên thịt và kiêm dụng đã và
đang được nhập vào nước ta. Chúng được nuôi chủ yếu theo phương thức
công nghiệp, sản xuất hàng hóa. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của
con người ngày càng được nâng cao về điều kiện sinh hoạt, ăn uống cũng
như giải trí. Do đó, người tiêu dùng hiện nay đang chuyển sang ưa chuộng
các giống gà bản địa thay cho các giống gà công nghiệp. Bởi vì các giống
gà bản địa có chất lượng thịt thơm, vị đậm ngọt, da giòn, săn chắc, ít mỡ
dưới da, protein cao, cơ ngực, đùi nở nang…
Phú Thọ là tỉnh Trung du miền núi phía Bắc của Việt nam, có vị trí trung
tâm vùng và là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nôi. Dân cư gồm nhiều
dân tộc anh em cùng sinh sống bằng canh tác nông nghiệp và chăn nuôi. Cùng
với các gia súc, gai cầm khác, con gà được các dân tộc địa phương nuôi
dưỡng từ lâu đời với phương thức quan cảnh, người dân sử dụng thịt và trứng
gà rộng rãi, gà Chọi được nuôi nhiều ở Phú Thọ, với nhiều phương thức chăn
thả quản canh, đối với gà con và gà loại thải (không dùng vào việc chọi gà),
và chăm sóc có đầu tư với gà nuôi dùng vào việc thi đấu. Gà Chọi không
những là món ăn đặc sản, mà còn được các dân tộc Việt Nam nuôi để đem đi
chọi trong các lễ hội… Đây là giống gà có tầm vóc tương đối lớn từ 3 - 4 kg,
gà có chân cao, tốc độ sinh trưởng khá, lông có nhiều màu: xám, vằn đen.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở khoa học của nhân giống thuần chủng và chọn lọc trong chăn
nuôi gia cầm
1.1.1.1. Nhân giống thuần chủng
Nhân giống thuần chủng là một phương pháp chỉ cho giao phối giữa
những con đực và cái trong cùng một giống.
Mục đích của nhân giống thuần chủng là tạo nên tính đồng nhất về tầm
vóc, màu sắc, tính năng sản xuất của các cá thể trong cùng một giống. Ngoài
ra, yêu cầu của nhân giống thuần chủng là duy trì và nâng cao được những
đặc tính di truyền tốt của giống, loại bỏ được những đặc tính di truyền xấu.
Có thể nói rằng nhân giống thuần chủng là phương pháp giữ phẩm chất, nâng
cao và hoàn chỉnh phẩm chất của giống.
Các giống gà địa phương đều có chung một đặc điểm là: tầm vóc nhỏ,
sức sản xuất thấp về thịt và trứng nhưng có ưu điểm là thích nghi tốt với điều
kiện địa phương, có sức chống bệnh cao và thịt trứng có phẩm chất ngon.
Vậy việc nhân giống này cần chú ý:
+ Phải chọn lọc nghiêm ngặt để giữ lại con đực và con cái có các chỉ tiêu
mong muốn. Việc đánh giá, giá trị giống có thể dựa trên kết quả kiểm tra: tổ
tiên, cá thể (bản thân), anh chị em và kiểm tra đời sau.
+ Các con giống tốt đã chọn lọc được phải được ghi chép để tạo điều
kiện thuận lợi cho việc quản lý và chọn lọc.
+ Phải có kế hoạch cho ghép đôi giao phối giữa đực và cái đã được chọn
lọc để nâng cao năng suất của chúng, đồng thời tránh được hiện tượng suy
thoái cận huyết hoặc nói cách khác là giữ được các đặc điểm tốt của giống địa
phương như khả năng thích nghi sức chống bệnh cao, các tính trạng này
tố lipocrom. Sắc tố melanin quy định từ màu cafe - vàng đến màu đen; còn
5
lipocrom quy định màu vàng, đỏ, xanh hoặc xanh sẫm. Ở gia cầm màu sắc
lông khác nhau có thể chia làm 2 nhóm lớn là lông màu và lông trắng.
Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái. Mào
gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho
từng giống. theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ, mào hạt
đậu, mào mâm xôi, mào nụ.
Chân của gia cầm được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau
về màu sắc. Chân vàng là do sự có mặt của lipocrom đồng thời thiếu vắng
melanin. Màu đen của chân là do sự xuất hiện của melanin. Khi màu đen có
mặt ở thể trội và màu vàng có mặt ở thể lặn thì chân sẽ xuất hiện màu lục
(xanh lá cây).
1.1.3. Cơ sở khoa học về sinh trưởng của gà
1.1.3.1. Khả năng sinh trưởng
Có nhiều tác giả có những định nghĩa về sinh trưởng và phát triển, tuy
nhiên trên đây là một số quan điểm chủ đạo:
Chamber J. R, 1990 [51] đã định nghĩa: “Sinh trưởng là tổng hợp sự sinh
trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không những
khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng”.
Khái quát hơn, Trần Đình Miên và cs (1995) [20] đã định nghĩa về sinh
trưởng như sau “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do
đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của
các bộ phận và toàn cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời
trước”. Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể
luôn luôn phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục.
Về mặt sinh học, sinh trưởng của gia cầm là quá trình tổng hợp protein thu
nhận từ bên ngoài chuyển hoá thành protein đặc trưng cho từng cơ thể của
Năng suất thịt phụ thuộc vào loài, giống, tuổi, tính biệt và chế độ chăm
sóc, nuôi dưỡng. Giữa các dòng gà luôn có sự sai khác nhau về năng suất thịt
xẻ và các thành phần thân thịt như đùi, ngực, cánh và từng phần da xương.
7
1.1.4. Cơ sở khoa học về sinh sản của gà
1.1.4.1. Sự hình thành trứng
Khác với các loài động vật có vú, trứng của gia cầm nói chung và của gà
nói riêng là một tế bào sinh dục khổng lồ. Nhân tế bào trứng được bao bọc bởi
lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ. Buồng trứng gia cầm có chức năng tạo ra
tế bào trứng và lòng đỏ.
Trong quá trình phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi
một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh. Tầng tế bào này
trở thành nhiều tầng và sự tạo thành này tiến tới bề mặt buồng trứng. Cấu tạo
này gọi là follicun, bên trong follicun có một khoang hở chứa đầy một chất
dịch. Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều follicun trở nên chín làm thay đổi hình
dạng buồng trứng trông giống như chùm nho, sau một thời gian đẻ trứng lại
trở thành hình dạng ban đầu, các follicun chín vỡ ra, quả trứng chín ra ngoài
cùng với dịch follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng, sự rụng những trứng
đầu tiên báo hiệu cho sự thành thục về tính. Các tài liệu nghiên cứu đều cho
rằng, hầu hết vật chất lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 - 10 ngày,
tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ từ 1 - 3 ngày đầu rất chậm, lúc đó đường kính
đạt 6 mm. Bắt đầu vào thời kỳ sinh trưởng cực nhanh, đường kính có thể tăng
4 mm trong 24 giờ cho tới khi đạt được đường kính tối đa 40 mm. Tốc độ
sinh trưởng của lòng đỏ không liên quan với cường độ đẻ trứng. Quá trình
hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp do sự điều
khiển của 2 hormon oestrogen và progesterone. Ngoài ra, thể vàng còn tiết ra
hormone ngăn trở, cả 3 loại hormone là các hợp chất steroid và được tổng hợp
từ cholesteron và cũng có thể từ axetyl coenzyme A tại buồng trứng. Ngoài ra
lượng con giống. Năng suất trứng là số trứng đẻ ra trong một khoảng thời
gian nhất định. Hiện nay, chưa có sự thống nhất về thời gian tính năng suất
trứng, có thể tính theo mái trong thời gian 1 tuần, 1 tháng, 1 năm, 1 chu kỳ
hoặc tính cho cả đời mái đẻ. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào loài, giống, hướng
sản xuất, đặc điểm cá thể, tuổi, mùa vụ và kỹ thuật nuôi dưỡng. Theo Card
9
L.E., Neshein M.C (1970) [51], ở các đàn gà mái cao sản, năng suất trứng cao
nhất vào tháng thứ 2, thứ 3 kể từ khi bắt đầu đẻ, sau đó giảm dần cho đến hết
năm đẻ và năng suất trứng của năm đầu là cao nhất, những năm sau giảm 10 20% so với năm trước. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình (1998) [4] cũng cho
biết, đối với gà cao sản, tỷ lệ trứng tăng nhanh từ khi bắt đầu đẻ, đến tuần tuổi
thứ 35 đạt đỉnh đẻ trên 90%, sau đó giảm dần và vẫn giữ được tỷ lệ đẻ từ 60 65% ở tuần tuổi thứ 76. Khi cường độ đẻ giảm, nhiều gà có biểu hiện bản
năng đòi ấp và mức độ biểu hiện này ở các giống gà là khác nhau.
1.1.4.3. Các chỉ tiêu về sức sinh sản của gia cầm
a, Khả năng sinh sản của gia cầm
Sinh sản của gia cầm là hoạt động bản năng mang đặc điểm đặc trưng
cho loài. Con mái sinh sản bằng cách đẻ trứng và gia cầm non được sinh ra
bằng cách ấp nở ở môi trường bên ngoài cơ thể mẹ. Khả năng sinh sản của gia
cầm có liên quan và ảnh hưởng tới ba khía cạnh:
- Ảnh hưởng đến sự sinh tinh, từ đó ảnh hưởng đến sự thụ tinh và chất
lượng phôi.
- Ảnh hưởng đến quá trình hình thành trứng trong cơ thể gà mái do đó
ảnh hưởng đến sức đẻ trứng.
- Tác động lên chất lượng của trứng và từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ nở.
Khả năng sinh sản của gia cầm ở các giống, loài, từng cá thể khác nhau
thì khác nhau (Bùi Đức Lũng, Trần Long, 1994) [17]
b, Tuổi đẻ quả trứng đầu
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó gia cầm bắt đầu thành thục
về tính.
(Nguồn: Lê Viết Ly (2001) [19])
c, Sức đẻ trứng
Sức đẻ trứng là bản năng của gia cầm nó là một trong những chỉ tiêu
quan trọng phục vụ cho mục đích của con người. Đối với gia cầm đây là chỉ
tiêu đánh giá khả năng sinh sản của loài, giống đó.
Theo Brandsch H, Biichell H (1978) [5] cho rằng: có năm yếu tố ảnh
hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm là:
- Tuổi bắt đầu đẻ trứng: hay tuổi bắt đầu thành thục đây là yếu tố có
tương quan nghịch với kích thước cơ thể.
- Chu kỳ đẻ trứng: hay cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian
ngắn nó có tương quan chặt với sức đẻ trứng cả năm (r = 0,46).
- Tần số thể hiện bản năng đòi ấp: là đặc điểm phụ thuộc nhiều vào yếu
tố di truyền song ảnh hưởng của môi trường cũng rất rõ rệt.
- Thời gian nghỉ đẻ: cũng gây ảnh hưởng lớn đến sản lượng trứng trong
một năm. Tuy nhiên nó cũng bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường như: thời
tiết mùa vụ, chế độ dinh dưỡng.
- Thời gian đẻ
Ngoài ra khả năng đẻ trứng còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như
giống, tuổi đẻ, trạng thái sinh lý, đặc điểm của từng cá thể (Bùi Đức Lũng,
Hoàng Văn Tiến, 1995) [18].
11
d, Năng suất trứng
Năng suất trứng gia cầm là số trứng thu được của mỗi đàn, mỗi mái đẻ
trong một khoảng thời gian nào đó, có thể là một tháng, một mùa, sau một
năm tuổi, sau một năm đẻ hay cả một đời mái đẻ.
Năng suất trứng là đặc điểm di truyền học số lượng. Tác giả Nguyễn Văn
Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) [28] cho biết sản lượng trứng có hệ số di
Tác giả Nguyễn Minh Quang, 1994) [24] cho biết: Tính trạng hình dạng
ở trứng gia cầm gồm nhiều gene qui định và số gene cũng không giống nhau
ở các loài gia cầm. Tác giả cũng cho biết ở gà số gene này là 78 - 84 gene, ở
vịt là 61 - 63 gene.
Có sự tương quan di truyền giữa chỉ số hình dạng với tỷ lệ ấp nở và sự
phát triển của phôi, những quả trứng quá tròn hoặc quá dài thường cho tỷ lệ
ấp nở thấp (Nguyễn Thị Bạch Yến, 1997) [48].
Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) [28] đã cho biết hình
dạng trứng có hệ số di truyền khá cao (h2 = 0,6). Sự biến dạng của hình dạng
trứng là không rõ rệt và không bị ảnh hưởng hay biến động bởi yếu tố môi
trường hay mùa vụ.
b, Thành phần cấu tạo trứng
Trứng gia cầm là một tế bào sinh dục đặc biệt bao gồm các thành phần
vỏ cứng, màng, lòng trắng và lòng đỏ. Ở mỗi loài mỗi giống khác nhau thì tỷ
lệ giữa các phần là khác nhau và mỗi phần có các chức năng riêng biệt đảm
bảo cho sự tồn tại duy trì trao đổi chất của tế bào trứng.
Bảng 1.2: Thành phần cấu tạo trứng của một số giống gia cầm (%)
Thành phần
Tên giống gia cầm
Gà Ri
Gà Ác
Gà Tây
Vỏ
11,88
chứa bên trong trứng tránh sự dập vỡ và đồng thời là nguồn khoáng cung cấp
cho gia cầm non trong quá trình ấp nở.
Lớp thứ hai là 2 lớp màng mỏng ngay sát dưới lớp vỏ cứng có khả năng
đàn hồi đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi khí của tế bào trứng.
Tỷ lệ vỏ trứng có tương quan tỷ lệ thuận với độ dày vỏ trứng nếu tỷ lệ vỏ
cao thì độ dày vỏ cũng cao và ngược lại.
Màu sắc của vỏ trứng chỉ có ý nghĩa đối với biểu hiện tính đặc trưng cho
giống gia cầm, nó không có ý nghĩa đối với sự quyết định chất lượng vỏ trứng hay
chất lượng trứng. Màu sắc của vỏ trứng chỉ có ý nghĩa khi dùng để đáp ứng nhu
cầu thị hiếu của người tiêu dùng (Brandsch H, Biichell H, 1978) [5].
* Lòng trắng:
Là phần tiếp giáp ngay với lớp màng mỏng nó bao bọc toàn bộ lòng đỏ,
đây là thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất trong trứng gia cầm. Theo Nguyễn Duy
Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [10] lòng trắng trứng gà chiếm khoảng 56%
khối lượng trứng và bao gồm 2 phần: lòng trắng đặc và lòng trắng loãng.
Khối lượng lòng trắng cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng lòng
trắng. Chất lượng lòng trắng còn bị chi phối bởi các yếu tố như giống, tuổi,
thức ăn, chăm sóc và nuôi dưỡng (Nguyễn Đức Hưng, 1992) [15].
Để đánh giá chất lượng lòng trắng người ta còn dùng đơn vị Haugh (HU)
như là một trị số để so sánh. Theo Singh R. A (1992) [57] thì trong cùng một
điều kiện những trứng có khối lượng tương đương trứng nào có độ cao lòng
trắng đặc cao hơn thì sẽ có HU cao hơn, chứng tỏ chất lượng trứng tốt hơn.
14
Nguyễn Duy Hoan (1999) [11] cho biết: Đơn vị HU của trứng đạt chất
lượng loại 1 là từ 72 - 80.
Awang (1984) [49] đã cho biết khối lượng trứng có tương quan rõ rệt với
khối lượng lòng trắng (r = 0,86), với khối lượng lòng đỏ (r = 0,71), với khối lượng
vỏ (r = 0,48), với chỉ số lòng trắng (r = - 0,43) và với chỉ số lòng đỏ (r = - 0,3).
nở cũng do một vài gene chi phối nhưng nó bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi
trường rất lớn.
Khummenk T và cs, (1990) [56] đã cho thấy khối lượng quả trứng, tỷ lệ
giữa lòng đỏ và lòng trắng trứng, độ dày vỏ xốp của vỏ trứng có ảnh hưởng
gián tiếp đến tỷ lệ ấp nở. Tỷ lệ ấp nở cao ở trứng có khối lượng trung bình,
trứng quá to hoặc quá nhỏ đều dẫn đến tỷ lệ nở thấp.
Trong khẩu phần ăn cho gia cầm hàm lượng protein nếu thấp hơn 12%
đã gây ảnh hưởng xấu đến kết quả nở.
Thậm chí phương thức thu nhận bảo quản trứng, vệ sinh thú y, kỹ thuật
hay mùa vụ cũng là nhân tố quyết định đến tỷ lệ nở của trứng gia cầm
(Nguyễn Đăng Vang, Bạch Thị Thanh Dân, 1997) [43].
1.1.5. Một số đặc điểm của gà Chọi
Màu sắc của lông, da: Nhìn chung màu sắc lông của gà Chọi đa dạng, có
thể thuần màu hay đa màu trên một cá thể. Thông thường màu sắc lông phụ
thuộc vào màu lông của con trống là chính, màu lông giống con trống chiếm
tỷ lệ 50 - 60%.
- Màu lông
+ Gà có lông đen tuyền, gọi là gà Ô, loại này chiếm tỷ lệ cao nhất.
+ Gà có lông đen, lông mã màu đỏ gọi là gà Tía
+ Gà có màu lông xám tro gọi là gà Xám
+ Gà có màu lông giống lông chim ó gọi là gà Ó.
+ Gà có màu lông trắng toàn thân, gọi là gà Nhạn.
+ Gà có lông 5 màu (đỏ, đen, vàng, trắng, xám), gọi là gà Ngũ sắc.
Ngoài ra, còn có một số có màu lông pha tạp như gà đen có chấm trắng...
- Màu mỏ: Màu mỏ cũng có màu sắc đa dạng, thường thấy mỏ có màu
trắng ngà, màu vàng, màu đen, màu xanh lợt (xanh đọt chuối).