Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Trời Anas Supercillosa - Pdf 22

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI & NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ
NĂNG SẢN XUẤT CỦA VỊT TRỜI ANAS
SUPERCILLOSA”
Người thực hiện : HOÀNG MINH ĐỨC
Lớp : CNTY55B
Khoá : 55
Ngành : CHĂN NUÔI THÚ Y
Khoa : CHĂN NUÔI VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người hướng dẫn 1 : ThS. NGÔ THỊ THÙY
Bộ môn : HÓA SINH ĐỘNG VẬT
Người hướng dẫn 2 : ThS. NGUYỄN THỊ THÚY NGHĨA
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VỊT ĐẠI XUYÊN
Hà Nội – 2014
1
MỤC LỤC
2
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài
sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu
của nhà trường, các thầy cô giáo, Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên,Viện
nghiên cứu nông lâm nghiệp Thành Tây, gia đình và bạn bè.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Thúy Nghĩa,
Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Văn Tuấn cùng tập thể đội ngũ kỹ thuật Trung tâm
nghiên cứu vịt Đại Xuyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trong quá
trình nghiên cứu, hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Đốc, tập thể cán bộ công nhân viên
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, Viện nghiên cứu và phát triển nông lâm

Hình 4.3: Vịt trời trưởng thành
Hình 4.4: Các dụng cụ khảo sát trứng
Hình 4.5: Trứng vịt Trời
Hình 4.6: Trứng đập ra đo các chỉ tiêu bên trong trứng
Hình 4.7: Chỉ tiêu màu lòngđỏ trứng
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cm Centimeter
ĐVT Đơn vị tính
g Gram
HQSDTA Hiệu quả sử dụng thức ăn
Hu Haugh
Kg Kilogram
mm Minimeter
NST Năng suất trứng
nt Ngày tuổi
TA Thức ăn
TB Trung bình
TC Tiêu chuẩn
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TLD Tỷ lệ đẻ
TLNS Tỷ lệ nuôi sống
TTTA Tiêu tốn thức ăn
NN-PTNN VN Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
6
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi gia cầm chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản
xuất của ngành chăn nuôi. Số lượng gia cầm tăng trưởng nhanh là do gia cầm

8
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC
2.1.1. Đặc điểm di truyền của các tính trạng số lượng
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của một giống gia
súc, gia cầm trong một điều kiện chăn nuôi cụ thể thực chất là nghiên cứu đặc
điểm di truyền và ảnh hưởng của những tác động xung quanh lên các tính trạng
đó. Phần lớn các tính trạng về năng xuất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản,
sản xuất trứng, thịt, lông đều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền học của
các tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định.
Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường (metvic
character) vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc sự đo lường của mức độ tăng trọng,
kích thước các chiều đo, khối lượng trứng… Tuy nhiên, có những tính trạng mà
giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: số lượng trứng đẻ ra trong một
chu kỳ đẻ, số trứng có phôi, số vịt con nở ra trong một năm… Vẫn được coi là
tính trạng số lượng và đây là những tính trạng số lượng đặc biệt.
Giá trị kiểu gen của một tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ
(minorgene) cấu tạo thành. Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen
thì rất nhỏ nhưng tập trung lại thì có ảnh hưởng lớn đến tính trạng được nghiên
cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen hoặc polygen. Giá trị kiểu gen
được phân theo ba thành phần như sau:
G = A + D + I
Trong đó: G: Giá trị kiểu gen (Genotype value).
A: Giá trị cộng gộp (Additive value).
D: Sai lệch do tác động trội lặn (Dominance deviation).
I: Sai lệch do tương tác giữa các gen (Interaction deviation).
9
- Giá trị cộng gộp hay giá trị giống: là tổng các hiệu ứng của các gen có
trong locus. Giá trị cộng gộp còn được gọi là giá trị giống.

+ Tác độn về môi trường (E) bằng cách cải thiện điều kiện chăn nuôi như:
thức ăn, thú y, chuồng trại…
Trong chăn nuôi, các giống vật nuôi luôn nhận được từ bố mẹ một số gen
quy định tính trạng số lượng nào đó và được xem như là được nhân từ bố mẹ
một khả năng di truyền; tuy nhiên, khả năng đó có phát huy tốt hay không còn
phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của vật nuôi.
Khi quan sát các tính trạng số lượng (cân, đo, đếm…) người ta thường
xác định các tham số sau:
+ Số trung bình của các tính trạng ().
+ Hệ số biến dị (Cv%).
+ Hệ số di truyền các tính trạng (h
2
).
+ Hệ số lặp lại các tính trạng (Rs).
+ Hệ số tương quan các tính trạng (r).
2.1.2.Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình của giống vịt
2.1.2.1. Đặc điểm ngoại hình
Màu sắc của lông thủy cầm nói riêng và gia cầm nói chung là đặc điểm
ngoại hình quan trọng để phân biệt giống, dòng. Các giống gia cầm hiện đại có
màu lông đặc trưng, thuần nhất. Các giống gia cầm và thủy cầm hướng thịt
thường có màu lông trắng tuyền hoặc màu sáng; các giống gia cầm hướng trứng
thường có bộ lông sẫm màu hơn gia cầm hướng thịt. Màu sắc độ bóng mượt của
lông liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và sức sản xuất của
gia cầm.
Hình dáng của vịt để phân biệt tính năng sản xuất chuyên biệt của chúng.
Vịt hướng thịt có hình dáng to, hình chữ nhật, dáng đứng thường gần song song
11
với mặt đất; vịt hướng trứng thường có hình dáng nhỏ, gon, thanh mảnh và dáng
đứng thường tạo với mặt đất một góc gần 90
0

Bảng 2.1: Tỷ lệ nuôi sống của hai dòng vịt TC1 và TC2
Giai đoạn
(Tuần tuổi)
TC1 TC2
Số lượng
(con)
TLNS
(%)
Số lượng
(con)
TLNS
(%)
1 ngày tuổi 250 100 250 100
4 243 97,2 241 96,4
8 241 96,4 240 96,0
16 241 96,4 240 96,0
TB 0 – 16 96,4 96,0
Nguyễn Đức Trọng và cộng sự (2010), tỷ lệ nuôi sống của vịt Cỏ là
98,95%, tỷ lệ nuôi sống của vịt Triết Giang là 94,74%.
2.1.3.2. Khả năng sinh trưởng của thủy cầm
* Khả năng sinh trưởng của thủy cầm
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình sinh tổng hợp
Protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá
trình sinh trưởng. Để đánh giá đặc điểm về khả năng sinh trưởng người ta hay
dùng các chỉ tiêu khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng tương đối, tốc độ sinh
trưởng tuyệt đối, tốc độ mọc lông.
- Khối lượng cơ thể
Khối lượng cơ thể là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình sinh trưởng
của vật nuôi, đây là chỉ tiêu có hệ số di truyền trung bình h
2

độ sinh trưởng của vịt. Mật độ nuôi quá cao, chuồng trại kém thông thoáng,
thiếu oxy kết hợp với quy trình nuôi không hợp lý sẽ làm giảm khả năng tăng
khối lượng gia cầm, tiếu tốn thức ăn cao, tỷ lệ hao hụt lớn thường gây hiện
tượng mổ nhau.
2.1.3.3. Khả năng sinh sản của thủy cầm
14
Khả năng sinh sản của thủy cầm được thể hiện thông qua các tính trạng số
lượng như tuổi đẻ, năng suất trứng, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ trứng có phôi và tiêu tốn thức
ăn/10 quả trứng.
* Tuổi đẻ
Sự thành thục về tính là thời điểm các cơ quan sinh dục đã phát triển và
hoàn chỉnh, độ thành thục của con mái được xác định qua tuổi đẻ quả trứng đầu
tiên, tuổi đẻ này được tính toán dựa trên số liệu của từng cá thể vịt, do vậy nó
phản ánh được mức độ biến dị của tính trạng, biết được vịt đẻ sớm hay đẻ muộn.
Đối với đàn không theo dõi cá thể thì tuổi thành thục về tính được tính khi toàn
bộ đàn có tỷ lệ đẻ là 5%, nhược điểm của phương pháp này là không biết được
tuổi đẻ chính xác của từng cá thể.
Tuổi đẻ của vịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, hướng sản xuất,
chế độ dinh dưỡng, phương thức nuôi, thời gian thay thế đàn trong năm… Các
giống vịt hướng trứng có tuổi đẻ sớm hơn các giống vịt hướng thịt, vịt Triết
Giang có tuổi đẻ là 22 – 23 tuần tuổi (Nguyễn Đức Trọng và cộng sự, 2010).
Phương thức nuôi có ảnh hưởng rõ rệt đến tuổi đẻ của vịt, kết quả nuôi vịt
CV. Super M khi nuôi theo 2 phương thức là nuôi khô không có nước bơi lội và
nuôi có nước bơi lội cho thấy: tuổi đẻ của vịt dòng ông và dòng bà ở phương
thức nuôi khô là 178 và 164 ngày, trong khi đó ở phương thức nuôi nước tuổi đẻ
tương ứng là 190 và 169 ngày (Nguyễn Đức Trọng và cộng sự, 2005).
* Năng suất trứng
Năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra của gia cầm trong một khoảng
thời gian nhất định, đây là một trong những chỉ tiêu sản xuất quan trọng nhất của
gia cầm và là một tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện

- Cấu tạo trứng
Trứng gia cầm thường có hình oval hoặc hình e-lip: một đầu lớn và một
đầu nhỏ. Hình dạng trứng thường mang đặc điểm của từng cá thể. Chỉ số hình
thái của trứng có ý nghĩa kinh tế trong vận chuyển, đóng gói và liên quan đến tỉ
16
lệ ấp nở của trứng gia cầm. Những trứng quá dài hoặc quá tròn đều cho tỉ lệ ấp
nở kém Đối với quả trứng đẻ đầu tiên chiều dài dài hơn quả trứng đẻ sau.
Giống thuần, điều kiện dinh dưỡng càng tốt thì hình dạng trứng của chúng
đều nhau, còn nếu ngược lại thì trứng có nhiều hình dạng. Cũng theo ông chỉ số
hình dạng có ý nghĩa nhất định đến sự phát triển phôi vì nó ảnh hưởng đến vị trí
đĩa phôi khi ấp và vị trí này ảnh hưởng đến quá trình nở của gia cầm.
Chất lượng vỏ trứng được thể hiện bằng độ bền và độ dày của vỏ trứng.
Chất lượng vỏ trứng có ý nghĩa quan trọng đối với việc vận chuyển và quá trình
ấp trứng. Ngoài ra, độ dày vỏ trứng còn chịu tác động của môi trường như: Thức
ăn, tuổi, nhiệt độ môi trường, stress và nhiều yếu tố khác.
Các chỉ tiêu bên trong trứng bao gồm chỉ số lòng trắng, chỉ số lòng đỏ,
đơn vị Haugh. Chỉ số lòng trắng là tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với
trung bình cộng của chiều rộng và chiều dài lòng trắng đặc, chỉ số lòng đỏ là tỷ
lệ giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính lòng đỏ, đơn vị Haugh được xác
định dựa trên chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng. Chỉ số lòng trắng,
chỉ số lòng đỏ, đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt, chỉ số lòng
đỏ thường dao dộng trong khoảng 0,4 – 0,5, chỉ số lòng trắng và chỉ số lòng đỏ
tương quan với khối lượng trứng, hệ số tương quan kiểu hình tương ứng là r
G
= –0,43 và r
G
= 0,3 (Awang, 1987).
* Khả năng ấp nở của trứng vịt
Khả năng ấp nở của trứng vịt được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ
trứng có phôi, tỷ lệ nở/trứng có phôi, tỷ lệ nở/tổng số trứng vào ấp và tỷ lệ vịt

Theo Shen (1985), khi bổ sung vitamin A và vitamin E vào thức ăn cho
vịt có ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở, với vitamin A bổ sung vào thức ăn ở 3 mức
2200UI/kg thức ăn, 12200UI/kg thức ăn và 22200UI/kg thức ăn thì tỷ lệ ấp nở
tương ứng với 3 mức bổ sung vitamin A là 34,5%; 86,7% và 83,9%. Khẩu phần
bổ sung vitamin E không làm ảnh hưởng đến năng suất trưng nhưng có ảnh
hưởng đến chất lượng vỏ trứng và tỷ lệ ấp nở.
Xông sát trùng trứng và thời gian bảo quản trứng có ảnh hưởng tới tỷ lệ
ấp nở của trứng vịt, kết quả nghiên cứu vịt CV-Super M dòng ông và dòng bà
cho thấy: vệ sinh trứng bằng xông formone và thuốc tím trước khi bảo quản đã
18
làm tăng tỷ lệ nở so với trưng không được xông sát trùng. Khi bảo quản trứng
trong thời gian 4 ngày ở những trứng xông sát trùng tỷ lệ nở cao hơn 1,97% so
với trứng không được xông sát trùng, tương tự trứng bảo quan trong thời gian 7
ngày ở những trứng được xông sát trùng có tỷ lệ nở cao hơn 2,96% và có sự sai
khác (P < 0,05). Bảo quản trứng bằng kho lạnh trong thời gian 4 ngày tỷ lệ
nở/phôi của trứng đạt 89,01% và nếu bao quản trong thời gian 7 ngày tỷ lệ này
là 87,38% (Nguyễn Đức Trọng, 1998).
2.1.3.4. Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm
Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm là một chỉ tiêu hết sức quan trong chăn
nuôi, vì chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ tới hiệu quả kinh tế trong chăng nuôi
nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng…Trong chọn giống người ta thường
chọn lọc theo hướng có khả năng lợi dụng thức ăn tốt nhất nhằm hạ giá thành
sản phẩm. Vì khả năng lợi dụng thức ăn tốt sẽ cho sản phẩm cao do đó tiêu tốn
thức ăn/đơn vị sản phẩm sẽ giảm xuống, hơn nữa thức ăn trong chăn nuôi nói
chung chiếm phần lớn giá thành (70 – 75%) sản phẩm đó, nếu làm giảm được
chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm thì hiệu quả chăn nuôi càng tăng cao,
lợi ích từ chăn nuôi sẽ rất lớn.
Đối với gia vịt sinh sản, hiệu quả sử dụng thức ăn được tính bằng tiêu tốn
thức ăn/10 quả trứng. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã tính tiêu tốn thức ăn
từ khi gia cầm mới nở cho đến khi gia cầm kết thúc 1 năm đẻ. Tiêu tốn thức ăn

Sản phẩm từ chăn nuôi vịt đã phục vụ rất nhiều cho các nước đặc biệt là
các nước đang phát triển, kết quả nghiên cứu trên vịt Bắc Kinh cho thấy tỷ lệ
phôi đạt 90%, tỷ lệ nở/trứng có phôi là 59,26% và tỷ lệ nở/tổng trứng vào ấp là
53,3% khối lượng cơ thể của vịt nuôi thương phẩm ở 7 tuần tuổi của vịt mái là
1616,7g/con và vịt đực là 1701,7g/con (Gonzalez và Marta, 1980).
20
Cùng với công tác chọn lọc, nhân thuần các giống thuỷ cầm thì công tác
lai tạo cũng là phương pháp để có được hiệu quả cao và nhanh, lai tạo nhằm
mục đích lay động tính bảo thủ sẵn có trong từng cá thể, từng dòng, từng giống,
phát huy những bản chất di truyền tốt của chúng. Ngoài ra, lai tạo còn làm biến
đổi sự tồn tại của những cái khác nhau nằm trong cấu trúc tế bào gọi là biến đổi
nội tại, trong một cá thể gọi là biến đổi cá thể, trong một quần thể gọi là biến đổi
nhóm. Đồng thời biến đổi lại chịu ảnh hưởng khác nhau của ngoại cảnh, từ đó
lai tạo sẽ tạo nên những tổ hợp lai có năng suất cao, chất lượng tốt và nâng cao
hiệu quả chăn nuôi.
Tại Indonesia người dân địa phương đã tiến hành cho vịt đực Alabio ghép
với mái ngan tạo con lai có chất lượng thịt cao, người dân gọi con lai là vịt Kisar
hoặc vịt Tiktok, họ cũng tiến hành công thức ngược lại cho ngan đực ghép với
vịt mái để tạo con lai ngan vịt gọi là vịt Kisar và là một sản phẩm nổi tiếng trong
các siêu thị (SPFS Indonesia, 2005).
Guemene và Guy (2004) đã tổng kết năng suất gan béo của con lai ngan
vịt đạt được qua các năm cho thấy: số lượng con lai ngan vịt nuôi nhồi đã tăng
từ 173 đơn vị (năm 1991) lên 618 đơn vị (năm 2002), thời gian nhồi giảm từ
15,8 ngày năm 1991 xuống còn 13,4 ngày năm 2002, tương ứng với đó thì số
lượng ngô dùng cho nhồi cũng giảm từ 12,3kg xuống còn 10,5kg. Nhưng khối
lượng gan béo thì lại tăng từ 516g/cái năm 1991 lên 549g/cái năm 2002 và khối
lượng thịt đùi và thịt lườn cũng tăng từ 2,3kg lên 2,5kg.
2.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước
Chăn nuôi vịt là một nghề truyền thống có từ lâu đời của người dân Việt
Nam và ngày càng phát triển. Để có được những kết quả này phải kể đến những

suất trứng h
2
= 0,341 – 0,343, năng suất trứng của vịt đạt 224,42 –
230,18quả/mái/42 tuần đẻ, sản phẩm của vịt xuất phát từ hai dòng T5 và T6
được chuyển giao tới 25 tỉnh thành trong cả nước (Nguyễn Đức Trọng và cộng
sự, 2009).
22
2.2.3. Một số hiểu biết về vịt trời
Vịt trời đen Thái Bình Dương là loài vịt trời thuộc gia đình Anatidae chi
Anas và loài supercillosa. Loài này thường được biết đến với tên vịt xám hoặc
Parera. Trong tự nhiên chúng được tìm thấy nhiều ờ Indonesia, New Guinea, Úc,
New Zealand và nhiều hòn đảo phía tây nam Thái Bình Dương. Loài vịt này
thường sống trong môi trường là những vùng ngập nước.
Anas supercillosa có khối lượng tương đối nhỏ so với một số giống vịt
nuôi hiện nay, khối lượng con trống 760 – 1300g, khối lượng con mái 650 –
1200g, chúng có khối lượng tương đương với một số giống vịt siêu trứng như vịt
Triết Giang. Kích thước trung bình từ 48 – 60cm, với đầu và cô mảnh mai, con
trống thì lớn hơn con mái. Với kích thước và khối lượng như vậy nên loài này có
khả năng di chuyển rất linh hoạt và có khả năng bay rất xa, đặc biệt trong mùa di
cư chúng có thể bay hàng nghìn kilometer đi tránh rét.
Anas Supercillosa được bao phủ bởi một bộ lông đen, đầu có màu vàng
nhạt.Mặt dưới cánh hoàn toàn là màu trắng và mặt trên có một phần màu xanh
lục óng ánh (ở con trống). Mỏ vịt có màu tím hoặc màu xanh ngọc lam. Chân và
bàn chân có màu nâu hơi xanh nhưng chân của những giống lai lại có xu hướng
là màu da cam.
Thức ăn của vịt trời đen Thái Bình Dương là những loài thủy hải sản
không xương sống, côn trùng, lá và hạt cây thủy sinh, sâu bướm hoặc các loài
sâu trên đông cỏ.
Mùa sinh sản của chúng từ tháng chín đến tháng mười hai (ở Nam bán
cầu), chúng thường làm tổ trên mặt đất hoặc trên các đồng cỏ.Trong điều kiện tự

- Tỷ lệ đẻ trứng, năng suất trứng.
- Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng.
- Tỷ lệ ấp phôi và kết quả ấp nở.
Chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng
- Khảo sát các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng ở 38 tuần tuổi.
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
* Phương pháp thu thập số liệu: Vịt xuống chuồng từ tháng 8/2013 nên từ giai
đoạn vịt con đến giai đoạn vịt 20 tuần tuổi số liệu thu thập từ sổ sách của cán bộ
kỹ thuật trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên.
* Phương pháp bố trí thí nghiệm:
- Xuống chuồng 100 con vịt trời 1 ngày tuổi gồm 65 vịt mái và 35 vịt đực, nuôi
dưỡng từ lúc vịt con đến hết giai đoạn hậu bị (hết 22 tuần tuổi).
- Kết thúc giai đoạn hậu bị tiến hành chọn vịt đực và vịt mái:
25

Trích đoạn PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1 Phương pháp bố trí thí nghiệm Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổ Chỉ tiêu ấp nở KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA VỊT TRỜ KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status