BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MAI HƯƠNG THU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG
SẢN XUẤT CỦA VỊT BIỂN 15 – ĐẠI XUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. NGUYỄN VĂN TRỌNG
2. PGS.TS. PHAN XUÂN HẢO
HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực, do tôi nghiên cứu ra, có sự đóng góp của
tập thể các đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan, công trình nghiên cứu này
không trùng với bất cứ nghiên cứu khoa học nào khác và chưa từng được công
bố trong các tài liệu nghiên cứu khoa học nào. Hà nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015
Tác giả luận văn
Mai Hương Thu
Mai Hương Thu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình, đồ thị ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích đề tài 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Đặc điểm ngoại hình của thủy cầm 3
1.2. Tính trạng số lượng của thủy cầm 3
1.7. Giới thiệu sơ lược về vịt Biển 28
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình và kích thước một số chiều đo cơ
thể của vịt. 30
2.3.2. Nghiên cứu khả năng sản xuất của vịt 31
2.3.3. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và cho thịt của vịt nuôi
thương phẩm. 31
2.3.4. Theo dõi đàn vịt nuôi thương phẩm ở ngoài sản xuất. 31
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi. 31
2.5. Phương pháp nghiên cứu 32
2.5.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 32
2.5.2. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 33
2.5.3. Phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng 37
3.3.2. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối 59
3.3.3. Kết quả mổ khảo sát 61
3.3.4. Kết quả nuôi vịt Biển 15 - Đại Xuyên ngoài sản xuất 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66
1. Kết luận 66
2. Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Đvt Đơn vị tính
CS Chỉ số
CSHT Chỉ số hình thái
NST Năng suất trứng
NXB Nhà xuất bản
TB Trung bình
TLĐ Tỷ lệ đẻ
TLNS Tỷ lệ nuôi sống
TTTA Tiêu tốn thức ăn
TĐ Tuần đẻ
3.10. Khối lượng cơ thể của vịt Biển 15 - Đại Xuyên nuôi thương phẩm 57
3.11. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của vịt Biển 15 - Đại Xuyên 59
3.12. Kết quả mổ khảo sát vịt Biển 15 - Đại Xuyên (n = 6) 62
3.13. Kết quả theo dõi đàn vịt Biển 15 - Đại Xuyên nuôi thương phẩm tại gia
đình ông Tú ở Quảng Ninh 64
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ
STT Tên hình Trang
3.1. Vịt Biển 15 - Đại Xuyên 1 ngày tuổi 41
3.2. Vịt Biển 15 - Đại Xuyên trưởng thành 42
3.3: Khảo sát vịt vỗ béo 8 tuần tuổi. 64STT Tên đồ thị Trang
3.1. Tỷ lệ nuôi sống vịt Biển 15 - Đại Xuyên 45
3.2: Khối lượng cơ thể của vịt Biển – 15 Đại Xuyên 48
ven biển và hải đảo, dự án DA15 đã nhập giống vịt chịu nước mặn giao cho Trung
tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên nuôi giữ và khảo nghiệm. Giống vịt chịu nước mặn
cũng đã chính thức được bổ sung vào danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất
và kinh doanh ở Việt Nam và lấy tên vịt Biển 15 - Đại Xuyên. Vịt Biển 15 – Đại
Xuyên là giống vịt có tiềm năng lớn, lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam mở ra nhiều
hướng nghiên cứu trong tương lai về khả năng chịu mặn và cơ chế đào thải muối
trong cơ thể. Vịt Biển 15 – Đại Xuyên sống được ở môi trường nước ngọt, nước lợ
và nước mặn, thích hợp cho các vùng ven biển, hải đảo, nâng cao thu nhập cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
người dân, góp phần giúp đồng bào và bộ đội tăng gia sản xuất ổn định cuộc sống,
yên tâm bám biển, giữ đảo, qua đó góp phần củng cố quốc phòng an ninh bảo vệ chủ
quyền biển đảo của nước ta. Xuất phát từ mục tiêu đó, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Biển 15 – Đại Xuyên”.
2. Mục đích đề tài
Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của vịt Biển 15 –
Đại Xuyên từ đó định hướng cho việc sử dụng giống vịt này.
Đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật khi nuôi vịt Biển 15 – Đại Xuyên
ngoài sản xuất.
những lãng phí trong chăn nuôi.
Mỏ và chân : là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng có màng
dày bao bọc. Ở vịt, mỏ có nhiều nhánh thần kinh và các hàng răng cưa, chứa
nhiều thể xúc giác nên chúng có thể mò được thức ăn trong nước. Mỏ có nhiều
màu khác nhau: vàng, đen, xám, xanh lục… và là đặc trung cho giống. Chân vịt
có màu phù hợp với màu của mỏ, có màng bơi là phần cấu tạo không có lông
của da giữa các ngón chân giống mái chèo giúp vịt bơi lội linh hoạt trong nước.
1.2. Tính trạng số lượng của thủy cầm
Khi nghiên cứu các tính trạng về năng suất của một giống gia súc, gia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
cầm trong một điều kiện chăn nuôi cụ thể thực chất là nghiên cứu đặc điểm di
truyền và ảnh hưởng của những tác động xung quanh lên các tính trạng đó. Phần
lớn các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản, sản xuất
thịt, lông, trứng đều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền học của tính
trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định.
Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường (metric
character) vì sự nghiên cứu chúng có thể xác định bằng cân, đo, đong, đếm. Cơ
sở di truyền của các tính trạng số lượng này là do các gen nằm trên nhiễm sắc
thể quy định. Tính trạng số lượng này do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ quy định và
nó có ảnh hưởng đến tính trạng được gọi là giá trị kiểu gen hay giá trị di truyền.
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), các tính trạng số lượng do giá trị kiểu
gen và sai lệch môi trường quy định. Giá trị kiểu gen (Genotypic value) do các
gen có hiệu ứng riêng biệt nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen thì có ảnh hưởng rõ
rệt tới tính trạng, chúng gây ra các hiệu ứng cộng gộp, trội và át gen. Tính trạng
số lượng chịu tác động lớn của ngoại cảnh.
Theo Đặng Vũ Bình (1999), để hiển thị đặc tính của những tính trạng số
lượng người ta sử dụng khái niệm giá trị, đó là các số đo dùng để đánh giá các
tính trạng số lượng. Giá trị thu được khi đánh giá một tính trạng số lượng trên
được thể hiện như sau:
P = A + D + I + Ec + Es
Các tham số thống kê và di truyền thường được sử dụng là:
- Số trung bình cộng.
- Hệ số biến dị.
- Độ lệch tiêu chuẩn
Như vậy, muốn nâng cao năng suất của vật nuôi chúng ta cần phải tác
động về mặt di truyền (G) bằng cách tránh cận huyết, tác động vào hiệu ứng
cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc, tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
(I) bằng cách phối giống tạp giao, tác động vào môi trường (E) bằng cách cải
thiện điều kiện môi trường nuôi như thức ăn, nước uống, chăm sóc nuôi dưỡng,
thú y,
1.3. Sức sống và khả năng kháng bệnh của thủy cầm
Sức sống là tính trạng di truyền số lượng đặc trưng cho từng cá thể, là
yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia cầm.
Tổn thất do bệnh tật ở gia cầm gây thiệt hại rất lớn vì khi mắc bệnh, đàn gia cầm
thường bị suy giảm sức đề kháng, dễ nhiễm các bệnh khác, chết nhiều, nhanh và
đồng loạt. Đặc điệt khi đàn gia cầm mắc bệnh truyền nhiễm sẽ phải tăng thêm
chi phí vacxin và các biện pháp thú y khác.
Sức sống và khả năng kháng bệnh thường được thể hiện gián tiếp thông
qua chỉ tiêu tỷ lệ nuôi sống. Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm con là chỉ tiêu chủ yếu
đánh giá sức sống của gia cầm sau khi nở ra, sự giảm sức sống được thể hiện ở
tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng. Tỷ lệ nuôi sống đánh giá khả năng
thích ứng của vật nuôi với điều kiện ngoại cảnh và nó có ý nghĩa lớn đối với
những giống được chuyển từ vùng này sang vùng khác. Đối với vịt Biển 15 -
Đại Xuyên, tỷ lệ nuôi sống phản ánh sự thích nghi của chúng khi chuyển từ môi
trường nước mặn sang nuôi ở nước ngọt.
của chúng cũng tăng lên. Theo Nageswara (1999), tỷ lệ nuôi sống của vịt Khaki
Campell từ 19 -58 tuần tuổi ở phương thức nuôi quảng canh, bán thâm canh và
thâm canh lần lượt là 89,4%, 93% và 93,1%.
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng đối với tỉ lệ nuôi sống. Có thể nói nhiệt
độ là yếu tố quyết định để nuôi vịt thành công, vì ở giai đoạn vịt con, hệ thống
điều hoà thân nhiệt của vịt chưa hoàn chỉnh. Kết quả nghiên cứu của Dương
Xuân Tuyển (1998) cho thấy ở vịt ông bà CV - Super M có tỷ lệ chết 0 - 3 tuần
tuổi chiếm tới 80% số vịt chết ở giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi. Giai đoạn 3 - 4 tuần
tuổi đầu thường có tỷ lệ hao hụt cao nhất, theo Lương Tất Nhợ (1994). Do vậy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
trong chăn nuôi cần phải chú ý chăm sóc nuôi dưỡng tốt vịt con giai đoạn 3 - 4
tuần tuổi đầu tiên.
Theo Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998), dù chăn nuôi theo
phương thức nào thì đàn gia cầm nuôi tập trung đều có số lượng lớn các tác
nhân truyền nhiễm bệnh là vi khuẩn, cho nên việc phòng dịch bệnh phải trở
thành một quy trình, đảm bảo an toàn sinh học. Do đó, trong chăn nuôi thủy
cầm nói riêng và chăn nuôi nói chung không những phải chọn lọc các cá thể
có sức sống cao, có khả năng thích nghi tốt với môi trường và các vùng sinh
thái khác nhau mà phải tạo cho chúng những điều kiện nuôi dưỡng một cách
tốt nhất để chúng có thể sản xuất ra những sản phẩm tốt nhất.
1.4. Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng của thủy cầm
1.4.1. Khái niệm về sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng
chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể của
con vật trên cơ sở di truyền từ đời trước. Sinh trưởng chính là quá trình tích lũy
dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ và khối lượng tích lũy các
chất, tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen
điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể.
dinh dưỡng của chúng là khác nhau, điều này do gen liên kết giới tính quy định.
Nhiều thí nghiệm cho biết, ở gia cầm cùng một giống, dòng, lứa tuổi nhưng nhu
cầu năng lượng, protein, axit amin cho trao đổi cơ bản của gia cầm trống luôn
cao hơn gia cầm mái trưởng thành; nên khối lượng của gia cầm trống luôn cao
hơn gia cầm mái.
Theo Leeson et al. (1982), khối lượng cơ thể 7 tuần tuổi của vịt trống Bắc
Kinh là 3297g và vịt mái Bắc Kinh là 3113g. Mức chênh lệch giữa hai giới tính
là 166g, tương đương 5,07%. Các tác giả cũng cho biết vịt trống chỉ vượt trội vịt
mái về khối lượng cơ thể từ tuần tuổi thứ 6, ở các tuần tuổi 1, 2 và 4 khối lượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
cơ thể vịt mái còn cao hơn vịt trống. Vịt Cỏ màu cánh sẻ có khối lượng lúc 8
tuần tuổi ở con trống là 1052g, con mái là 967g ( Nguyễn Thị Minh, 2001).
Kết quả nghiên cứu của Dương Xuân Tuyển (1998) cho biết: Vịt CV -
Super M nuôi thịt cho ăn tự do, khối lượng cơ thể ở 8 tuần tuổi dòng trống
vịt trống là 3323g và vịt mái là 3062g; dòng mái, vịt trống là 3126g, vịt mái
là 2879g.
Ảnh hưởng của lứa tuổi: Lứa tuổi ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
của gia cầm cũng tuân theo quy luật đường cong sinh trưởng, do mối tương quan
giữa hai quá trình đồng hóa, dị hóa ở mỗi giai đoạn quy định. Đây là cơ sở quan
trọng để tính toán thời gian nuôi dưỡng, nhu cầu thức ăn và điều kiện chăm sóc
thích hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Theo Lê Viết Ly và cs. (1998), tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của vịt Cỏ
trống ở 3 tuần tuổi là 8,31g/con/ngày và ở 8 tuần tuổi là 18,05g/con/ngày; của
con mái ở 3 tuần tuổi là 6,90 g/con/ngày và 8 tuần tuổi là 16,55 g/con/ngày.
Theo Dương Xuân Tuyển (1993) vịt CV. Super M thương phẩm nuôi tại Trại
vịt giống Vigova có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối ở 1 tuần tuổi đạt 130,2g/con/tuần,
tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao nhất ở 6 tuần tuổi đạt 509,75g/con/tuần, đến 8 tuần
72,6g/con/ngày, 72,3g/con/ngày là lô bổ có mức Lysine 1,1%, lô 0,8% Lysine
có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối là 70,1g/con/ngày và thấp nhất ở lô có mức
Lysine 0,65% là 59,6g/con/ngày (P<0,05).
Để phát huy được tốc độ sinh trưởng tối đa cần cung cấp thức ăn tối ưu
với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axit
amin với năng lượng. Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp còn được bổ sung hàng
loạt các chế phẩm hóa sinh không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích
sinh trưởng, làm tăng năng suất và chất lượng thịt.
Các yếu tố môi trường: Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, ẩm độ, ánh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
sáng, độ thông thoáng và phương thức nuôi có ảnh hưởng không nhỏ tới sự sinh
trưởng của gia cầm nói chung và vịt nói riêng.
Theo nghiên cứu của Hudsky and Machalek (1981), mật độ chuồng nuôi
ảnh hưởng lớn đến khối lượng giết thịt của vịt Bắc Kinh nuôi ở Tiệp Khắc. Mật
độ nuôi 6 con/m
2
nền chuồng có khối lượng cơ thể 7 tuần tuổi là cao nhất. Khối
lượng cơ thể 7 tuần tuổi của vịt Bắc Kinh nuôi ở nhiệt độ 20
0
C cao hơn 10% so
với nuôi ở nhiệt độ 30
0
C (Knust et al.1995).
Khi các yếu tố môi trường không thuận lợi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức đề
kháng, khả năng thu nhận thức ăn và từ đó ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển
của vật nuôi. Do đó cần đảm bảo chuồng nuôi có độ thông thoáng tốt, mật độ nuôi
dưỡng và chế độ chiếu sáng thích hợp để nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Ngoài ra ẩm độ môi trường cũng có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của
lượng như tuổi đẻ, năng suất trứng, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ trứng có phôi và tiêu tốn thức
ăn/10 quả trứng.
1.5.1. Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục,
chỉ tiêu này cũng là một yếu tố cấu thành năng suất, được tính toán dựa trên số
liệu của từng cá thể, phản ánh được mức độ biến dị của tính trạng. Tuổi đẻ quả
trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi nở đến khi đẻ quả trứng đầu
tiên. Đối với những đàn không theo dõi cá thể thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên
được tính từ khi toàn bộ đàn có tỷ lệ đẻ 5%.
Gudeil, Lerner và một số tác giả khác cho rằng: có các gen trên nhiễm sắc
thể giới tính cùng tham gia hình thành tính trạng này (dẫn theo Trần Đình Miêu
và Nguyễn Kim Đường, 1992) có ít nhất 2 cặp gen cùng quy định. Tuổi đẻ quả
trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường, đặc biệt là
thời gian chiếu sáng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ trứng sớm.
Khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
đến tính thành thục của gia cầm mái, gia cầm càng nặng cân lại càng đẻ ít trứng,
nguyên nhân là do tồn tại nhiều bao noãn lấn át buồng trứng. Theo Brandsch and
Biilchel (1978), hệ số di truyền tính trạng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà từ
0,15 - 0,14, giữa tuổi thành thục sinh dục và kích thước cơ thể có mối tương
quan nghịch, chọn lọc theo hướng tăng khối lượng trứng sẽ dẫn đến sự tăng khối
lượng cơ thể và tăng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên.
Thời gian thay thế và ấp nở khác nhau trong năm cũng ảnh hưởng đến tuổi
đẻ của vịt, theo Hwang (1996) vịt Brown Tsaiya nở vào tháng 10 thường có tuổi
đẻ muộn hơn so với vịt nở vào các tháng khác trong năm, khi sử dụng cường độ
chiếu sáng mạnh thì kết quả lại ngược lại. Nguyễn Đức Trọng (2005) nghiên cứu
trên vịt CV. Super M khi thay thế đàn ở các mùa khác nhau trong năm thì tuổi đẻ
của vịt là khác nhau, tuổi đẻ của vịt dòng trống và dòng mái khi thay thế đàn vào
Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng
Năng suất trứng chịu sự chi phối của các tập hợp gen khác nhau, các gen
quy định tính trạng này nằm trên nhiễm sắc thể thường và bị hạn chế bởi giới
tính. Năng suất trứng được truyền lại cho đời sau từ bố mẹ và chịu ảnh hưởng
của 5 yếu tố di truyền cá thể là: tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ, thời gian
kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học, tính nghỉ đẻ mùa đông và tính ấp bóng.
Ngoài 5 yếu tố di truyền cá thể, sức đẻ trứng còn bị ảnh hưởng bởi các
yếu tố khác nhau như giống, dòng, lứa tuổi, dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, tiểu
khí hậu chuồng nuôi…
Tuổi gia cầm cũng ảnh hưởng đến năng suất trứng của nó. Ở vịt, sản
lượng trứng giảm dần theo tuổi, thường sản lượng trứng trung bình năm thứ hai
giảm 15 – 20% so với năm thứ nhất.
Mùa vụ ảnh hưởng rõ rệt đến sức đẻ trứng của vịt, mùa hè sức đẻ trứng
giảm xuống nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu sức đẻ trứng lại tăng lên.
Theo Nguyễn Đức Trọng và cs. (1996), khi nuôi vịt thay thế CV-Super M trong