BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN ĐĂNG NGỮ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA
LỢN BẢN NUÔI TẠI HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PGS.TS. NGUYỄN BÁ MÙI
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc. Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Đăng Ngữ
Nguyễn Đăng Ngữ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Vấn đề bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi ở địa phương 3
2.2 Đặc điểm sinh sản của lợn và các yếu tố ảnh hưởng 4
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1 Điều tra tình hình chăn nuôi lợn Bản trên địa bàn huyện Yên Châu 25
3.3.2 Xác định đặc điểm sinh học của lợn Bản nuôi trên địa bàn huyện
Yên Châu 25
3.3.3 Xác định khả năng sinh trưởng qua các tháng tuổi của lợn thịt 25
2.3.4 Xác định khả năng sinh sản 25
2.3.5 Xác định chất lượng thịt qua các chỉ tiêu mổ khảo sát 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp điều tra 26
3.4.2 Phương pháp đánh giá, giám định ngoại hình thể chất của lợn 26
3.4.3 Phương pháp xác định sức sản xuất của vật nuôi 26
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Kết quả điều tra về số lượng, cơ cấu đàn lợn và phương thức
chăn nuôi 31
4.1.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn của huyện Yên Châu qua 3 năm
(2010 – 2012) 31
5.2 Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Khả năng sinh sản của lợn phụ thuộc vào giống 8
4.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn qua 3 năm (2010 – 2012) (nghìn con) 31
4.2 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại địa điểm điều tra 35
4.3 Cơ cấu đàn lợn Bản tại một số xã điều tra năm 2012 37
4.4 Tình hình chăn nuôi lợn Bản và quy mô trong các hộ 39
4.5 Phương thức chăn nuôi 40
4.6 Một số đặc điểm ngoại hình của đàn lợn Bản 44
4.7 Mức độ cảm nhiễm bệnh của lợn Bản 45
4.8 Sinh trưởng tích lũy của lợn Bản 47
4.9 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của lợn Bản 49
4.5 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn Bản qua các tháng tuổi 49
4.6 Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn Bản qua các tháng tuổi 50
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của đất nước, nhu cầu về thịt lợn của người tiêu
dùng ngày một nâng cao không chỉ về số lượng mà còn cả về chất lượng.
Trong những năm qua, các giống lợn ngoại nhập như Yorshien, Landrace,
Duroc…và lợn lai (lợn nội x lợn ngoại hay lợn ngoại x lợn ngoại) đang được
nuôi phổ biến ở các vùng trong khi đó các giống lợn nội đang có xu hướng
giảm dần, một số giống còn có nguy cơ tuyệt chủng.
Các giống lợn ngoại nhập phải được nuôi bằng thức ăn công nghiệp và
quản lý theo phương pháp công nghiệp, có như vậy mới đem lại hiệu quả kinh
tế cao, đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính vì vậy,
ở các vùng nông thôn nghèo, vùng núi cao, nơi không có điều kiện đầu tư
cho phát triển chăn nuôi, các giống lợn địa phương vẫn được ưa chuộng.
Ngoài ra, các giống địa phương còn là nguồn gen quí và đa dạng để khai thác,
lai tạo các giống thương phẩm và tạo ra hệ thống nông nghiệp bền.
Lợn Bản tại Sơn La nói chung và tại huyện Yên Châu nói riêng được
cho việc bảo tồn nguồn gen quý, phục vụ cho việc nghiên cứu và phát triển,
bảo tồn quỹ gen cho ngành chăn nuôi. Phục vụ cho việc áp dụng khoa học kỹ
thuật vào chăn nuôi của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và phát triển lên tầm
cao mới.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đánh giá đúng thực
trạng của đàn lợn Bản tại địa phương, từ đó có định hướng đúng đắn cho công
cuộc bảo tồn và phát triển của đàn lợn Bản.
- Cung cấp thêm thông tin để các cấp, các ngành liên quan biết được
khuynh hướng hiện tại của đàn lợn Bản hiện có tại địa phương để có chiến
lược và kế hoạch phát triển cho tương lai.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Vấn đề bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi ở địa phương
Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải dài theo
chiều Bắc – Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh
xâm lược, có một kho tàng đa dạng sinh học phong phú, tuy một số loại động,
thực vật đã bị tuyệt chủng hay một số khác đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi
một số nguyên nhân như sau:
I: Áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, chạy theo thị
trường mà đã bỏ quên giống địa phương năng suất thấp nhưng có chất lượng
thịt cao.
Ii: Tác động của kỹ thuật mới về truyền giống nhân tạo đã tạo ra nhiều
giống lai có năng suất cao, làm cho giống nội thuần có năng suất thấp dần
biến mất. Sự tuyệt chủng của một số loại động vật, vât nuôi địa phương có
năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như thịt thơm ngon, chịu
đựng kham khổ, dinh dưỡng cao, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắc
giống lợn nội là: Lợn Sóc 9-12 tháng tuổi, Lợn Ỉ 4-5 tháng tuổi, Lợn
Móng Cái 7-8 tháng tuổi, Lợn Mẹo 10 tháng tuổi, Lợn Bản Mường
Khương 10-11 tháng tuổi.
Lợn đực: thành thục về tính sớm hơn ( 2 tháng đối với lợn nội).
Hoạt động sinh dục của lợn cái chịu ảnh hưởng của cá yếu tố thần
kinh và thể dịch (Sơ đồ 2.1)
Dưới tác dụng của các yếu tố ngoại cảnh, não bộ tác động đến vùng
dưới đồi (hypothalamus) sản sinh ra hormone giải phóng hormone sinh dục
GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone). Hormone này sẽ kích thích thuỳ
trước tuyến yên sản xuất ra các hormone như FSH, LH và Prolactin.
FSH (Folliculine Stimuline Hormone) kích thích sự phát triển của
trứng và tiết kích tố Ostrogen.
Còn LH (Lutein Hormone) kích thích quá trình thải trứng và hình
thành thể vàng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
FSH và LH luôn có một tỷ lệ ổn định, FSH tiết ra trước và LH tiết ra sau,
khi bão noãn chín nó sẽ tiết ra hormone estrogen khi đó hàm lượng estrogen trong
máu tăng lên 64 mg% đến 112 mg%, gây kích thích toàn thân và biểu hiện động
dục. Sau khi trứng rụng tại đó mạch quản và sắc tố vàng phát triển hình thành thể
vàng và thể vàng tiết ra progesteron giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở
sừng tử cung và các ức chế sản sinh ra FSH, LH của tuyến yên do đó ức chế qúa
trình phát triển ba o noãn, từ đó con cái không động dục. Vì vậy progesteron được
coi như là hormone bảo vệ sự mang thai. Khi trứng rụng không được thụ tinh thì
thể vàng ở ngày thứ 15 đến 17 sẽ bị tiêu biến, qua trình này là do hoạt động của
prolactin sừng tử cung và tiếp tục một chu kỳ mơi.
Prolactin: thúc đẩy sự tiết sữa, kích thích sự hoạt động của thể vàng và
tiết progesterone và thúc đẩy bản năng làm mẹ.
-
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
* Các giai đoạn của chu kỳ động dục: Được chia làm 4 giai đoạn
- Giai đoạn trước động dục (Pro-oestrus):
Là thời kỳ đầu của chu kỳ sinh dục, buồng trứng phát triển to hơn bình
thường, cơ quan sinh dục xung huyết, niêm dịch cổ tử cung tiết ra, cổ tử cung
hé mở, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, giai đoạn này con vật chưa
có tính hưng phấn cao, bao noãn phát triển và chín, trứng được tách ra, sừng
tử cung xung huyết, niêm dịch đường sinh dục chảy ra nhiều, con vật bắt đầu
xuất hiện tính dục, thời kỳ này kéo dài 1-2 ngày.
- Giai đoạn động dục (Oestrus):
Xảy ra 3 thời kỳ kế tiếp nhau: hưng phấn, chịu đực, hết chịu đực. Giai
đoạn này thường kéo dài 2-3 ngày và hàm lượng estrogen tiết ra cao nhất. Bên
ngoài có biểu hiện âm hộ sưng to, niêm mạc xung huyết, niêm dịch trong suốt
chảy từ âm hộ ra nhiều, con vật phá chuồng chảy lên lưng con khác hoặc để
con khác nhảy lên, xuất hiện tư thế chờ phối. Sau khi trứng rụng được thụ tinh
lợn cái được chuyển sang thời kỳ mang thai, nếu không được thụ tinh thì
chuyển sang giai đoạn sau đông dục.
- Giai đoạn sau động dục (Postoestrus):
Sau khi kết thúc động dục, các hormone FSH, LH trở lại trạng thái
bình thường, estrogen trong máu không tăng, buồng trứng xuất hiện thể vàng,
thể vàng, thể vàng tiết ra progesteron ức chế động dục, con vật dần dần trở lại
ổn định. Giai đoạn này thường kéo dài 2-3 ngày.
- Giai đoạn yên tĩnh (Dioestrus):
Là giai đoạn dài nhất, thường bắt đầu từ ngày thứ 4 khi trứng rụng,
giai đoạn này con vật thích yên tĩnh để khôi phục lại trạng thái sinh lý cũng
nuôi lợn nái sinh sản. Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu
quả kinh tế của quá trình chăn nuôi.
- Khối lượng cai sữa của lợn con chịu ảnh hưởng và có liên quan chặt
chẽ với khối lượng sơ sinh. Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối
lượng cai sữa càng lớn. Trong chăn nuôi lợn nái chửa việc chăm sóc nuôi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
dưỡng tốt để có khối lượng sơ sinh lớn là cần thiết, làm tiền đề cho khối
lượng cai sữa cao.
- Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật
nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh.
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.3.1 Yếu tố di truyền
Các giống khác nhau thì năng suất sinh sản là khác nhau do nó liên
quan đến: Số trứng rụng trong một lần động dục, số trứng được thụ tinh, số
hợp tử tạo thành, số con đẻ ra còn sống, số con đẻ ra chết, tỷ lệ nuôi sống,
khối lượng sơ sinh, khối lượng khi cai sữa, kết quả được thể hiện thông qua
nghiên cứu của Pfeiffer (1988) dưới đây:
Bảng 2.1 Khả năng sinh sản của lợn phụ thuộc vào giống
Chỉ tiêu Giống 1975 1979 1980
Tỷ lệ thụ thai(%)
LR
DE
79,4
64,1
77,8
66,1
80,5
68,2
Ỉ, Móng Cái ) thành thục về tính sớm hơn so với giống lợn ngoại thường ở
tháng thứ 4, thứ 5 (120-150 ngày tuổi).
Nguyễn Ngọc phụng (2003), cho biết: Lợn cái Meishan có tuổi
thành thục rất sớm so với giống lợn Landrace và Yorkshire khi nuôi trong
cùng điều kiện.
Nhìn chung các giống lợn ngoại có tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra trong
một lứa, số con đẻ ra còn sống trên lứa thấp hơn các giống lợn nội. Nhưng bù
lại, các giống lợn ngoại có khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa lớn hơn các
giống nội, giá bán ra cao hơn. Do vậy các giống ngoại thường kinh tế hơn các
giống nội.
2.2.3.2 Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả các
hoạt động sống của cơ thể. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm. Thông qua việc cung cấp đầy đủ các chất
dinh dưỡng con vật sẽ có điều kiện biểu hiện đầy đủ các đặc điểm di truyền
vốn có của chúng.
* Năng lượng
Năng lượng là sự biến đổi của thức ăn trải qua một quá trình tiêu hoá
ở bên trong cơ thể con vật. Nó cần thiết cho mọi cơ thể sống, cho mọi hoạt
động trong cơ thể. Nếu nguồn năng cung cấp có sự thiếu hụt, nó ảnh hưởng
trực tiếp đến cơ thể con vật đặc biệt là gia súc có chửa và nuôi con như: Suy
dinh dưỡng, còi cọc, sức đề kháng kém, teo hoặc chết thai…Tuy nhiên, nếu
cung cấp quá thừa năng lượng trong thời gian gia súc có chửa thì dẫn tới hiện
tượng chết phôi, đẻ khó, lợn mẹ sau đẻ sẽ kém ăn, tỷ lệ hao hụt tăng. Năng
lượng thừa sẽ được tích luỹ dưới dạng mỡ, lợn con sẽ bị mắc bệnh đường ruột
do hàm lượng mỡ trong sữa mẹ cao.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Vì vậy, cần phải phối hợp cân đối về năng lượng nhằm cung cấp một
dạng xương, lợn con có biểu hiện còi xương do dối loạn chuyển hoá và hấp
thu Ca, P.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Vitamin B
1
: Nếu thiếu sẽ dẫn tới hiện tượng kém ăn, thần kinh yếu,
bại liệt tứ chi, ỉa chảy, chậm lớn.
2.2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng khác
* Khí hậu
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng
cũng làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái. Đặc biệt
là các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm của chuông nuôi.
Theo Lê Xuân Cương (1986), ở mùa hè lợn cái hậu bị thành thục
chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể ảnh hưởng cuả nhiệt độ trong
chuồng trại gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức và
những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con
nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu).
Theo cẩm nang chăn nuôi gia súc - gia cầm (2002), cho thấy những lợn
cái hậu bị sinh ra vào mùa đông, mùa xuân thì tuổi động dục lần đầu bao giờ
cũng sớm hơn những lợn cái hậu bị được sinh ra vào các mùa khác trong năm.
Ngoài ra sự thành thục về tình dục còn chậm lại do nhiệt độ mùa hè
cao, hoặc do độ dài ngày bị giảm. Nhiệt độ môi trường cao hay thấp sẽ gây
trở ngại cho biểu hiện chịu đực, làm giảm mức ăn, tỷ lệ rụng trứng giảm ở
những lợn cái hậu bị trong chu kỳ. Ngược lại nhiệt độ môi trường quá thấp
cũng ảnh hưởng tới quá trình sinh lý sinh dục. Do vậy cần bảo vệ lợn cái hậu
bị tránh nhiệt độ cao của môi trường bằng cách có mái che nắng, làm mát để
đề phòng stress.
Theo Nguyễn Tấn Anh và cộng sự (1995), tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc
* Kỹ thuật phối giống và phương thức phối giống
Nếu phối trực tiếp thì phương thức phối giống ảnh hưởng trực tiếp tới
năng suất sinh sản của lợn nái. Ngày nay, người ta hay sử dụng các phương thức
phối giống sau: Phối kép, phối lặp, phối nhiều lần và hỗn hợp tinh dịch cho kết
quả thụ thai cao hơn phối đơn. Nếu thụ tinh nhân tạo thì ngoài phương thức phối
giống, kỹ thuật phối giống cũng ảnh hưởng tới kết quả thụ thai.
* Chất lượng tinh dịch
Nếu ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp và phối cho lợn
nái nhưng chất lượng tinh dịch không đảm bảo thì hiệu quả thụ thai không cao
và ngược lại.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
* Thời điểm phối giống
Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số
con/lứa. Lợn nái động dục kéo dài 48 giờ, thì trứng rụng vào 8 - 12 giờ trước
khi kết thúc chịu đực tức là 37 - 40 giờ sau khi bắt đầu chịu đực.
Nguyễn Thiện và Cs (1998), đã tổng kết công trình nghiên cứu xác
định thời điểm rụng trứng và thụ tinh thích hợp nhất: Phối giống tại các thời
điểm: 18, 24, 30, 36, và 42 giờ kể từ khi con vật bắt đầu chịu đực, tỷ lệ thụ
thai lần lượt là 80%, 100%, 100%, 80% và 70% và số con đẻ ra tương ứng là:
8,20; 11,80; 10,50; 9,80; và 7,80 con, và tác giả đã đi đến kết luận: Thời điểm
phối giống thích hợp nhất vào lúc 24 – 30 giờ tính từ giờ chịu đực đầu tiên,
dao động từ 15 – 45 giờ.
Cho phối giống sớm quá hoặc muộn quá thì tỷ lệ thụ thai và số con
sinh ra/ổ sẽ giảm nhanh chóng. Do vậy việc chọn thời điểm phối giống thích
hợp là rất quan trọng.
*Khối lượng lợn nái
Theo Phùng Thị Vân và Cs (1999), những lợn nái hậu bị có khối
lượng cơ thể đạt 130 kg ở 9 tháng tuổi sẽ cho số con sơ sinh/ổ cao nhất và
thai giảm đi và ước tính cho đến khi đẻ sẽ có khoảng 10% thai bị chết.
2.3 Đặc điểm sinh trưởng phát dục của lợn và những yếu tố ảnh hưởng
2.3.1 Đặc điểm sinh trưởng phát dục
* Khái niệm
- Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá, là sự
tăng về chiều cao, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn cơ thể của con
vật trên cơ sở của tính di truyền đời trước.
- Phát dục là quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự tăng thêm,
hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận trên cơ thể gia súc.
* Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn
Theo Vũ Đình Tôn (2009), quá trình phát dục của lợn bao gồm 2
giai đoạn:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
- Giai đoạn trong thai (114 ngày).
- Giai đoạn ngoài thai (từ khi đẻ ra đến khi trưởng thành).
Về hình dạng của lợn trong thời kỳ bào thai các chi phát triển tương
đối nhanh, gần đến cai sữa, con vật dài ra nghĩa là xương ống phát triển, lúc
này hình dạng thấy dài hơn cao, hình dạng này ổn định cho tới lúc trưởng
thành. Khi trưởng thành lợn vẫn giữ hình dạng dài hơn cao.
Khả năng cho thịt của lợn biểu hiện ở chi tiêu tăng trưởng trong các
giai đoạn phát triển. Tuy nhiên tốc độ tăng trọng trung bình theo giai đoạn
phát triển có khác nhau. Sau cai sữa lợn tăng trung bình 400g/ngày, tiếp theo
đạt 500g/ ngày cho đến lúc đạt 30kg; 600g/ngày cho đến 40 kg; 700g /ngày
cho đến 70kg. Từ đó đến 100kg tốc độ tích luỹ cơ có giảm và bắt đầu tích luỹ
mỡ. Khối lượng lúc mới sinh ra là 1kg. Như vậy, sau 7 - 8 tháng tuổi lợn đã
đạt được trọng lượng 100kg tức là tăng trưởng gấp khoảng 100 lần.
Theo Phạm Hữu Doanh và Cs (1994), sự thành thục về tính ở lợn lai
muộn hơn lợn nội.
tới mỡ lợn mà còn ảnh hưởng đến cả thịt lợn. Bởi vì, giữa các thớ thịt đều có
chứa một lượng mỡ. Do vậy, nếu có nhiều mỡ thì giữa các thớ thịt cũng có
nhiều mỡ làm cho thịt trở lên mềm, mất màu, thịt chóng bị ôi.
Theo Vũ Duy Giảng (1995), thức ăn rất quan trọngđối với khả năng
sinh trưởng của lợn, ví dụ: thiếu các axit amin quan trọng sẽ làm giảm tính
thèm ăn và khả năng sử dụng thức ăn, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất
trong cơ thể gia súc, dẫn đến giảm sự phát triển của gia súc nói chung và của
lợn nói riêng.
Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố
quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ thịt nạc, thịt
mỡ và tiêu tốn thức ăn của lợn thịt ( Nguyễn Nghi và Cs, 1995).
Theo cẩm nang chăn nuôi tập I (2002), ở giai đoạn khác nhau nhu cầu
dinh dưỡng của lợn cũng khác nhau.