Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất thịt của gà F1 (trống Mông x mái Lương Phượng) và F1 (trống Mông x mái Ai Cập) nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên - Pdf 72


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THU QUYÊN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SẢN
XUẤT THỊT CỦA GÀ F1 (TRỐNG MÔNG X MÁI AI CẬP) VÀ
F1(TRỐNG MÔNG X MÁI LƢƠNG PHƢỢNG) NUÔI BÁN
CHĂN THẢ TẠI THÁI NGUYÊN
L
L
U
U


N
NV
V
H
H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I



SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ F1 (TRỐNG MÔNG X MÁI AI
CẬP) VÀ F1(TRỐNG MÔNG X MÁI LƢƠNG PHƢỢNG)
NUÔI BÁN CHĂN THẢ TẠI THÁI NGUYÊN
L
L
U
U


N
NV
V
Ă
Ă
N
NT
T
H
H



Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I


P
P


những thế giống gà này còn nổi tiếng bởi lƣợng mỡ ít, thịt dai chắc thơm ngon phù
hợp với sở thích ẩm thực của ngƣời Việt Nam, tuy nhiên đây là giống gà có ý nghĩa
kinh tế không lớn lắm bởi năng suất sinh sản thấp, nếu để tự nhiên thì gà Mông khó
phát triển thành sản phẩm hàng hoá.
Để kết hợp những ƣu điểm của các giống gà trên tạo ra sản phẩm hàng hoá
gà da đen, thịt đen, xƣơng đen có năng suất và chất lƣợng, đáp ứng yêu cầu thực
tiễn đối với ngƣời chăn nuôi khu vực trung du, miền núi, chúng tôi tiến hành nghiên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
cứu đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất thịt của gà
F
1
(trống Mông x mái Lương Phượng) và F
1
(trống Mông x mái Ai Cập) nuôi
bán chăn thả tại Thái Nguyên”
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá đặc điểm ngoại hình của hai ổ hợp lai F
1
(trống Mông x mái Lƣơng
Phƣợng) và F
1
(trống Mông x mái Ai Cập)
- Đánh giá khả năng sản xuất và hiệu quả kinh tế của hai tổ hợp lai F
1
(trống Mông
x mái Lƣơng Phƣợng) và F
1
(trống Mông x mái Ai Cập)

một trong hai giống.
Năng suất vật nuôi phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là bản chất di truyền và ngoại
cảnh. Do vậy trong chăn nuôi có hai hƣớng chủ yếu để nâng cao năng suất vật nuôi là cải
tiến bản chất di truyền của vật nuôi và cải tiến phƣơng pháp chăn nuôi.
Bên cạnh việc chọn lọc, nhân giống thuần chủng, lai tạo là phƣơng pháp cải
tiến di truyền có hiệu quả cao và nhanh. Nhận thức điều này, từ lâu con ngƣời đã
chú trọng công tác lai tạo. Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995 [38] kể
từ những giống vật nuôi đầu tiên đƣợc tạo ra từ cuối thế kỷ XVIII, các giống mới
đều đƣợc hình thành bằng con đƣờng lai tạo và những giống gốc ban đầu ít nhiều
có pha máu giữa các giống khác nhau. Cho đến nay việc tạo ra sản phẩm nhƣ thịt,
sữa, trứng, lông...phần lớn đều đƣợc thông qua lai tạo và việc lai tạo cũng đã có
ảnh hƣởng tốt đến sản lƣợng và chất lƣợng sản phẩm. Các giống, dòng càng thuần
bao nhiêu thì con lai càng có ƣu thế lai cao bấy nhiêu (Trần Đình Miên, Nguyễn
Văn Thiện, 1995 [ 38 ])

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Trong lịch sử nghiên cứu về lai tạo, Đacuyn là ngƣời đầu tiên nêu lên lợi ích của
việc lai tạo, ông đã kết luận rằng lai là có lợi, tự giao là có hại đối với động vật.
Trong quá trình nghiên cứu di truyền, Mendel đã đƣa ra một nguyên tắc hoàn
toàn mới để nghiên cứu đó là phƣơng pháp lai, liên quan đến việc nghiên cứu đặc
điểm di truyền của những tính trạng và đặc tính riêng rẽ.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng, 1975 [36] cho rằng lai tạo nhằm mục
đích lay động tính bảo thủ sẵn có trong từng cá thể, từng dòng, từng giống, phát
huy những bản chất di truyền tốt của con lai tạo nên các tổ hợp lai mới có năng suất
cao hơn, hiệu quả chăn nuôi tốt hơn.
Lai tạo còn nhằm sử dụng hiện tƣợng sinh học quan trọng đó là ƣu thế lai,
làm cho sức sống của con vật, sức miễn dịch đối với bệnh tật và các tính trạng kinh
tế đƣợc nâng cao, đồng thời thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của các tổ hợp
lai, ƣu thế lai làm căn cứ cho việc chọn lọc giống gia súc (Lê Đình Lƣơng, Phan Cự

một cơ thể. Vì vậy, mà phải chọn các dòng gà có khả năng kết hợp tốt.
Trong công tác nhân giống thuần chủng, công tác chọn giống rất chặt chẽ,
đàn giống đƣợc chọn ra từ những cá thể có năng suất cao hơn hẳn năng suất bình
quân toàn đàn, nhƣng không phải tất cả các cá thể có năng suất cao đều có chất
lƣợng di truyền tốt. Vì thế, muốn nâng cao năng suất chất lƣợng thì ngƣời ta phải
thực hiện phƣơng pháp lai tạo. Nhƣng muốn đạt hiệu quả cao trong lai tạo thì chọn
giống phải đi theo một hƣớng nhất định là chọn lọc có định hƣớng, nếu không thì
sự phối hợp giữa các dòng sẽ dẫn đến kết quả năng suất và chất lƣợng con lai
không đạt nhƣ mong muốn. Do đó, muốn gia cầm lai có năng suất cao thì không thể
cho giao phối một cách ngẫu nhiên mà phải cho giao phối giữa các dòng đã đƣợc
qui định, những dòng này đã đƣợc kiểm tra chất lƣợng, năng suất theo một phƣơng
pháp chọn giống nhất định và đƣợc thực hiện nghiêm ngặt trong những cơ sở
giống.
Theo Hoàng Kim Loan, 1973 [23] gia cầm lai không những thể hiện đƣợc chất
lƣợng tổng hợp của các dòng thuần mà còn đạt hiệu quả của ƣu thế lai từ 5-20%. Có
thể nói đây là sự ƣu đãi của thiên nhiên mà con ngƣời có thể sử dụng tốt, nếu nắm
đƣợc quy luật của phƣơng pháp này và biết cách tổ chức sản xuất, sử dụng các gia cầm
lai giữa các dòng là một trong những vấn đề quan trọng nhất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng, 1975 [36] thì trên thế giới, phƣơng
pháp lai kinh tế đƣợc sử dụng rất nhiều, có những nƣớc 80% sản phẩm thịt là do lai kinh
tế. Ở Việt Nam đã nghiên cứu công thức lai giữa các tổ hợp lai nhƣ: gà Tam Hoàng với
gà Ri, gà Hồ, gà Mía với gà Tam Hoàng, gà Kabir với gà Ri, gà Rhode với gà
Ri...thƣờng con lai F
1
có khả năng cho thịt trứng cao hơn trung bình gà bố mẹ.
Trong công tác giống gia cầm, khi lai kinh tế ngƣời ta có thể dùng phƣơng
pháp lai đơn hoặc lai kép, nhƣng đôi khi cũng sử dụng phƣơng pháp lai ngƣợc.

1
, sau đó dùng con lai F
1
giao phối trở lại với một trong hai
giống xuất phát để tạo con lai F
2
. Tất cả con lai F
2
đều đƣợc sử dụng nuôi thƣơng
phẩm và không dùng để làm giống. Khi muốn củng cố, phát huy những đặc tính tốt
của một giống nào đó thì ngƣời ta thƣờng lai ngƣợc, vì con lai đời 2 mang 3/4 máu
của giống đó.
1.1.2. Cơ sở khoa học của ƣu thế lai
1.1.2.1. Lược sử và khái niệm về ưu thế lai
Hiện tƣợng ƣu thế lai đã đƣợc biết và vận dụng từ lâu. Điểu hình là việc tạo
con La, kết quả lai khác loài giữa con ngựa cái (Equus Caballus) và lừa đực (Equus
asinus). Con La nổi tiếng về sức khoẻ, sức dẻo dai và khả năng chịu nóng (Horn.P
1978 [81]), (Trần Đình Miên, 1994 [35]). Tuy nhiên việc nghiên cứu các hiện
tƣợng trên một cách có hệ thống mới bắt đầu từ hơn 200 năm nay.
Trong công tác giống, bên cạnh việc chọn lọc và nhân giống thuần chủng qua
nhiều đời để cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi, thì thông qua con đƣờng lai
tạo sẽ đem lại hiệu quả trong thời gian ngắn hơn. Ngày nay việc tạo ra các loại sản
phẩm phần lớn đều đƣợc thông qua lai tạo và việc lai tạo đã ảnh hƣởng tốt đến sản
lƣợng và chất lƣợng của sản phẩm (Trần Đình Miên, 1994 [35]).
Sự lai tạo đƣợc sử dụng rất nhiều trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhằm
khai thác thế mạnh của con lai. Bởi vì ƣu thế lai cho sản phẩm cao nên nó đuợc áp
dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bán công nghiệp ở các nƣớc đang
phát triển. Chính là lai giữa các giống khác nhau đã giúp cho việc quyết định chiến
lƣợc thích hợp về công tác giống.
Bouwman G.W, 2000 [74] cho rằng lợi ích to lớn của lai giống là xuất hiện

(AA = Aa > aa).
Theo Davenport (1908), Keeble và Pelow (1910), Jones (1917)
(Kushner.K.F, 1969 [20] ): nhờ tác dụng lâu dài của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc
nhân tạo gen trội thƣờng là gen có ích, đƣợc biểu hiện ra kiểu hình sinh vật. Biểu
hiện kiểu hình của con lai là do các gen qui định, các gen này chính là sự tổ hợp các
gen của bố mẹ. Các gen trội có thể biểu hiện thành kiểu hình, có thể ức chế các gen lặn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
tƣơng ứng tạo ra tác dụng lẫn nhau làm tăng các đặc điểm trội lên, các gen lặn bao giờ
cũng bị che lấp, còn gen trội khi lai sẽ có tác động mạnh hơn nên biểu hiện ra kiểu
hình có năng suất cao hơn.
Các tính trạng số lƣợng nhƣ khả năng sinh trƣởng, khả năng sinh sản...đƣợc
nhiều gen điều khiển nên rất hiếm các gen đồng hợp tử. Thế hệ con đƣợc tạo ra do
lai giữa 2 cá thể sẽ đƣợc biểu hiện do tất cả các gen trội trong đó (một nửa thuộc
gen trội đồng hợp tử của bố và một nửa gen trội của mẹ).
Khi cha mẹ xa nhau trong quan hệ huyết thống (khác dòng, khác giống) thì
xác xuất để mỗi cặp cha mẹ truyền cho con những gen trội khác nhau càng tăng lên,
từ đó dẫn đến ƣu thế lai càng tăng.
Những giải thích của thuyết trội vẫn chƣa thoả đáng đối với một số hiện tƣợng
khác nhƣ: bên cạnh các gen trội có lợi vẫn có những gen trội có hại, hay một hiện
tƣợng thực tế là khi tạp giao giữa các cá thể dị hợp tử với nhau để có con lai 4 dòng thì
chúng lại có ƣu thế lai cao hơn khi lai giữa 2 dòng.
- Thuyết siêu trội:
Thuyết này cho rằng sự tác động của các alen dị hợp tử Aa lớn hơn tác động
của các alen đồng hợp tử AA và aa (Aa>AA>aa).
Theo Kushner.K.F, 1969 [20] từ năm 1904 đã có quan niệm cho
rằng: cơ sở của ƣu thế lai chính ngay ở tính dị hợp tử theo nhiều yếu tố
di truyền.
Nhiều nhà khoa học cho rằng, sở dĩ có hiện tƣợng siêu trội là do hiệu ứng

cứu về khả năng phối hợp Lebedev.M.N., 1972 [21] cho rằng: muốn đạt ƣu thế lai siêu
trội thì phải cho giao phối giữa các dòng gà xuất phát khác nhau về kiểu gen nhƣng lại
phải có khả năng phối hợp với nhau tốt.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đƣờng, 1992 [37] cho biết mức độ biểu hiện của
ƣu thế lai cao hay thấp còn phụ thuộc vào sự tƣơng quan âm hay dƣơng giữa môi
trƣờng và kiểu di truyền.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Khi nghiên cứu về ƣu thế lai, nhiều nhà khoa học cho rằng ngoài quan niệm khả
năng kết hợp chung còn có khả năng kết hợp đặc biệt, khả năng này có đƣợc là do đặc
tính của dòng bố mẹ đƣợc chọn đã có từ trƣớc.
Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, 1998 [48] cho rằng ƣu thế lai là phần
chênh lệch hơn hoặc kém của đời lai so với trung bình bố mẹ, mức độ biểu thị biểu
hiện của ƣu thế lai đƣợc xác định theo công thức: H (%) =
XF1 -
XP1P2
x
100 Trong đó:
- XF1: Là trung bình đời con.
- XP1P2: Là trung bình đời bố mẹ
- H: Là mức độ biểu hiện của ƣu thế lai (%)

XP1P2

Theo Aggrwal.C.K và cộng sự, 1979 [71]; Horn.P và cộng sự, 1978 [81]
Ƣu thế lai của một số tính trạng chịu ảnh hƣởng của tuổi trong giai đoạn đầu và ảnh
hƣởng bởi chu kỳ đẻ. Trong giai đoạn sinh trƣởng đầu của gà thịt, ƣu thế lai đối với
thể trạng tăng từ 0 (mới nở) lên 2-10% (lúc giết thịt 6-10 tuần tuổi), ƣu thế lai với
sức sống từ 0-6%, năng suất trứng/mái từ 2-10%, tăng đáng kể ở chu kỳ 2 so với
chu kỳ đầu.
Tính thích nghi của gia cầm đối với điều kiện ngoại cảnh:
Tính thích nghi của gia cầm chính là sự phản ứng của cơ thể đối với các kích
thích trong cơ thể và ngoài môi trƣờng. Khả năng thích nghi của con vật là yếu tố
rất quan trọng giúp cho con vật sinh tồn và phát triển trong điều kiện sống mới. Di
truyền và điều kiện ngoại cảnh là hai yếu tố có tác động cơ bản quyết định năng
suất vật nuôi, có nghĩa là kiểu gen qui định một giá trị nào đó của cơ thể và môi
trƣờng gây ra sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hƣớng này hoặc hƣớng khác. Con
giống tốt đƣợc nuôi trong điều kiện phù hợp sẽ phát huy tối đa tiềm năng di truyền,
nhƣng nếu điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi sẽ ảnh hƣởng đến năng suất của
con giống. Ngƣợc lại không có con giống tốt thì yếu tố ngoại cảnh cũng không thể
nâng cao năng suất và chất lƣợng vật nuôi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Tính thích nghi của gia cầm có liên quan đến sự thay đổi di truyền, sinh lý,
tính thích nghi bao gồm:
+ Thích nghi về di truyền: Liên quan đến chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo.
Tính thích nghi di truyền đề cập đến các đặc tính di truyền, các đặc tính này giúp cho
quần thể động vật sinh tồn trong một môi trƣờng nhất định, nó liên quan đến sự tiến
hoá qua nhiều thế hệ hay là sự biến đổi để có đặc tính di truyền riêng biệt.
+ Thích nghi về sinh lý: Liên quan đến sự thay đổi của từng cá thể. Tính thích
nghi sinh lý liên quan đến đặc điểm về sinh lý học, giải phẫu học và đặc điểm của
con vật, giúp cho con vật củng cố sức khoẻ và nâng cao sức sống.
Thích nghi bao gồm cả khả năng phát triển và sự điều chỉnh mối quan hệ của

của các tế bào mô cơ.
Sự sinh trƣởng của con vật đƣợc tính từ khi trứng thụ tinh cho đến khi đã trƣởng
thành và đƣợc chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Đối
với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trƣởng thành.
Theo Johanson.L, 1972 [19] thì cƣờng độ phát triển qua giai đoạn bào thai
và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hƣởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật. Nhìn từ
khía cạnh giải phẫu sinh lý thì sự sinh trƣởng của các mô cơ diễn ra theo trình tự
nhƣ sau:
Hệ thống tiêu hoá, nội tiết hệ thống xƣơng Hệ thống cơ bắp
Mỡ.
Thực tế nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự
sinh trƣởng thức ăn dinh dƣỡng đƣợc dùng tối đa cho sự phát triển của xƣơng, mô
cơ, một phần rất ít dùng lƣu giữ cho cấu tạo của mỡ. Đến giai đoạn cuối của sự sinh
trƣởng nguồn dinh dƣỡng vẫn đƣợc sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ xƣơng
nhƣng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ
dinh dƣỡng để cấu tạo mỡ.
Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lƣợng cơ chiếm nhiều
nhất: 42-45% khối lƣợng cơ thể. Khối lƣợng cơ con trống luôn lớn hơn khối lƣợng
cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm). Giai đoạn 70 ngày tuổi
khối lƣợng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà mái đạt 467g (Ngô Giản
Luyện, 1994 [30] ).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Qua những nghiên cứu cho thấy cơ sở sinh trƣởng gồm hai quá trình: tế bào
sinh sản và tế bào phát triển. Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm nhƣ ngoại hình,
thể chất, sức sản suất đều đƣợc hoàn chỉnh dần trong suốt quá trình sinh trƣởng. Các
đặc tính này tuy là một sự tiếp tục thừa hƣởng các đặc tính di truyền của bố mẹ, nhƣng
hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trƣờng.
Khối lƣợng cơ thể thƣờng đƣợc theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là

khối lƣợng mà còn làm rõ về mặt chất lƣợng, sự sai khác giữa các dòng,
giống, giới tính.
Trần Long, 1994 [24] khi nghiên cứu đƣờng cong sinh trƣởng của các dòng
V1, V3, V5 trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy các dòng đều phát triển theo
đúng qui luật sinh học. Đƣờng cong sinh trƣởng của 3 dòng có sự khác nhau và
trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái cũng có sự khác nhau: sinh trƣởng
cao ở 7-8 tuần tuổi đối với gà trống và 6-7 tuần tuổi đối với gà mái.
1.1.3.2 . Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
Có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của gà nhƣ giống, giới tính,
tốc độ mọc lông, khối lƣợng bộ xƣơng, dinh dƣỡng và các điều kiện chăn nuôi, sức
khoẻ...
* Ảnh hƣởng của dòng giống:
Theo tài liệu tổng hợp của Chambers.J.R, 1988 [75] có rất nhiều gen ảnh
hƣởng tới sự sinh trƣởng và phát triển của cơ thể gà, có gen ảnh hƣởng tới sự phát
triển chung, có gen ảnh hƣởng tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hƣởng tới một vài
tính trạng riêng lẻ.
Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997 [39] khi nghiên cứu 3 giống gà AA, Avian và
BE88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lƣợng cơ thể của 3 giống khác nhau ở
49 ngày tuổi lần lƣợt là: 2501,09g, 2423,28g và 2305,14g.
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994 [18] thì sự sai khác về khối
lƣợng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hƣớng trứng
từ 13-38%.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
* Ảnh hƣởng của tính biệt và tốc độ mọc lông:
Tính biệt cũng có ảnh hƣởng rõ rệt tới khối lƣợng cơ thể: gà trống nặng cân

0
C; tuần thứ 3 là 22
0
C; tuần thứ 4 là 20
0
C. Theo
Lê Hồng Mận và cộng sự, 1993 [32] thì nhiệt độ tối ƣu chuồng nuôi với gà sau 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
tuần tuổi là 18-20
0
C. Nhiệt độ môi trƣờng cao ảnh hƣởng rất lớn đến nhu cầu năng
lƣợng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler. Do vậy, tiêu thụ thức ăn của
gà chịu sự chi phối nhiều của nhiệt độ môi trƣờng. Trong điều kiện nhiệt độ khác
nhau thì tiêu thụ thức ăn cũng khác nhau. Theo Herbert.G.J và cộng sự, 1983 [78]
thì khi nhiệt độ chuồng nuôi với gà sau 3 tuần tuổi thay đổi 1
0
C tiêu thụ năng lƣợng
của gà mái biến đổi tƣơng đƣơng 2 Kcal ME. Nhu cầu về năng lƣợng và các vật
chất dinh dƣỡng khác cũng bị thay đổi theo môi trƣờng. Trong điều kiện khí hậu
nƣớc ta thì gà broiler nuôi vụ hè cần phải tăng mức ME và CP cao hơn vụ xuân 10-
15% theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993 [26]
Thông thƣờng, khi nhiệt độ môi trƣờng cao, khả năng thu nhận thức ăn của
gia cầm giảm, chính vì vậy chăn nuôi gia cầm trong điều kiện khí hậu của nƣớc ta
phải tuỳ theo mùa vụ, căn cứ vào nhiệt độ từng giai đoạn mà điều chỉnh thức ăn và
kỹ thuật chăm sóc nuôi dƣỡng cho phù hợp.

* Ảnh hƣởng của ẩm độ và độ thông thoáng:
Ẩm độ là một trong những yếu tố ngoại cảnh có ảnh hƣởng lớn tới sinh trƣởng

nuôi nhất định (phƣơng thức chăn thả tự do, bán nuôi nhốt, nuôi nhốt trên đệm lót
dày, nuôi nhốt có sân chơi yêu cầu mật độ lần lƣợt: 0,1; 0,3; 0,35; 0,2m
2
/con...),
nếu nuôi quá thƣa thì lãng phí diện tích, song nếu nuôi quá dày thì ảnh hƣởng lớn
đến khả năng sinh trƣởng của gà. Bởi lẽ, khi mật độ nuôi cao thì chuồng nhanh bẩn,
lƣợng NH
3
, CO
2
, các loại vi sinh vật phát triển làm cho gà dễ nhiễm bệnh, độ đồng
đều kém, tỷ lệ loại thải cao ảnh hƣởng tới khả năng sinh trƣởng.
Nguyễn Hữu Cƣờng và Bùi Đức Lũng, 1996 [6] làm thí nghiệm trên gà broiler
BE11, V35, AV35 từ 1-49 ngày tuổi với sự khác nhau về mật độ nuôi nhốt, kết quả thí
nghiệm cho thấy: với gà BE11, V35 nuôi nhốt ở vụ hè và vụ đông có:
+ Tỷ lệ nuôi sống lô I mật độ 8 con/m
2
cho kết quả cao nhất đạt 97,5%, thấp
nhất ở lô II có mật độ 14 con/m
2
là 92,86%.
+ Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng ở lô I cho kết quả tốt hơn (2,05kg) so
với lô II (2,11kg).
+ Hiệu quả kinh tế/m
2
chuồng:
Lô I: mùa hè = +38.130đ Mùa đông = +32.500đ
Lô II: mùa hè =-62.060đ Mùa đông = +12.330đ
Từ đó tác giả khuyến cáo mùa hè mật độ tối ƣu là 8 con/m
2

1.1.5. Khả năng cho thịt
Khả năng cho thịt của gà broiler chính là khả năng tạo nên khối lƣợng hệ cơ ở
độ tuổi giết thịt đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Khả năng cho thịt của gà broiler đƣợc
tính trên 2 góc độ là năng suất thịt và chất lƣợng thịt.
1.1.5.1. Năng suất thịt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
Năng suất thịt có thể biểu thị bằng tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ các phần nạc, mỡ, da.
Thông thƣờng ở gà broiler tính tỷ lệ thịt đùi, tỷ lệ thịt ngực, tỷ lệ mỡ bụng.
Năng suất thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhƣ: giống, dòng, điều kiện
chăm sóc nuôi dƣỡng, tính biệt, vệ sinh thú y và phƣơng thức chăn nuôi.
Ngô Giản Luyện [30] khi nghiên cứu 3 dòng gà Hybro HV85, mổ khảo sát ở
42 ngày tuổi đã kết luận tỷ lệ thân thịt con trống V1>V5>V3 (P<0,05), con mái
V1>V5>V3 (P<0,001). Trong cùng một dòng, tỷ lệ thân thịt con trống lớn hơn con
mái từ 1-2%.
Chambers.J.R, 1988 [75] cho rằng giữa các dòng luôn có sự khác nhau di
truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần nhƣ thịt đùi, thịt ngực, cánh,
chân hay phần thịt ăn đƣợc.
Phạm Hiền Lƣơng, 1997[28] khi nghiên cứu một số tính năng sản xuất của
gà Tam Hoàng đều cho kết quả tỷ lệ thịt ngực của con mái cao hơn con trống.
Nghiên cứu của Cầm Ngọc Liên, 1997 [22] cho kết quả tỷ lệ thịt đùi của gà
trống cao hơn gà mái còn tỷ lệ thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống.
Năng suất thịt còn liên quan chặt chẽ đến khối lƣợng sống. Theo Ricard.F.H
và Rouvier, 1967 [84] thì mối tƣơng quan giữa khối lƣợng sống và khối lƣợng thịt
xẻ rất cao, thƣờng là 0,9. Còn tƣơng quan giữa khối lƣợng sống và khối lƣợng mỡ
bụng thấp hơn, thƣờng từ 0,2-0,5.
Nguyễn Thị Hải, 1999 [11] khi nghiên cứu năng suất thịt gà Kabir đã chỉ ra
rằng tỷ lệ thịt ngực gà mái cao hơn gà trống, nhƣng tỷ lệ thịt đùi gà trống lại cao
hơn gà mái.

gia cầm khoẻ mạnh thì khả năng đáp ứng miễn dịch cao có nghĩa là sức sống và khả
năng kháng bệnh tốt, đây là yếu tố quan trọng giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả cao.
Theo tài liệu của Ngô Giản Luyện, 1994 [30] mối liên quan của chỉ tiêu sinh
lý, sinh hoá máu đối với sự sống và năng suất đƣợc Kotris và cộng sự tại viện thú y
Matxcova (1988) khi nghiên cứu xác định số lƣợng bạch cầu trong máu gà Hybro
cho thấy: những mái có số lƣợng bạch cầu cao ở độ tuổi 60 và 110 ngày thì tƣơng
ứng với sức sống và sản lƣợng trứng cao.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
Thông thƣờng ngƣời ta xác định tỷ lệ nuôi sống theo các giai đoạn nuôi
dƣỡng khác nhau, gà con từ 0-56 ngày hoặc 63 ngày; gà dò từ 57 hoặc 64 ngày đến
119 ngày; gà hậu bị từ 120 đến 161 ngày và gà đẻ từ 162 đến 252 ngày hoặc hết
448 ngày.
Theo Gavora.J.S, 1990 [80]). khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm cho
biết: sức sống đƣợc thể hiện ở thể chất và đƣợc xác định trƣớc hết bởi khả năng có
tính di truyền ở cơ thể động vật chống lại những ảnh hƣởng không thuận lợi của
môi trƣờng cũng nhƣ ảnh hƣởng khác của dịch bệnh.
Trong công tác lai tạo, khi dùng những dòng, giống có sức sống cao thì con
lai sẽ thừa hƣởng có tính chất trội khả năng này, nghiên cứu về vấn đề đó Fairfull,
1990 [79] cho biết: ƣu thế lai về sức sống là rất cao, dao động từ 9-24%. Sức sống
cao còn phụ thuộc vào yếu tố mầm bệnh hoặc các dạng vi sinh vật gây bệnh
khác.v.v...
Robertson.A và Lerner.I.M, 1949 [85] khẳng định: Hệ số di truyền về tỷ lệ
nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào dòng giống và giới tính, ngoài ra còn
phụ thuộc rất lớn vào yếu tố môi trƣờng. Một trong những biện pháp nâng cao sức
sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm đó là sử dụng rộng rãi gia cầm lai.
Theo Horn. P, 1978 [81] cho rằng con lai giữa 3 dòng gà Plymouth có ƣu thế
lai so với dòng thuần về tỷ lệ nuôi sống.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status