Báo cáo nghiên cứu khoa học đề tài " NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH, TẬP TÍNH SINH HOẠT, KHẢ NĂNG VÀ TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA LỢN RỪNG THÁI LAN NHẬP NỘI NUÔI Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM " potx - Pdf 22



101
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 67, 2011

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH, TẬP TÍNH SINH HOẠT, KHẢ
NĂNG VÀ TẬP TÍNH SINH SẢN CỦA LỢN RỪNG THÁI LAN NHẬP NỘI
NUÔI Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM
Lê Đình Phùng, Hà Thị Nguyệt
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định một số đặc điểm về ngoại hình, tập tính sinh
hoạt, khả năng và tập tính sinh sản của lợn rừng Thái Lan nhập nội. Nghiên cứu được tiến hành
trên 362 lợn (34 đực giống, 136 nái và 192 lợn con) tại cơ sở chăn nuôi Trung Sơn Đà Nẵng. Số
lợn này được bố trí vào 34 ô chuồng, mỗi ô gồm có 1 lợn đực 4 lợn nái và con của chúng. Lợn
nghiên cứu được nuôi theo hình thức bán hoang dã. Lợn rừng Thái Lan có đầu nhỏ, thon, dài;
hai bên má có hai bạc má; tai nhỏ, vểnh và hướng về phía trước. Lợn rừng có 42 cái răng,
trong đó 4 răng nanh rất phát triển, đặc biệt là ở con đực. Màu lông trên cơ thể lợn rừng không
đồng nhất; lông bờm ở gáy tốt và cứng, ở con đực phát triển hơn ở con cái, một gốc chân lông
có 3 ngọn chụm lại thành cụm. Lợn rừng mới sinh toàn thân có 6 sọc chạy dọc hai bên mình từ
hốc tai đến khấu đuôi, sau 5 - 6 tháng tuổi các sọc này mất hẳn và toàn thân phủ màu đen hoặc
nâu đậm. Lợn rừng thường đào bới, ủi đất để tìm kiếm thức ăn. Lợn ưa sống cùng bầy đàn. Khả
năng tự vệ và phòng vệ của lợn rừng rất cao. Lợn rừng đẻ tự nhiên không cần sự can thiệp của
con người, là loài cam con, nuôi con khéo. Hầu hết lợn mẹ không có biểu hiện sát nhau và
100% lợn mẹ ăn nhau sau khi đẻ. Năng suất sinh sản của lợn rừng Thái lan tương đối thấp. Lợn
rừng Thái Lan có số con sơ sinh 5,87 con/lứa; số lợn con còn sống đến 24 giờ sau khi sinh 5,2
con/lứa, trong đó lợn đực chiếm tỉ lệ 56,7%; khối lượng sơ sinh lợn con đạt 0,37 kg/con; số con
cai sữa đạt 4,43 con/lứa; khối lượng cai sữa lúc 120 ngày tuổi đạt 13,83 kg; khoảng cách giữa
các lứa đẻ là 229,3 ngày.
Từ khóa: Lợn rừng, Thái Lan, Ngoại hình, Tập tính, Sinh sản.


nuôi theo hình thức bán hoang dã, tại trang trại lợn rừng của công ty cổ phần Trung Sơn,
Đà Nẵng. Số lợn này được bố trí nuôi vào 34 ô chuồng. Mỗi ô chuồng gồm có: 1 lợn
đực giống, 4 lợn nái và lợn con của chúng. Diện tích các ô chuồng rộng 500m
2
, bốn
phía được bao bọc bằng thép B40, cao 2m. Trong khuôn viên mỗi ô chuồng được bố trí
hai chuồng lợn đẻ, hai máng ăn, hệ thống ống dẫn nước và có trồng nhiều cây xanh.
Chuồng lợn đẻ có kích thước 2m x 2m x 1,5m. Hai máng ăn được xây bằng ximăng;
trong đó, một máng ăn dành cho lợn con tập ăn và lợn choai với kích thước 100cm x
20cm x 15cm được bao bọc bằng thép B40, máng ăn còn lại dành cho lợn trưởng thành
với kích thước 200cm x 20cm x 15cm. Lợn được cho ăn ngày 3 bữa. Vào lúc 7 giờ sáng lợn được cho ăn cám gạo. Vào
lúc 14 giờ chiều lợn được cho ăn các loại phụ phế phẩm như bèo thân chuối, rau muống,
củ sắn và vào lúc 17 giờ lợn được cho ăn bổ sung thêm cám. Lượng cám gạo cho mỗi

Hình 1. Lợn con theo mẹ

Hình 2. Lợn hậu bị


dưới có . Răng nanh của con đực phát triển hơn của con cái và chìa ra ngoài, đó là
vũ khí tự vệ của chúng. Hai răng nanh hàm dưới cong lên, nhọn và có màu trắng ngà.
Hai mắt to tròn, lồi. Tai nhỏ, vểnh, mỏng và hướng về phía trước không cụp xuống như
đối với lợn nhà. Không có sự khác nhau ở phần đầu của lợn đực và lợn cái khi chúng
còn nhỏ. Khi trưởng thành lợn cái có đầu và mõm dài hơn so với lợn đực; màu lông
phần đầu của lợn cái có màu nâu, nâu đất hoặc màu hơi bạc trong khi đó ở lợn đực hoàn
toàn là màu đen.
Phần Mình: Phần mình của lợn con phụ thuộc nhiều vào lợn mẹ của chúng,
những lợn nái sữa tốt, khéo nuôi con thì con tròn mình, trường hợp ngược lại con con
ốm. Khi lợn trưởng thành (5 - 6 tháng tuổi) thì mình thon nhỏ dần về phía đuôi, hơi gầy,
bụng gọn, đòn dài, lưng thẳng. Lợn đực có hình dáng và kích thước lớn nhưng bụng gọn
hơn so với lợn cái. Phần mình lợn đực có bờm chạy từ đỉnh đầu đến giữa sống lưng,
lông bờm dài và dựng thẳng. Đặc biệt khi lợn gặp kẻ thù hay bị hoảng sợ thì bờm dựng
đứng hung dữ để uy hiếp kẻ thù. Lợn cái cũng có bờm nhưng không dài, dựng thẳng và
rậm như ở lợn đực.
Đặc điểm của bốn chân: Bốn chân của lợn rừng dài, nhỏ, hai chân sau dài hơn
hai chân trước. Móng chân cao, khi đứng móng guốc nhỏ hướng về phía trước, hai 104
móng treo không chạm đất, hai móng tiếp đất chụm lại với nhau, nhọn, chắc, có màu
đen. Vì vậy, lợn rừng di chuyển rất linh hoạt, nhanh nhẹn và nhẹ nhàng, ít tạo ra tiếng
động.
Bầu vú: Qua khảo sát 136 lợn nái mẹ thì có 132 nái mẹ bầu vú có 10 vú, chiếm
97,06%; chỉ 4 con có 8 vú, chiếm 2,94%. Vú được chia làm 2 hàng đều nhau, rất ít vú
kẽ và vú lép (2 trong 132 lợn nái có vú kẽ). Vú lép thường gặp ở những lợn nái đã đẻ
nhiều lứa, chủ yếu gặp ở những vú hàng sau.
Đuôi: Lợn rừng Thái Lan con có đuôi nhỏ, thon, không có lông và chưa có chùm
lông hình rể quạt ở cuối đuôi. Khi trưởng thành, đuôi của lợn rừng dài tới gối của chân
sau. Cuối đuôi có chùm lông hình rể quạt.

Tập tính uống nước: Lợn con rất thích liếm láp những nơi ẩm ướt. Khi trưởng
thành chúng lại thích uống nước tự do. Lợn rừng không thích uống nước vòi như lợn
nhà.
Tập tính tự vệ và phòng vệ: Lợn con phản xạ rất nhanh khi có tiếng động lạ,
tiếng khua mạnh. Khi có con vật lạ tấn công thì chúng chạy nhanh về phía mẹ và những
con lớn trong đàn đồng thời tập trung lại thành cụm và thường quay đầu hướng về phía
kẻ thù để quan sát. Lợn choai và lợn bố mẹ khi nghe có tiếng động lạ, có con vật lạ hoặc
người tấn công thì cả đàn chạy loạn lên, túm tụm lại với nhau và hướng đầu ra phía đối
phương để quan sát và phòng thủ (tự vệ tập thể). Lợn rừng khi thả vào đàn lạ thường bị
các con khác trong đàn đuổi cắn.
Tập tính bầy đàn-gia đình: Lợn rừng rất thích sống theo bầy đàn đông, chúng
thường quây quần, nô đùa cùng nhau. Khi lợn còn nhỏ, chúng thích sống theo mẹ.
Trong thời kỳ sinh sản, khi lợn mẹ đẻ nếu không kịp thời nhốt lợn con vào chuồng đẻ
thì lập tức bị các con khác trong đàn cắn chết. Vì vậy, người chăn nuôi cần phải thường
xuyên quan sát để kịp thời phát hiện và nhốt riêng con mẹ khi chúng có những biểu hiện
sắp đẻ. Khi lợn con đã cứng cáp mới thả ra để gia nhập vào đàn. Vào những ngày trời
mưa, lợn rừng thường nằm quây quần chồng chất lên nhau, những con lớn nằm phía
dưới, con con leo lên nằm phía trên con lớn. Lợn con càng nhỏ thì nằm phía trên tạo
thành thế giống như hình nóc chùa. Những ngày trời nắng ấm lợn thích ra nắng để sưởi
ấm và đùa nghịch, đặc biệt là lợn con.
Tập tính thải phân và nước tiểu: Lợn rừng thải phân, nước tiểu tự do. Chúng
thường tìm những nơi ẩm ướt và mát mẻ để thải phân và nước tiểu.
3.3. Tập tính và khả năng sinh sản của lợn rừng Thái Lan nhập nội
Hoạt động chửa đẻ: Vào những ngày sắp đẻ, lợn rừng thường có các biểu hiện:
bụng sà, vú căng, âm hộ sưng, đi lại khó khăn, trạng thái bồn chồn. Lợn mẹ hung dữ
hơn ngày thường, chúng bắt đầu tha rác, cỏ, cây để làm ổ đẻ. Lợn thường làm ổ ở những
nơi vắng vẻ như góc chuồng. Hầu như không có hiện tượng sát nhau nào ở lợn rừng,
100% lợn mẹ ăn hết nhau thai của chúng. Sau khi đẻ, lợn mẹ trở nên rất hung dữ và sẵn
sàng tấn công các động vật tiến lại gần, kể cả người chăm sóc và thú y viên. Có một số
ít trường hợp lợn mẹ cắn chết con sau khi sinh.

100
-
Khối lượng con sơ sinh (kg/con)
42
0,37
0,33
0,47
0,03
Số con cai sữa (con/lứa)
149
4,43
0
9
2,03
Thời gian cai sữa (ngày)
149
120
100
129
5,3
Khối lượng cai sữa (kg/con)
32
13,8
12,8
14,9
0,6
Khoảng cách lứa đẻ (ngày)
136
229,3
157

107
4. Kết luận và đề nghị
Lợn rừng Thái Lan có đầu nhỏ, thon, dài; hai bên má có hai bạc má; tai nhỏ,
vểnh và hướng về phía trước. Lợn rừng có 42 cái răng, trong đó 4 răng nanh rất phát
triển, đặc biệt là ở con đực. Màu lông trên cơ thể lợn rừng không đồng nhất; lông bờm ở
gáy tốt và cứng, ở con đực phát triển hơn ở con cái, một gốc chân lông có 3 ngọn chụm
lại thành cụm. Lợn rừng mới sinh toàn thân có 6 sọc chạy dọc hai bên mình từ hốc tai
đến khấu đuôi, sau 5 - 6 tháng tuổi các sọc này mất hẳn và toàn thân phủ màu đen hoặc
nâu đậm. Lợn rừng thường đào bới, ủi đất để tìm kiếm thức ăn; ưa sống cùng bầy đàn.
Khả năng tự vệ và phòng vệ của lợn rừng rất cao.
Lợn rừng đẻ tự nhiên không cần sự can thiệp của con người, là loài ham con,
nuôi con khéo. Hầu hết lợn mẹ không có biểu hiện sát nhau và 100% lợn mẹ ăn nhau
sau khi đẻ. Năng suất sinh sản của lợn rừng Thái lan tương đối thấp. Lợn rừng Thái Lan
có số con sơ sinh 5,87 con/lứa; số lợn con còn sống đến 24 giờ sau khi sinh 5,2 con/lứa,
trong đó lợn đực chiếm tỉ lệ 56,7%; khối lượng sơ sinh lợn con đạt 0,37 kg/con; số con
cai sữa 4,43 con/lứa; khối lượng cai sữa lúc 120 ngày tuổi đạt 13,83 kg; khoảng cách
giữa các lứa đẻ là 229,3 ngày.
Cần tiếp tục nghiên cứu khả năng sinh trưởng của lợn rừng Thái Lan nhập nội
trong các hệ thống chăm sóc nuôi dưỡng khác nhau, cũng như nghiên cứu quan hệ di
truyền giữa lợn rừng Thái lan nhập nội với các nhóm lợn rừng cũng như lợn địa phương
ở Việt Nam như Kiềng Sắt ở Quảng Ngãi, Elic ở Thừa Thiên Huế, Vân Pa ở Quảng trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bourdon, R. M., Understanding Animal Breeding. Colorado State University Prentice
Hall Upper Saddle River, NJ 07458, 1997.
[2]. GenStat VSN International Ltd., Genstat user's guide. 7th version, VSN International,
Wilkinson House, Jordan Hill Road, Oxford, UK, 2004.
[3]. Lê Viết Ly và cs, Chuyên khảo bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam, Nxb. Nông
nghiệp, , 1999.
[4]. Tăng Xuân Lưu, Trần Thị Loan, Võ Văn Sự, Nguyễn Văn Thành và Trịnh Phú Ngọc,
Một số đặc điểm sinh học của đàn lợn Rừng Thái Lan nhập nội và lợn Rừng Việt Nam,

reproductive capacity with litter size at birth of 5,87 piglets/litter; litter size at 24 hours after
birth of 5,2 piglets/litter; body weight at birth of 0,37 kg/piglet; litter size at weaning of 4,43
piglets/litter; body weight at 120 day weaning of 13,83 kg; calving interval of about 229,3 days.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status