Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh quai bị ở trẻ em và các yếu tố liên quan tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị năm 2013-2015 - Pdf 41

1
B GIO DC V O TO B Y T
I HC HU
TRNG I HC Y DC

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh quai bị ở trẻ em
và các yếu tố liên quan tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
năm 2013-2015

LUN VN THC S Y HC

HU -2016
T VN


2

Quai bị (tiếng Anh: Mumps) là một bệnh toàn thân do vi-rút gây ra, biểu
hiện bằng sưng một hay nhiều tuyến nước bọt, thường gặp nhất là các tuyến
mang tai. Khoảng 1/3 các trường hợp nhiễm bệnh không gây nên các triệu
chứng sưng tuyến nước bọt rõ ràng trên lâm sàng. Thời kỳ lây truyền mạnh nhất
là 2 ngày trước khi có sưng tuyến mang tai và 5 ngày sau khi xuất hiện triệu
chứng này. Bệnh lây trực tiếp bằng đường hô hấp, tiếp xúc khi gần bệnh nhân
nói, ho hoặc hắt hơi hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên, đặc biệt
những người sống trong các tập thể như trường mẫu giáo, trường học nhất là các
trường nội trú, bán trú, trại tập trung, trại lính, trại trẻ mồ côi. Kết quả nghiên
cứu của Tạ Văn Trầm tại Tiền Giang cho thấy rằng, mắc quai bị ở tuổi 11 - 15
chiếm 91%,[ traam]. Bệnh tuy lành tính nhưng có khả năng gây biến chứng
viêm tinh hoàn ở nam giới hoặc viêm buồng trứng ở nữ giới và có thể dẫn đến
vô sinh, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng sống. Theo nghiên cứu của Tạ Văn
Trầm tại Tiền Giang trong số các trường hợp có viêm tinh hoàn thì viêm tinh

pháp tăng cường truyền thông, góp phần quan trọng trong hoạch định các chiến
lược về kiểm soát dịch bệnh và tiêm phòng vắc-xin quai bị trong tương lai nhằm
đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt là đối tượng trẻ em,
nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học
bệnh quai bị ở trẻ em và các yếu tố liên quan tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng
Trị năm 2013-2015”. Nhằm đạt được 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh quai bị tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị
năm 2013-2015
2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến bệnh quai bị tại địa bàn nghiên cứu.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử bệnh quai bị


4
Vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, Hippocrates đã mô tả lần đầu tiên
về bệnh quai bị với các triệu chứng: sưng mặt, cổ, họng và đôi khi sưng tinh
hoàn ở nam giới.
Dịch bệnh quai bị khá phổ biến vào thế kỷ thứ 18 và thế kỷ thứ 19. Nó
xảy ra khắp nơi: doanh trại quân đội, nhà tù, trường học nội trú và trên các tàu đi
biển. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, quân đội Pháp đã bị tấn công bởi bệnh
quai bị.
Năm 1700, Haminton miêu tả về trường hợp viêm tinh hoàn do quai bị.
Năm 1934 Johnson và Goodpasture đã tìm thấy vi-rút quai bị trong tuyến
nước bọt bệnh nhân.
Năm 1950 Ender và cộng sự chế thành công vắc-xin chết.
Năm 1966 Buynak và Halleman đã chế thành công vắc-xin sống giảm độc
lực [21],[24]
Năm 1971, vắc-xin 3 trong 1 Sởi - quai bị - rubella (Measles- MumpsRubella -MMR) được phát minh, và đưa vào sử dụng năm 1977. Việc sử dụng
vắc-xin MMR đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh. Nhưng sau đó dịch lại xảy

mắc/100.00

1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004

hợp mắc
24.626
30.454
23.648
13.244
13.461
13.545
20.232
22.846
30.265

0 dân
32,80
40,38
30,78
17,35
17,34
17,37


1.2. BỆNH QUAI BỊ
Bệnh quai bị (dân gian còn gọi là Chàm bàm) là bệnh nhiễm vi-rút toàn
thân, cấp tính. Đặc trưng bởi viêm tuyến mang tai một hoặc hai bên. Có thể kèm
theo viêm tuyến nước bọt khác, viêm màng não, viêm tụy, viêm cơ quan sinh
dục. Bệnh thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Tác nhân gây bệnh quai bị là vi-rút quai bị Paramyxoviridae. Vi-rút quai bị
xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp. Trong suốt thời kỳ ủ bệnh, vi-rút phát
triển nhân lên trong biểu mô đường hô hấp trên và các mô bạch huyết vùng cổ.
Ở giai đoạn xâm nhập, vi-rút theo đường máu đến các cơ quan như màng não,
tuyến sinh dục, tụy, tuyến ức, gan, tim, thận, thần kinh trung ương và tuyến


6
nước bọt. Ở giai đoạn toàn phát, vi-rút được cố định ở các cơ quan tuyến ngoại
tiết và cơ quan thần kinh. Vi-rút được thải chủ yếu qua nước bọt, nhưng cũng
được thải qua nước tiểu trong những ngày đầu tiên của bệnh.[10]
Nguồn truyền nhiễm: Bao gồm người bệnh, người nhiễm trùng không triệu
chứng. Không có tình trạng người nhiễm vi-rút mạn tính. Loài người là nguồn
truyền nhiễm vi -rút quai bị duy nhất, ở cuối thời kỳ ủ bệnh và trong 4-5 ngày
sưng tuyến mang tai [14]
Trên thực tế, người bệnh là nguồn truyền nhiễm duy nhất, không có người
khỏi và người lành mang vi-rút trong bệnh quai bị.[10]
Tác nhân

Vật chủ

Môi trường

Có khả năng và xác suất tác động phối hợp

quai bị gây miễn dịch bền vững khi đã mắc bệnh dù sưng 1 hay 2 bên tuyến
mang tai nên ít khi bị quai bị lần hai.[ 10], [ 14 ].
Các nghiên cứu gây nhiễm nhân tạo và dịch tễ học đã cho thấy thời gian
ủ bệnh kể từ khi bắt đầu phơi nhiễm đến khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên
khoảng 16-18 ngày.[13],[14 ]. Vi-rút quai bị có mặt trong nước bọt của người
bệnh vài ngày trước khi bắt đầu xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và tồn lưu
trong nước bọt khoảng 5 ngày. Vi-rút quai bị cũng có thể được phát hiện trong
nước tiểu của người bệnh vài tuần sau khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện.
Bệnh khởi phát trung bình 24 - 36 giờ. Các dấu hiệu toàn thân mệt mỏi,
chán ăn, đau nhức mình mẩy, sốt nhẹ, viêm họng, đau tai kéo dài vài ngày trước


8
khi sưng tuyến mang tai. Triệu chứng phổ biến nhất trong bệnh quai bị là sưng
tuyến nước bọt, xảy ra khoảng 95% các trường hợp có triệu chứng. Thường đột
ngột sau thời kỳ khởi phát, tuyến mang tai sưng đạt tối đa sau 1 - 3 ngày và
giảm dần sau 7 - 10 ngày. Đầu tiên chỉ có sưng một bên, sau đó có thể sưng
tuyến bên kia. Có khoảng 90% các trường hợp viêm tuyến mang tai cả hai bên.
Tuyến mang tai sưng từ tai đến dưới hàm và lan ra tận gò má, mất rảnh trước và
sau tai. Vùng da trên tuyến không nóng và đỏ như trong viêm tuyến mang tai
nhiễm trùng, có tính đàn hồi và không để lại đấu ấn ngón tay. Bệnh nhân có cảm
giác đau tai, nhất là khi ăn hoặc uống các thức ăn có vị chua do nghẽn ống
Wharton hoặc Stenon. Khám họng thấy miệng các lỗ ống tuyến nước bọt có thể
trở nên đỏ, phù nề và có những điểm xuất huyết nhỏ. Bên cạnh tình trạng viêm
tuyến nước bọt thì viêm tuyến hàm dưới lan tỏa và tuyến dưới lưỡi cũng thường
xuất hiện. Viêm lan tỏa ở các tuyến này thường xảy ra tối đa trong vòng 48 giờ
và đây cũng là thời điểm triệu chứng đau nổi bật nhất [ 1]. Sốt ở mức độ vừa và
thường xuất hiện ngay khi khởi phát bệnh và giảm sau vài ngày. Sau khi tuyến
mang tai sưng to đạt đỉnh điểm, đau và sốt bắt đầu giảm dần. Tuyến trở về kích
thước bình thường trong vòng 1 tuần.

tuyến mang tai, có khi trước 1 tuần hoặc sau sưng tuyến mang tai 2 tuần, hoặc
xuất hiện đơn độc không kèm viêm tuyến mang tai. Các triệu chứng lâm sàng
giảm dần sau 3-10 ngày. Tuy nhiên những biến đổi bất thưởng của dịch não tủy
có thể kéo dài đến 1 tháng. Bệnh thường hồi phục hoàn toàn không để lại di
chứng. Các nghiên cứu cũng cho thấy có khoảng 50% trong số những người
viêm màng não do quai bị không có biểu hiện viêm tuyến nước bọt [ 14]. Có 2
biểu hiện viêm não là viêm não tiên phát do chính vi-rút tấn công vào các
neuron thường xảy ra cùng lúc với viêm tuyến mang tai và viêm não thứ phát
liên quan đến đáp ứng miễn dịch của ký chủ, thường xảy ra 1-2 tuần sau khởi
phát viêm tuyến mang tai. Các dấu hiệu thần kinh và sốt có thể giảm sau 1-2


10
tuần, nhưng có thể để lại di chứng vận động, tâm thần, động kinh hoặc co giật,
tử vong 1,4% trường hợp.
Nhồi máu phổi là tình trạng một vùng phổi bị thiếu máu nuôi dưỡng, có
thể tiến đến hoại tử mô phổi. Nhồi máu phổi là biến chứng có thể xảy ra sau
viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến.
Điếc thoáng qua chiếm 4,4% trường hợp quai bị, điếc vĩnh viễn 1 bên gặp
1/20.000 trường hợp, xuất hiện đột ngột hoặc từ từ thường kèm theo chóng mặt.
Các biểu hiện thần kinh khác hiếm gặp hơn, gồm liệt mặt, viêm dây thần
kinh số VIII, rối loạn thị giác, mù, thất điều thiểu não, viêm tủy cắt ngang, hội
chứng Guillain Barre, hẹp cống não, não úng thủy.
Viêm tụy có thể gặp viêm cả hệ thống nội và ngoại tiết, nếu tụy bị teo có
thể dẫn đến đái tháo đường. Có tỷ lệ 3% -7%, là một biểu hiện nặng của quai
bị. Xuất hiện vào ngày thứ 3 -7 sau sưng tuyến mang tai. Triệu chứng: gồm sốt
39-40 độ C, buồn nôn, nôn mửa, đau thượng bị, đau bụng nhiều, có khi tụt huyết
áp. Phần lớn trường hợp thường hồi phục hoàn toàn sau 1 tuần. Hiếm gặp biến
chứng sốc hoặc nang giả tụy thứ phát.
Bệnh quai bị ở phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy

* Lâm sàng:
+ Đặc trưng là sưng tuyến mang tai, có thể ở một bên hoặc cả 2 bên.
+ Tuyến mang tai sưng làm cho góc hàm không thể sờ nắn được, điều này
giúp phân biệt với bệnh hạch bạch huyết vùng cổ hay hàm dưới.
+ Sưng tuyến mang tai thường kéo dài trong khoảng từ 7 – 10 ngày.
+ Hai tuyến mang tai có thể cùng lúc sưng đau, nhưng cũng có thể chỉ một
trong hai tuyến. Trong trường hợp sưng một tuyến thì khi tuyến này xẹp xuống,
tuyến còn lại sẽ bắt đầu sưng lên.
* Dịch tễ: Tuổi, mùa và vùng lưu hành bệnh, nhiều trẻ mắc trong cùng 1
thời gian, có tiếp xúc bệnh nhân quai bị trước đó…
Ở tuyến tỉnh, trung ương: dựa vào lâm sàng và dịch tễ và xét nghiệm. Cần
xét nghiệm khi có những biến chứng như viêm màng não. Lúc đó người ta phân


12
lập vi rút từ nước bọt hay từ não tủy và xét nghiệm máu ở thời kỳ đầu của bệnh
và trong thời kỳ hồi phục để xác định sự tăng dần của kháng thể đặc hiệu.
1.2.8. Chẩn đoán phân biệt
1.2.8.1 Trường hợp có sưng tuyến mang tai, cần phân biệt với viêm tuyến
mang tai
Viêm tuyến mang tai do vi-rút coxackie, vi rút cúm và á cúm dựa vào nuôi
cấy và huyết thanh học. Viêm tuyến mang tai do vi khuẩn staphylococcus
aureus, vi khuẩn gram âm, liên cầu dựa vào tuyến mang tai sưng to, cứng chắc,
rất đau khi sờ vào. Da trên tuyến đỏ, có mủ chảy ra từ lỗ ống stenon và thường
gặp trên một số cơ địa như trẻ sinh non, người suy dinh dưỡng, bệnh nhân giai
đoạn hậu phẩu. Viêm hạch bạch huyết góc hàm, hay tắc ống dẫn tuyến do sỏi.
1.2.8. 2. Trường hợp viêm tinh hoàn
Cần phân biệt với viêm tinh hoàn do một số nguyên nhân hay gặp khác như
lậu, lao, Chlamydia, Brucellose…hoặc xoắn tinh hoàn.
1.2.9. Điều trị:

có tỷ lệ mắc cao hơn trong năm. [11]. Kết quả điều tra số bệnh nhân nhập viện
để điều trị cũng cho thấy, trong 5 năm 2000-2004, có 73 ca tại Thái Bình và 44
ca tại Quảng Nam, thì nghiên cứu dịch tễ theo mùa cho thấy bệnh xảy ra quanh
năm đối với tỉnh Quảng Nam, tuy nhiên bệnh lại tập trung cao vào các tháng
mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau tại tỉnh Thái Bình. Những tháng mùa
hè, bệnh giảm đáng kể. Sự khác biệt này có thể do điều kiện vi khí hậu khác
nhau từng khu vực. Quảng Nam là tỉnh miền Trung có khí hậu cận nhiệt đới,
nhiệt độ trung bình hàng năm cao hơn so với khu vực miền Bắc và không có 2
mùa rõ rệt. Do vậy sự lưu hành của bệnh cũng thấp hơn.
Bệnh được xác định lưu hành rộng trên toàn thế giới, tỷ lệ mắc cao ở
những vùng dân cư đông đúc, đời sống kém, vùng khí hậu mát lạnh.[11]. Theo
nghiên cứu của Nguyễn Phương Thanh và CS tại một số địa phương phía Bắc
Việt Nam Trong cùng 1 tỉnh đồng bằng ở một huyện có điều kiện kinh tế tốt,


14
gắn với đường quốc lộ lớn, tỷ lệ nhiễm virus quai bị cao hơn rõ rệt so với huyện
có điều kiện kinh tế còn khó khăn, nằm ở vùng sâu vùng xa, tuy nhiên không có
sự khác biệt về tỷ lệ giữa hai nơi này ở miền núi. [13]. Bệnh gây nên nhiều vụ
dịch đối với lứa tuổi trẻ em, thanh thiếu niên, những nơi tập trung đông người
như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, trại mồ côi, nhà tù, ký túc xá sinh viên… và
lây cho những người trong gia đình . Các vụ dịch quai bị vẫn tiếp tục xảy ra
ngay ở cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển, đang phát triển và kém phát
triển thậm chí ở những quần thể đã được tiêm phòng vắc-xin quai bị [13 ],[14 ].
Bệnh lây ở cuối thời gian ủ bệnh từ 7 ngày trước khi bệnh khởi phát và lây
chỉ trong khoảng 7 ngày kể từ ngày đầu mắc bệnh, mặc dù 2 tuần sau đó vẫn còn
có thể tìm thấy vi-rút ở người bệnh. Thời điểm lây mạnh nhất là 1-2 ngày trước
khi có triệu chứng. [1];[13]
Bệnh lây qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp với các giọt chất tiết nhỏ
vùng họng, mũi khi ho, hắt hơi, dùng chung đồ dùng, lây truyền gián tiếp qua

khác.
- Một số người lớn được coi là có nguy cơ cao bị bệnh quai bị, bao gồm cả
sinh viên đại học và nhân viên chăm sóc sức khỏe…
- Người nhiễm bệnh không gây nên các triệu chứng sưng tuyến nước bọt rõ
ràng trên lâm sàng. (Có khoảng 1/3 trường hợp nhiễm virus quai bị không triệu
chứng).
- Người bệnh có các triệu chứng không đặc hiệu.
- Người mắc bệnh nhưng không có triệu chứng nào cả. (chiếm 20% các
trường hợp)
- Người có tiếp xúc với bệnh nhân quai bị.
- Trong gia đình có người mắc bệnh quai bị.
- Người mới từ vùng có dịch quai bị trở về.
- Môi trường nhà ở, điều kiện vệ sinh không đảm bảo.
1.3.2. Tình hình mắc quai bị trên Thế giới và Việt Nam
1.3.2.1. Trên thế giới


16
Ước tính tỷ lệ mắc bệnh hàng năm khoảng 100-1000 trường hợp/100.000
dân tại các nước mà vắc-xin chưa được đưa vào chương trình tiêm chủng quốc
gia. Tại Mỹ: trước khi vắc- xin quai bị được đưa vào sử dụng (năm 1967) thì
dịch xảy ra mỗi 2-5 năm, với tần suất cao nhất vào các tháng mùa đông - xuân
và tập trung chủ yếu ở các tập thể đông đúc như vườn trẻ, trường học, doanh trại
quân đội. Sau năm 1967, tại Hoa Kỳ trường hợp của bệnh quai bị đã giảm 99%
kể từ sự ra đời của một loại vắc-xin trong năm 1967, tỷ lệ mắc quai bị giảm đi rõ
rệt, mà theo như thống kê của Trung tâm phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC)
thì năm 1968 ghi nhận 152.000 trường hợp, năm 1985 còn 2892 trường hợp, số
ca bệnh mỗi năm giảm trên 99% với trung bình chỉ khoảng < 265 trường hợp
quai bị/ năm trong giai đoạn 2001-2005. Tỉ lệ mắc trung bình trong khoảng thời
gian này là 10/100.000 dân.[13], [21]. Tuy nhiên, bệnh quai bị chưa được loại

197
94
180
753
-

2004
226.619
11.483
10.767
13.749
258
10.055
56
91
244
279
15.256

2005
291.135
10.727
8.791
63.525
70
608
1.803
346
3.243



3.017
1.003

2.361
844

8. Nguyễn Minh Sơn (2012), Dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm phổ biến, nhà
xuất bản Y học Hà Nội, 2012, Tr. 508.
Các bệnh có xu hướng tăng: trong những năm gần đây một số bệnh truyền
nhiễm như thủy đậu quai bị có xu hướng tăng lên rõ rệt tại khu vực phía Bắc so
với giai đoạn 10 năm trước đây (1990-1999). Trong đó bệnh thủy đậu tăng từ
39,753 ca giai đoạn 1990-1999 lên 129745 ca giai đoạn 2000-2010( tăng gấp 23
lần) bệnh quai bị tăng 298 %. Năm 2010 ghi nhận 25.558 trường hợp mắc quai
bị, tử vong 1 tại tất cả các tỉnh thành phố miền Bắc tăng 56,83% so với năm
2009( mắc 16297 chết 0). Trong 4 năm gần đây, số mắc quai bị đều có xu hướng
tăng. 8. Nguyễn Minh Sơn (2012), Dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm phổ biến,
nhà xuất bản Y học Hà Nội, 2012, Tr. 488.
1.3.2.2. Tại Việt Nam
Kết quả giám sát bệnh hiện nay cho thấy bệnh quai bị lưu hành rộng rãi ở
mọi nơi trên lãnh thổ nước ta. Tỷ lệ mắc trung bình trong 10 năm (1991-2000) là
20,6/100.000 dân và không có tử vong [14]
Tỷ lệ mắc bệnh được ghi nhận khác nhau giữa các miền. Miền Bắc có tỷ lệ
cao nhất là 32,5/100.000 dân; Tây Nguyên 24/100.000 dân; Miền Trung
16/100.000 dân; Miền Nam 6,6/100.000 dân [14]. Hiện nay, số mắc bệnh quai bị
xếp hàng thứ 7 trong số 24 bệnh truyền nhiễm gây dịch được quản lý tại Việt
Nam chỉ xếp sau các bệnh về viêm đường hô hấp cấp, các bệnh về đường ruột
và sốt xuất huyết Dengue [14].
Theo thống kê của Viện vệ sinh Dịch tễ Trung ương trên phạm vi cả nước
trong giai đoạn 1991-1996, số mắc bệnh trung bình hàng năm là 9.579 trường

59
9.33

99
20

0
6.73

00
20

6
7.46

01
20

2
12.1

02
20

53
18.3

03
20


105

mắ

dân
65,86

c
2.7

48,79

44
2.4

26,96

38
2.4

18,67

60
3.8

35,97

20,71

37

mắ

105

dân
c
dân
26,71 683 26,77

c
3.6

dân
13,54

30.4

21,76 392 13,95

73
3.7

13,50

54
23.6

21,64 201

6,56

46,94

1.0

33,57

77
1.8

6,2

45
20.2

18,17

66
1.1

34,9

18
1.3

4,56

32
22.8

20,64


6

36

24

1.3.2.3. Tại tỉnh Quảng Trị

2.8

105

Số
mắc

85

Mắc/
105
dân
40,38
30,78
17,35
17,34
17,37
25,35
28,28
36,89
53,33

Cúm
Tiêu Chảy
Lỵ Trực trùng
Dại
Quai bị
Lỵ A mip
Viêm Gan Virus
Sốt Xuất Huyết
Thủy Đậu
Tay Chân

20,935
4,406
1,403
647
630
597
357
338
237

616,764
616,764
616,764
616,764
616,764
616,764
616,764
616,764
616,764

10

Tên bệnh
Cúm
Tiêu Chảy
Lỵ Trực trùng
Lỵ Amip
Quai bị
Thủy Đậu
Viêm Gan Virus
Tay Chân Miệng
Sởi
Sốt xuất huyết

Số mắc
19,773
3,781
1,701
521
461
392
263
148
237
208

Dân số toàn tỉnh
616,764
616,764
616,764

các trạm Y tế xã trên địa bàn triển khai tiêm vắc- xin phòng bệnh quai bị cho
người dân. Tuy nhiên từ năm 2013 đến nay, tình hình triển khai tiêm vắc-xin
gặp nhiều khó khăn như tình trạng thiếu vắc- xin MMR, vắc-xin chưa đủ đáp
ứng nhu cầu của người dân, đã làm giảm tỷ lệ tiêm phòng vắc-xin của người
dân đáng kể. Tình hình mắc quai bị tại huyện như sau: năm 2011 tổng số mắc
24 ca, năm 2012 tổng số mắc/chết: 8/0, năm 2013 tổng số mắc là 87/0 ca, năm
2014 giảm còn 26/0 ca, tính đến tháng 3/2015 tổng có 12/0 ca quai bị. Chưa có
báo cáo nào liên quan đến tình hình xảy ra các biến chứng, tử vong do quai bị.
[16],[17].
1.4. VẮC-XIN QUAI BỊ
* Tạo miễn dịch chủ động:
- Vắc-xin phòng bệnh quai bị có tác dụng kích thích cho trẻ em sản sinh
kháng thể kháng quai bị kháng thể đạt mức độ cao nhất sau khi tiêm chủng 6 – 7
tuần. Chế phẩm đạt tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
- Vắcxin có dạng đồng nhất màu hồng. Một liều tiêm 0,5ml sau khi hồi
chỉnh chứa không ít hơn 20000 TCD50 vi-rút quai bị và không quá 25 mcg
kháng sinh Gentamycin sunfat . Vắc xin đóng trong ống loại 1, 2 và 5 liều tiêm
chủng.
- Vắc xin quai bị là vắc xin sống giảm độc lực, thường được sản xuất dưới
dạng vắc-xin phối hợp sởi- quai bị- rubella (MMR- Measles- Mumps- Rubella).


21
Vắc xin quai bị an toàn, không gây sốt, tạo kháng thể cao, hiệu quả bảo vệ của
vắc -xin là 95% và duy trì tình trạng miễn dịch kéo dài từ 5 -10 năm và an toàn.
Liều 0,5ml tiêm dưới da.
* Tiêm chủng được định kỳ:
- Lịch chủng ngừa tiêm MMR: Hiện tại vắc- xin phối hợp MMR được
khuyến cáo chích ngừa 2 liều để đảm bảo tạo miễn dịch bảo vệ đầy đủ cho cả 3
loại vi-rút.

tiêm vắc-xin quai bị là cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh [10].
1.5. PHÒNG CHỐNG BỆNH QUAI BỊ
* Biện pháp chống dịch
- Quai bị là một bệnh nên khai báo. Người mắc bệnh phải được cách ly tại
nhà. Nếu bệnh nặng hoặc không có điều kiện chống dịch tốt (nhà chật chội, có
nhiều trẻ em) thì phải đưa người ốm vào bệnh viện trong những ngăn buồng
riêng. Cách ly cho đến khi hết các biểu hiện lâm sàng (hết sưng tuyến mang tai,
khoảng 9 ngày). Theo khuyến cáo mới đây của CDC, việc cách ly bệnh nhân là
không cần thiết sau 5 ngày kể từ khi có sưng tuyến mang tai.
Những trẻ em tiếp xúc với người bệnh, dưới 10 tuổi phải cách ly trong 21
ngày. Trong thời kỳ này, tại các tập thể trẻ em cần có những biện pháp để phát
hiện những người mắc bệnh. Người tiếp xúc với bệnh nhân cần đeo khẩu trang.
Không cần tẩy uế buồng bệnh, chỉ nên tẩy uế quần áo, khăn mùi xoa. Cũng
nên súc miệng bằng thuốc sát khuẩn, tuy không ít công hiệu.
- Tuyên truyền cho cộng đồng biết các dấu hiệu nghi ngờ quai bị và cách
phòng bệnh.
- Phải tuân thủ các biện pháp vệ sinh chung trong các nhà trẻ, vườn trẻ,
trường học và phải giáo dục các tập quán vệ sinh, bắt đầu ngay từ khi còn nhỏ
tuổi.
* Trường học và nhà trẻ
Trẻ bệnh phải nên cho nghỉ học đến 9 ngày sau khi có sưng tuyến mang tai.
Khi có vụ bùng phát dịch xảy ra thì chính quyền địa phương, trung tâm phòng
dịch và nhà trường sẽ có những biện pháp dập dịch tùy theo từng trường hợp và


23
điều kiện. Biện pháp hữu hiệu nhất là đóng cửa trường học, tuy nhiên quyết định
này không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng thực hiện.
* Phòng bệnh đặc hiệu
Huyết thanh người khỏi, nếu tiêm trong những ngày đầu thời kỳ ủ bệnh có

đến cuối năm 2011 tổng giá trị sản xuất theo giá cố định năm 2011 đạt 1.296 tỷ
đồng tăng 16,6% so với 2010. Cơ sở giáo dục và đào tạo của huyện gồm 76
trường học các cấp từ mầm non đến trung học phổ thông.
Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Linh được chia tách và thành lập, hoạt động từ
đầu năm 2007 đến nay, là đơn vị sự nghiệp, có chức năng triển khai chuyên môn
kỹ thuật về Y tế Dự phòng, quản lý hoạt động Trạm Y tế xã, thị trấn, phòng
chống dịch bệnh, quản lý các bệnh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc
sức khỏe sinh sản và truyền thông giáo dục sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn
huyện. Cơ cấu tổ chức trung tâm gồm có 28 cán bộ gồm có 8 bác sĩ, 6 cử nhân,
2 dược sĩ, 5 y sĩ, 2 xét nghiệm và 3 cán bộ chuyên môn khác[ ]. Huyện có
Bệnh viện Đa khoa với quy mô 200 giường bệnh; và 22 Trạm Y tế xã được thiết
kế xây dựng cơ bản kiên cố theo chuẩn quốc gia với quy mô 130 giường có
21/22 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2001 - 2010, 16/22 xã đạt chuẩn
quốc gia giai đoạn 2, 100% Trạm y tế xã có Bác sỹ. Hiện nay, TTYT huyện triển
khai thực hiện 23 chương trình mục tiêu Y tế quốc gia với chất lượng và hiệu
quả cao. Các chỉ số sức khỏe người dân không ngừng được cải thiện, tuổi thọ
bình quân ở huyện Vĩnh Linh nâng lên 75 tuổi.
Năm từ 2013- 2015, Kết quả tiêm chủng đầy đủ trẻ em < 1 tuổi lần lượt
là:......,......,.......( đạt

%). Sởi mũi 2 cho trẻ 18 tháng đạt......, DPT cho trẻ 18

tháng đạt......VNNB mũi 1, 2,3:...................
Tình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ
em: Tổng số trẻ < 5 tuổi suy dinh dưỡng là:......%, Trong đó độ 1:....độ 2:.....độ
3.....
+ Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân tháng 12/2015 là:.....
+ Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi 12/2015 là:.....%.
Số phụ nữ có thai được quản lý là:.....số khám thai đủ 3 lần 3 thời kỳ:....., số
trẻ sinh ra và sống:.....số trẻ sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status