211
SUY HÔ HẤP CẤP
Mục tiêu
1. Trình bày được định nghĩa, bệnh nguyên, cơ chế sinh bệnh suy hô hấp cấp
2. Nêu được triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng và phân giai đoạn suy hô hấp
cấp
3. Trình bày được phác đồ điều trị theo từng giai đoạn suy hô hấp cấp
4. Xử trí ban đầu đúng cách theo từng mức độ và chuyển tuyến đúng lúc
Nội dung
I. ĐỊNH NGHĨA
Suy hô hấp cấp là sự rối loạn nặng nề của sự trao đổi oxy máu; một cách tổng
quát, suy hô hấp cấp là một sự giảm thực sự áp lực riêng phần khí oxy trong động
mạch (PaO
2
) < 60 mmHg, áp lực riêng phần khí carbonic trong động mạch (PaCO
2
)
có thể bình thường, giảm hay tăng.
Có 2 loại suy hô hấp cấp
- Suy hô hấp cấp với thiếu oxy máu kèm ứ khí cácbonic.
- Suy hô hấp cấp với thiếu oxy máu kèm giảm khí cácbonic.
II. BỆNH NGUYÊN
1. Nguyên nhân tại phổi
1.1.Sự mất bù cấp của những suy hô hấp mạn
Yếu tố làm dễ là nhiễm trùng phế quản - phổi, thuyên tắc động mạch phổi, tràn khí
màng phổi.
1.2. Những bệnh phổi nhiễm trùng:
Chúng xảy ra trên phổi lành thì chỉ gây suy hô hấp cấp khi những nhiễm trùng phổi
đó lan rộng ra nhiều thùy: phế quản phế viêm do vi trùng mũ, lao kê, nhiễm virus ác
tính.
Ít gây suy hô hấp cấp nếu tràn dịch từ từ, chỉ gây suy hô hấp cấp khi tràn dịch cấp,
lượng dịch tăng nhanh.
2.3. Tràn khí màng phổi thể tự do
Thường do lao phổi, vỡ bóng khí phế thủng, vỡ kén khí bẩm sinh, tự phát (không rõ
nguyên nhân), có thể do vỡ áp xe phổi luôn luôn kèm tràn mủ màng phổi.
2.4. Chấn thương lồng ngực
Bệnh này gây gãy xương sườn từ đó gây tổn thương màng phổi và phổi.
2.5. Tổn thương cơ hô hấp
Nguyên nhân thường gặp là viêm sừng trước tủy sống, hội chứng Guillain Barré
kèm liệt lên cấp Landry, uốn ván, rắn cắn, ngộ độc thuốc trừ sâu gốc phốtpho hữu
cơ, bệnh nhược cơ nặng, viêm đa cơ.
2.6. Tổn thương thần kinh trung ương
Nguyên nhân thường là chấn thương sọ não, ngộ độc thuốc, tai biến mạch máu não;
những nguyên nhân gây nên tổn thương trung tâm hô hấp.
III. CƠ CHẾ SINH BỆNH
1. Cơ chế gây nên thiếu oxy máu
1.1. Giảm thông khí phế nang
Áp lực khí oxy trong phế nang được xác định bởi sự quân bình giữa tốc độ mất đi
của khí oxy, chức năng chuyển hóa ở mô và tốc độ đổi mới của khí oxy bởi thông khí
phế nang. Nếu thông khí phế nang giảm một cách bất thường thì áp lực oxy trong
phế nang giảm rồi áp lực riêng phần khí oxy trong động lạch giảm theo. Sự giảm
thông khí phế nang có thể thứ phát sau một tổn thương trung tâm hô hấp (hôn mê,
ngộ độc thuốc) hay một sự vô hiệu hóa hoạt động lồng ngực - phổi (tổn thương sừng
trước tủy sống, tổn thương cơ hô hấp hay dây thần kinh chi phối).
1.2. Sự mất cân bằng giữa thông khí / tưới máu
213
Sự kém hài hòa giữa thông khí và lưu lượng máu là nguyên nhân gây nên sự rối
loạn trao đổi khí trong một đơn vị phổi; tỉ thông khí / tưới máu gần bằng 1; áp lực khí
oxy và khí cácbonic trong phế nang là 100 mmHg và 40 mmHg gần bằng áp lực
nang sang mao mạch. Vai trò bloc phế nang - mao lạch gây nên thiếu oxy máu còn
bàn cải.
2. Cơ chế gây nên sự thay đổi khí cácbonic trong máu
Áp lực khí cácbonic trong phế nang và trong động mạch thay đổi ngược chiều với
thông khí phế nang. Những sự thay đổi của sự tạo khí cácbonic thường nhỏ và đóng
một vai trò không quan trọng trong những sự thay đổi khí cácbonic trong máu.
2.1. Giảm khí cácbonic máu
Hiện tượng này là hậu quả của sự tăng thông khí gây nên do thiếu oxy máu.
2.2. Tăng khí cácbonic máu
214
Hiện tượng này là một sự không thích ứng của hệ số thanh lọc phổi đối với khí
cácbonic, nó tương ứng với một sự giảm thông khí phế nang.
IV. TRIỆU CHỨNG HỌC
1. Lâm sàng
1.1. Nhịp thở và biên độ hô hấp
Thiếu oxy máu và hay là tăng khí cácbonic máu gây nên thở nhanh, tần số thở
khoảng 40 lần / phút phối hợp với sự co kéo các cơ hô hấp, thấy rõ ở hỏm trên
xương ức và các khoảng gian sườn; ở trẻ em có thể kèm theo cánh mũi phập
phồng. Trong những trường hợp có tổn thương do liệt (viêm đa rễ thần kinh, liệt 4
chi do tổn thương tủy sống, bệnh nhược cơ nặng ), tần số thở thường giảm, biên
độ hô hấp yếu, bệnh nhân không ho được, do đó gây nên ứ đọng đàm giải trong phế
quản.
Theo dõi nhịp thở rất quan trọng vì nhịp thở chậm có thể là sự cải thiện của trao đổi
khí oxy máu nhưng cũng có thể là sự suy kiệt cơ hô hấp nhất là trong trường hợp
hen phế quản cấp nặng.
Trong các bệnh thanh - khí quản, người ta thấy có sự phối hợp khó thở vào.
1.2. Tím
Tím là dấu chứng chủ yếu, xuất hiện ở môi, đầu tay chân, mặt hay toàn thân khi
hemoblogine khử > 50g / l. Tỉ nầy tương ứng với độ bão hoà khí oxy trong máu động
-Thiếu oxy máu: PaO
2
có thể giảm chỉ còn 25 mmHg.
-Rối loạn khí cácbonic: sẽ đưa đến rối loạn cân bằng toan kiềm.
-Tăng PaCO
2
: đưa đến toan hô hấp mà sự bù trừ là nhờ những chất đệm của máu
và của mô và nhờ sự thải ion H
+
qua thận.
Khi có tăng PaCO
2
cấp, cơ chế đệm lúc đầu là huyết tương và huyết cầu, sau đó là
mô và thận can thiệp trong giai đoạn 2 vào giờ thứ 24 bằng cách tăng thải trừ ion H
+
và tái hấp thu ion Na
+
và bicarbonate.
Toan hô hấp gọi là còn bù khi những chất đệm tế bào được sử dụng giữ cho pH
không giảm. Sự bù trừ nầy được giới hạn bởi sự gia tăng bicarbonate không quá 50
mmol/l.
-Giảm PaCO
2
: đưa đến kiềm hô hấp với giảm bicarbonate huyết tương.
2.2. Khảo sát tim mạch
Tâm điện đồ và thông tim phải, siêu âm Dopler tim để khảo sát các tổn thương tim.
2.3. Phim lồng ngực
Xét nghiệm nầy cần thực hiện để có thể phát hiện những tổn thương ở chủ mô phổi,
màng phổi, trung thất.
±
+ + + + +
Mạch lần/phút 90 - 100 100 - 110 110 - 120 > 120
Huyết áp Bình thường Bình thường Cao Cao hay hạ
Rối loạn ý thức Không Không Vật vã Lơ mơ, hôn mê
SaO
2
(%) 80 - 90 70 - 80 60 - 70 < 60
PaCO
2
(mmHg) 40 45 - 55 55 - 70 > 70
pH máu 7,35 - 7,40 7,30 - 7,35 7,25 - 7,30 < 7,25
Dự trữ kiềm Bình thường Bình thường Giảm Giảm
VI. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
Suy hô hấp nếu được điều trị đúng mức thì có thể lui bệnh hoàn toàn. Trong quá
trình tiến triển có thể bội nhiễm phổi hay đường tiểu nhất là đối với những bệnh nhân
có đặt nội khí quản hay đặt xông tiểu.
216
Suy hô hấp cấp nếu điều trị không kịp thời thì có thể tiến triển nặng dần, bệnh nhân
có thể hôn mê và tử vong.
VII. ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc điều trị
- Làm thông thoáng đường hô hấp.
- Liệu pháp oxy.
- Đặt ống nội khí quản, mở khí quản, hỗ trợ hô hấp.
- Chống nhiễm khuẩn, bội nhiễm.
- Kiềm hóa huyết tương.
2. Điều trị cụ thể
2.1. Điều trị hổ trợ và giải phóng đường hô hấp
cung lượng 4 - 6 lít / phút bằng xông mũi hay trong những trường hợp thiếu oxy
nặng hơn thì sử dụng mặt nạ oxy.
- Những bệnh nhân có nồng độ khí carbonic trong máu cao mạn tính: đó là những
trường hợp suy hô hấp mạn, cung lượng oxy dùng ở bệnh nhân bị suy hô hấp mạn
là thấp khoảng 1 - 3 lít / phút, thở ngắt quảng và được kiểm soát nồng độ các khí
trong máu.
2.3. Đặt nội khí quản
* Chỉ định
- Khi có trở ngại đường hô hấp trên như phù nề, vết thương thanh quản, hôn mê gây
tụt lưỡi.
- Khi cần giảm khoảng chết để tăng thông khí phế nang, hỗ trợ hô hấp, cần thở oxy,
thở máy.
- Khi có tăng khí cácbonic máu.
- Khi cần bảo vệ đường hô hấp, phòng hít sai lạc.
* Phương pháp
Có hai phương pháp:
+ Đặt nội khí quản đường mũi
Còn gọi là đặt nội khí quản mò, là phương pháp được dùng phổ biến, nhất là đối với
trẻ sơ sinh, trẻ còn bú và trẻ em, đặc biệt trong bệnh uốn ván và trong hồi sức nội
khoa. Bệnh nhân đặt ở tư thế Jackson cải tiến: nằm ngữa, kê vai cao 5-7 cm để
ngữa cổ vừa phải hoặc tư thế nửa ngồi, nhất là khi sợ máu, mủ, dịch từ phổi bệnh
trào sang phổi bên kia.
Đặt nội khí quản đường miệng
Bệnh nhân được đặt trong tư thế như trên: tư thế Jackson hay nửa ngồi. Cho thở
oxy vài phút trước khi đặt ống.
Thông thường, ống không đặt quá 3 ngày.
2.4. Mở khí quản
* Chỉ định
Như chỉ định đặt nội khí quản hay không đặt được ống hay khi cần đặt ống quá 3
ngày.
2
khoảng 50%.
- Loại bệnh nhân thứ ba: là loại có một sự giảm khí carbonic máu. Hiện tượng tăng
hô hấp thứ phát sau thiếu khí oxy máu. Tuy nhiên do có bệnh lý phổi bên dưới, nên
sự tăng hô hấp không kéo theo một sự tăng PaO
2
được. Bởi vậy bệnh nhân nặng
dần dần, càng ngày nợ oxy càng trở nên trầm trọng.
- Có 5 loại máy thở:
+ Máy thở tạo ra chu kỳ dựa trên tần số.
+ Máy thở tạo ra chu kỳ dựa trên thể tích.
+ Máy thở tạo ra chu kỳ dựa trên áp lực.
+ Máy thở tạo ra chu kỳ dựa trên dòng khí.
+ Máy thở tạo ra chu kỳ hỗn hợp.
2.7. Chống nhiễm khuẩn
Các vi khuẩn gây bội nhiễm thường là Streptococcus pneumoniae, Haemophilus
influenza, Stapylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae, v.v , nên phải cho các
kháng sinh thích hợp.