Xây dựng và bảo vệ Chính quyền
Nhân dân (9/1945 – 12/1946)
Từ sự đánh giá trên đây, Trung ương Đảng đề ra chủ trương mới: nhân
nhượng hoà hoãn với Pháp, để cho quân Pháp vào miền Bắc nhằm đẩy
nhanh quân Tưởng về nước, bớt đi một kẻ thù nguy hiểm, tận dụng khả
năng hoà bình để xây dựng lực lượng cách mạng về mọi mặt, chuẩn bị
cuộc chiến đấu mới.
Chỉ thị phê phán khuynh hướng không muốn đàm phán, muốn "đánh đến
cùng" và chỉ rõ "vấn đề lúc này, không phải là muốn hay không muốn
đánh. Vấn đề là biết mình biết người, nhận một cách khách quan những
điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng".
Chỉ thị nhấn mạnh lập trường của Đảng ta: Nếu Pháp chỉ thừa nhận
quyền tự trị của Việt Nam thì nhất định đánh, nếu Pháp công nhận quyền
tự chủ thì có thể hoà.
Theo chủ trương mới, Chính phủ ta đã đàm phán và ký với đại diện
Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ 6-3-1946. Hiệp định quy định : Chính
phủ Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do có nghị viện, chính
phủ, quân đội và tài chính riêng nằm trong Liên bang Đông Dương và
Liên hiệp Pháp; Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc
thay thế quân Tưởng, sau 5 năm phải rút hết về nước; hai bên đình chỉ
xung đột ở miền Nam để mở cuộc đàm phán đi đến ký Hiệp định chính
thức.
Ngày 9-3-1946, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thịHoà để tiến. Chỉ
thị phân tích chủ trương hoà hoãn với Pháp để:
"1. Tránh tình thế bất lợi: phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều
lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng
trong nước), chúng sẽ đúc thành một khối và được bọn đế quốc Anh, Mỹ
Cuối tháng 3-1946, Chính phủ Pháp phải thoả thuận: Quốc hội Việt Nam
cử một phái đoàn sang Pháp và Pháp cử một phái đoàn sang Việt Nam
để chuẩn bị điều kiện cho việc ký Hiệp định chính thức ở Pari.
Ngày 19-4-1946, Hội nghị trù bị Đà Lạt được tiến hành để chuẩn bị cho
cuộc đàm phán chính thức tại Pháp. Hội nghị thảo luận ba vấn đề: những
mối liên hệ ngoại giao của Việt Nam; chế độ tương lai của Đông Dương;
quyền lợi văn hoá của người Pháp ở Việt Nam. Quan điểm của Đảng và
nhân dân ta là: nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia sẻ,
ba kỳ phải theo chung một chế độ cộng hoà dân chủ. Nước Việt Nam là
một nước tự chủ; có Chính phủ riêng tổ chức theo đúng Hiến pháp của
mình, có nghị viện riêng, tổ chức theo lối phổ thông tuyển cử; có quân
đội riêng dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng tư lệnh; có tài chính riêng
nghĩa là có ngân hàng quốc gia, có quyền phát hành giấy bạc và thuế
quan độc lập; có quyền ngoại giao trực tiếp với nước ngoài, gửi đại sứ
hoặc lãnh sự đến các nước khác và được gia nhập Liên hợp quốc. Quân
đội Pháp ở Đông Dương trên vĩ tuyến 16 hay dưới vĩ tuyến 16 phải có
giới hạn về số lượng và sau 5 năm chỉ đóng lại một số rất ít ở một vài
hải cảng. Phía Pháp ngoan cố giữ lập trường thực dân nên Hội nghị trù
bị Đà Lạt đã bế tắc.
Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu
đi thăm nước Pháp từ ngày 16-4 đến ngày 16-5-1946. Đoàn đã giải thích
cho nhân dân và những người có thiện chí trong chính giới ở Pháp hiểu
rõ và đồng tình với mục tiêu giành độc lập hoàn toàn của dân tộc Việt
Nam.
Ngày 31-5-1946, theo lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đi thăm chính thức nước Pháp.
Cuộc đàm phán Việt - Pháp được mở ra ở Phôngtennơblô ngày 6-7-1946
xảy ra trên phạm vi cả nước.
Về kinh tế, các công việc đẩy mạnh sản xuất, tích trữ lương thực được
tiến hành để chuẩn bị hậu phương cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Về quân sự, vũ trang toàn dân, xây dựng dân quân, tự vệ. Theo Sắc lệnh
số 71/SL ngày 22-5-1946, Vệ quốc đoàn chuyển thành Quân đội quốc
gia Việt Nam. Đến cuối năm 1946, bộ đội thường trực đã có 80.000
người, dân quân, tự vệ đã có gần 1 triệu người.
Về chính trị, Đảng xúc tiến tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Tháng
5-1946,Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt Liên Việt) ra đời, nòng
cốt là Mặt trận Việt Minh.