TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
******
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ Tên đề tài :
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA HỌC SINH 6-8
TUỔI TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN PHƯƠNG,
HUYỆN TỪ LIÊM, HÀ NộI NĂM 2008
Chủ nhiệm đề tài: Ts.Lê Thị Hương
2.3.5. Nhận định kết quả 9
2.3.6. Xử lý số liệu. 10
III. CHƯƠNG III :KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
IV.CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 22
V. KẾT LUẬN 24
VI. KHUYẾN NGHỊ 24
PHỤ LỤC: PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ GIA ĐÌNH 28
1
CHỮ VIẾT TẮT
BMI Chỉ số khối cơ thể
BAZ BMI theo tuổi z-score
CB, CNVC Cán bộ, công nhân viên chức
CC/T Chiều cao theo tuổi
CN/T Cân nặng theo tuổi
CN/CC Cân nặng theo chiều cao
HSSHV Hằng số sinh học người Việt Nam
HAZ Chiều cao theo tuổi z-score
NCHS Quần thể tham khảo của Mỹ (National centre for Health
Statistics)
SDD Suy dinh dưỡng
WAZ Cân nặng theo tuổi z-score
WHZ Cân nặng theo chiều cao z-score
WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Heath Oganization)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học.
Tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ học đường là một bộ phận quan
trọng trong cộng đồng, số lượng trẻ học đường chiếm một bộ phận không nhỏ
trong tháp dân số, chiếm 24% dân số ở các nước đang phát triển và khoảng
16% dân số ở các nước phát triển. Tại các nước đang phát triển, số lượng trẻ
học sinh tiểu học không chỉ cao hơn ở các nước phát triển mà với tốc độ gia
tăng dân số cao như hiện nay (1,4%/ năm) thì số lượng học sinh tiểu học còn
có xu hướng tăng và khó kiểm soát [19]. Các nghiên cứu cho thấy vấn đề dinh
dưỡng ở trẻ em học đường là thiếu dinh dưỡng protein năng lượng, thiếu máu
do thiếu sắt, thiếu iod và nhiễm ký sinh trùng đường ruột. Trong đó, tình trạng
dinh dưỡng của lứa tuổi này là quan trọng nhất vì đây là giai đoạn dự trữ cho
sự phát triển nhanh chóng của tuổi dậy thì [16]. Theo Popkin và Horton năm
2001, hiện nay ở Châu Á, trong khi SDD vẫn còn là một vấn đề sức khoẻ
quan trọng thì tỷ lệ béo phì và thừa cân tăng lên nhanh chóng. Nghiên cứu cho
thấy ở Châu Á, 15% gia đình cùng lúc có thành viên bị suy SDD thể nhẹ cân
và một thành viên ruột thịt khác bị thừa cân [21].
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học.
Yếu tố kinh tế xã hội.
Yếu tố kinh tế có mối quan hệ qua lại với tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
Ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển có tỷ lệ trẻ SDD cao hơn hẳn các
nước phát triển. Trên thế giới, trẻ SDD tập trung chủ yếu ở hai châu lục là
Châu Phi và Châu Á.
Thu nhập là một biểu hiện quan trọng phản ánh tình trạng kinh tế xã
hội. Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (1991) về ảnh hưởng của tình trạng
kinh tế xã hội đến sự phát triển của trẻ em học đường ở Bangladesh cho thấy
trẻ từ các gia đình có thu nhập cao có cân nặng và chiều cao theo tuổi cao hơn
4
trẻ từ các gia đình có thu nhập thấp [14]. Một nghiên cứu khác ở Anh về vấn
[7].
Khẩu phần ăn.
Đây là yếu tố tác động trưc tiếp và quan trọng tới tình trạng dinh dưỡng
của trẻ. Ở độ tuổi học đường, trẻ phát triển chậm hơn giai đoạn trước nhưng là
giai đoạn chuẩn bị quan trọng cho sự phát triển nhanh chóng khi vào tuổi dậy
thì nên nhu cầu năng lượng của trẻ khá cao, một khẩu phần ăn không hợp lý
sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ. Thói quen ăn uống cũng có thể ảnh
hưởng đến sức khỏe của trẻ.
Nghiên cứu khẩu phần ăn của trẻ em tiểu học ở Hà Nội của Mai Văn
Quang cho thấy năng lượng khẩu phần của học sinh mới đạt 88% nhu cầu đề
nghị [13]. Tuy nhiên, giá trị dinh dưỡng khẩu phần lại đạt cao protid là
57,9g/trẻ/ngày, và protid động vật chiếm 45,9%. Trong khi đó nghiên cứu của
Trương Thị Tuyết Mai ở trường tiểu học Đông Mỹ ngoại thành Hà Nội lại
cho thấy giá trị khẩu phần rất thấp, chỉ đạt 60% nhu cầu [11]. 6
II. CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh 6-8 tuổi của trường tiểu học Xuân Phương, huyện Từ Liêm,
Hà Nội.
2.2. Thiết kế nghiên cứu:
Mô hình nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3. Địa điểm
Trường tiểu học Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
2.4. Cỡ mẫu và Chọn mẫu
2.4.1. Cỡ mẫu
Áp dụng công thức:
Nhóm biến số Các biến số Chỉ số, định
nghĩa
Phương pháp
thu thập
Công cụ
Đánh giá tình
trạng dinh
dưỡng
- Tuổi
- Giới
- Cân nặng
- Chiều cao
- Ngày điều
tra- ngày sinh
- Nam, nữ
- CN/T
- CC/T
- BMI
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Cân
Đo
Phiếu hỏi
Phiếu hỏi
Cân
Thước đo
chiều cao
- Thói quen
ăn uống
- Bữa chính
- Bữa phụ
- Ăn vặt
- Đồ ăn thích
- Đồ ăn
không thích
- Tần suất
tiêu thụ thực
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phỏng vấn
Phiếu hỏi
Phiếu hỏi
Phiếu hỏi
Phiếu hỏi
Phiếu hỏi
8
phẩm 2.3.5. Thu thập số liệu.
- Cách tính tuổi: Tuổi trẻ được tính theo WHO. Ví dụ trẻ sinh ngày
25/2/2002 được tính là 6 tuổi kể từ ngày 25/2/2008 tới ngày 24/2/2009 [23].
- Nhân trắc:
+ Cân nặng: Dùng cân Seca có độ chính xác đến 0,1kg. Cân được kiểm tra và
Số liệu được làm sạch, nhập vào máy tính và được phân tích bằng phần
mềm SPSS 16.0 và Epi info 6.04.
Số liệu nhân trắc được xử lý bằng phần mềm Anthroplus 2007 của
WHO và Epinut.
So sánh các số trung bình được thực hiện bằng cách sử dụng kiểm định
t-student.
So sánh các tỷ lệ phần trăm được thực hiện bằng cách sử dụng kiểm
định Chi- Square. Sự khác biệt giữa các số trung bình hay tỷ lệ phần trăm
được xác định khi giá trị p < 0,05. 10
III. CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1 : Tỷ lệ trẻ phân bố theo tuổi và giới
Nam Nữ
N % N %
6 tuổi 43 43 57 57
7 tuổi 47 47 53 53
8 tuổi 45 45 55 55
Tổng 135 45 155 55
Số trẻ nữ luôn cao hơn trẻ nam ở các lứa tuổi với tỷ lệ trẻ phân bố chung là
55% nữ, 45% nam.
CB, CNVC 52 17,7 49 16,6
Nội trợ 4 1,4 54 18,3
Nghề
Khác 55 18,8 23 7,8
- Trình độ văn hoá của bố mẹ phần lớn là cấp 2 và cấp 3 (chiếm 74,4% ở
bố và 72,6% ở mẹ), chỉ có 22,9% trẻ có bố và 24,7% trẻ có mẹ học vấn trên cấp 3.
- Nghề chủ yếu của bố mẹ trẻ là làm ruộng (44% ở bố và 42% ở mẹ).
Tỷ lệ trẻ có bố mẹ là CB, CNVC thấp (17,7% bố và 16,6% mẹ).
Bảng 3.3: Thu nhập bình quân theo đầu người và chi phí cho ăn uống của
trẻ (nghìn đồng/ tháng).
Mức (nghìn đồng) N %
< 500 65 21,7
500-1000 133 41,3
1000-1500 54 18,0
1500-2000 38 12,7
Thu nhập bình
quân theo đầu
người/tháng
(n=300)
> 2000 10 3,3
< 500 188 62,7
500-1000 105 35,0
Chi phí cho ăn
uống của trẻ
/tháng (n=300)
1000-1500 7 2,3
12
Giới
Chung
(n=300)
Nam (n=135) Nữ (n=165)
p ( T-test)
WAZ -0,31 ± 0,97 -0,33 ± 1,03 -0,3 ± 0,93 >0,05
HAZ -0,08 ± 0,93 -0,16 ± 0,92 -0,02 ± 0,93 >0,05
BAZ -0,45 ± 1,28 -0,43 ± 1,42 -0,47 ± 1,17 >0,05
Các chỉ số WAZ, HAZ, BAZ xấp xỉ nhau giữa nam, nữ và không có sự khác
biệt có ý nghĩa ở 2 giới.
4.2
5.6
3.8
4.3
3.2
0
1. 9
1. 7
6.4
3.4
25
14
0
5
10
15
0%
chung 6tuổ i7tuổ i8tuổ i
nam
nữ
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ thừa cân, béo phì theo tuổi và giới (WAZ>2SD).
Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nam luôn cao hơn nữ (8,1% và 1,2%) và giảm dần
theo tuổi, cao nhất ở trẻ 6 tuổi (14%) sau đó là ở trẻ 7 tuổi (9,3%) và thấp nhất
ở trẻ 8 tuổi (2,3%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
3.3. KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI DINH DƯỠNG CỦA TRẺ.
Bảng 3.6. Tập tính ăn uống của trẻ.
N %
2 bữa 43 14,5 Bữa chính
(n=297)
3 bữa 254 85,5
Có 82 27,8 Bữa phụ (n=295)
Không 213 72,2
Luôn luôn 219 74,5 Ăn sáng (n=294)
Khác 75 25,5
Có 76 26,2 Ăn vặt (n=286)
Không 210 73,8
Trẻ thường ăn 3 bữa chính (85,5%) và không ăn thêm bữa phụ (72,2%), tỷ lệ
trẻ ăn sáng hàng ngày là 74,5% và có 26,2% trẻ hay ăn vặt.
Bảng 3.7. Đồ ăn vặt, đồ ăn thích và không thích.
15
Bảng 3.9. Tần suất tiêu thụ thực phẩm trong tuần.
< 3 lần/tuần 3-4 lần/tuần > 4 lần/tuần
N % N % N %
Dầu(n=300) 75 25,0 78 26,0 147
49,0
Vừng(n=170) 148 87,1 13 7,6 9 5,3
Lạc (n=222) 172 77,5 37 16,7 13 5,9
Đỗ đen (n=150) 112 88,0 6 4,0 12 8,0
Đỗ tương
(n=151)
125 82,9 20 13,2 6 4,0
Đỗ xanh (n=191) 154 80,6 24 12,6 13 6,8
Đậu (n=269) 123 45,7 112 41,6 34 13,7
Thịt (n=276) 39 14,1 82 29,7 164
56,2
Cá (n=261) 168 63,5 63 24,1 30 11,5
Tôm (n=238) 200 85,1 28 11,8 10 4,2
Cua (n=198) 183 82,4 9 4,5 5 3,0
Trứng (n=269) 106 39,4 128
47,6
35 13,0
Sữa (n=248) 71 28,4 51 20,6 126
52,8
Bánh(n=257) 126 49,0 67 26,1 64 14,9
Kẹo (n=229) 151
59,7
41 17,0 37 16,2
Rau (n=270) 23 8,9 22 8,1 224
52,6
p>0,05).
Bảng 3.14. Tỷ lệ SDD và học vấn mẹ.
Không có sự khác biệt về tỷ lệ SDD giữa nhóm trẻ có mẹ học vấn trên cấp 3
và nhóm trẻ có mẹ học vấn dưới cấp 3
(p>0,05).
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa nghề của bố và tỷ lệ SDD của trẻ.
Nghề bố (n=300)
CB, CNVC (n= 52) Khác (n=248)
Học vấn mẹ (n=295)
≤ Cấp 3 (n=222) > Cấp 3 (n=73)
N % N %
p (χ2-test)
< -2SD 10 4,5 3 4,1
WAZ
>= -2SD 212 95,5 70 95,9
< -2SD 4 1,8 1 1,4
HAZ
>= -2SD 218 98,2 72 98,6
< -2SD 29 13,1 11 15,1
BAZ
>=-2SD 183 86,9 62 84,9
> 0,05
18
n % N %
test)
< -2SD 1 1,9 12 4,8 WAZ
≥ -2SD 51 98,1 236 95,2
P (χ2-test)
19
≤ 2 triệu > 2 triệu
≤ 1 triệu 97,6% 2,4% Chi phí
> 1 triệu 57,1% 42,9%
< 0,01
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thu nhập và chi phí ăn của trẻ: Các
gia đình có thu nhập ≤ 2 triệu đồng/tháng thì 97,6% trẻ có mức chi phí cho ăn
uống là ≤ 1triệu đồng/tháng còn ở gia đình có thu nhập >2 triệu đồng/tháng có
42,9% trẻ có mức chi cho ăn uống >1 triệu đồng/tháng
(p<0,01).
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa thu nhập bình quân và chi phí cho ăn uống
của trẻ (nghìn đồng/tháng) với tình trạng dinh dưỡng.
chi phí ăn cho
trẻ/ tháng
p (T- test) thu nhập bình
quân/ tháng
p (T- test)
< -2SD
545 ± 278
> 0,05
931 ± 582
> 0,05 WAZ
≥ -2SD
529 ± 258
> 0,05
1099 ± 620
20
Nhìn chung, thu nhập bình quân đầu người và chi phí ăn uống cho trẻ ở nhóm
trẻ SDD luôn thấp hơn so với hai nhóm còn lại. Tuy nhiên sự khác biệt trên
không có ý nghĩa thống kê
(p>0,05).
Bảng 3.15. Tần suất tiêu thụ thực phẩm trong tuần và tình trạng thừa cân.
Tần suất Thừa cân
(%)
Không thừa
cân (%)
P (χ2-test)
≤ 4 lần/tuần 69,9 73,2 Dầu
>4 lần/tuần 30,1 26,8
> 0,05
≤ 4 lần/tuần 78,8 90,2 Thịt
>4 lần/tuần 21,2 9,8
> 0,05
≤ 4 lần/tuần 96,1 97,7 Trứng
>4 lần/tuần 3,9 2,3
> 0,05
≤ 4 lần/tuần 78,4 87,8 Sữa
>4 lần/tuần 21,6 12,2
> 0,05
≤ 4 lần/tuần 95,4 97,6 Kẹo
>4 lần/tuần 4,6 2,4
> 0,05
≤ 4 lần/tuần 90,3 95,1 Bánh
>4 lần/tuần 9,7 4,9
huyện Từ Liêm thì tỷ lệ SDD của trường là 41,4% [5] cao hơn rất nhiều lần so
với kết quả của chúng tôi. Theo chúng tôi, sự khác biệt này có thể do điều
kiện kinh tế xã hội của huyện cao hơn. Trước đây, Từ Liêm là một huyện
ngoại thành của thành phố Hà Nội, kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào nông
nghiệp. Vài năm gần đây, với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tình hình
kinh tế của huyện đã có những cải thiện đáng kể, mức sống, thu nhập bình
quân và chi phí cho ăn uống tăng. Đây có thể là một yếu tố làm giảm tỷ lệ
SDD của học sinh tiểu học. 22
Đánh giá theo chỉ số CC/T thì tỷ lệ SDD của trẻ 6-8 tuổi tại trường Xuân
Phương là 1,7%. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với kết quả của Lê Thị Hương
(34% ở Thượng Cát năm 1999 và 25,5% ở Tam Nông, Phú Thọ năm 2006)
hay của Đỗ Thị Hòa (28,3%) [6].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 4,0% thừa cân và 0,3% trẻ béo
phì. Tỷ lệ này cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hương tại
một trường tiểu học nội thành Hà Nội năm 1999 (4,0%), nghiên cứu của Lê
Thị Hải tại nội thành Hà Nội năm 1997 (4,1%) [19] và năm 2002 (7,9%) [3]
và gần đây nhất là nghiên cứu của Trần Thị Phúc Nguyệt năm 2006 trên đối
tượng trẻ 4-6 tuổi, tỷ lệ thừa cân là 3,9% và béo phì là 4,1%. Tuy nhiên, tỷ lệ
này lại thấp hơn so với kết quả nghiên cứu ở thành phố Hố Chí Minh năm
1998 của Trần Thị Hồng Loan (12,1%) [10] hay kết quả của tổng điều tra
dinh dưỡng năm 2000, tỷ lệ thừa cân, béo phì của trẻ em Hà Nội là 10,0%,
Hải Phòng là 9,0% và ở thành phố Hồ chí Minh là 12,0% [8].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thu nhập bình quân và chi phí ăn uống của
trẻ thấp hơn ở nhóm trẻ SDD so với các nhóm khác tuy nhiên sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê. Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối liên
quan này. Nghiên cứu của Lê Thị Hương đã chỉ ra mối liên quan giữa thu
nhập bình quân với tình trạng nhẹ cân và thấp còi của trẻ [5] hay nghiên cứu
- Cần tăng cường kiến thức cho trẻ về dinh dưỡng hợp lý, đặc biệt là
kiến thức về các nhóm thức ăn và cách lựa chọn thức ăn có lợi cho sức
khoẻ.
- Cần thông tin cho cha mẹ về tình trạng dinh dưỡng của trẻ và kiến
thức dinh dưỡng hợp lý cho trẻ ở lứa tuổi này.
24