BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
PHẠM THỊ PHƢƠNG THẢO
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG
CỦA TRẺ EM TRƢỜNG MẦM NON CHIỀNG SINH
- CHIỀNG SINH - SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
số liệu.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua.
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Người thực hiện Phạm Thị Phương Thảo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Đóng góp của đề tài 4
7. Cấu trúc của đề tài 4
NỘI DUNG 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1. Đặc diểm sinh lý và nhu cầu năng lượng của trẻ em 5
1.1.1. Đặc điểm sinh lý 5
1.1.2. Nhu cầu năng lượng 6
1.2. Tình trạng dinh dưỡng 6
1.2.1. Suy dinh dưỡng 6
1.2.2. Béo phì 7
1.3. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em 7
3.1.2.1. Cân nặng của trẻ em mầm non theo giới tính 25
3.1.2.2. Cân nặng của trẻ em mầm non theo dân tộc 27
3.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ mầm non 28
3.2.1. Tình trạng dinh dưỡng chung 28
3.2.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em theo giới tính 30
3.2.3. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em theo dân tộc 32
3.3. Mức độ suy dinh dưỡng 34
3.3.1. Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 34
3.3.2. Suy dinh dưỡng thể thấp còi 37
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn chiều cao trung bình của trẻ em mầm non 20
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn chiều cao của trẻ em mầm non theo giới tính 21
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chiều cao của trẻ em mầm non theo 22
giới tính. 22
Hình 3.4. Biểu đồ biểu diễn chiều cao của trẻ em mầm non theo dân tộc 23
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chiều cao của trẻ mầm non 23
theo dân tộc. 23
Hình 3.6. Biểu đồ biểu diễn cân nặng trung bình của trẻ em mầm non 25
Hình 3.7. Biểu đồ biểu diễn cân nặng trung bình của trẻ mầm non giới tính 26
Hình 3.8. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của trẻ em mầm non 26
theo giới tính 26
Hình 3.9. Biểu đồ biểu diễn cân nặng trung bình của trẻ mầm non theo dân tộc.
27
Hình 3.10. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của trẻ em mầm non 28
theo dân tộc 28
Hình 3.11. Biểu đồ biểu diễn tình trạng dinh dưỡng của trẻ mầm non theo tuổi 29
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là một tài sản quý giá, là chủ nhân tương lai của đất nước, là những
con người sẽ tiếp bước kế tục sự nghiệp của cha ông. Chính vì thế mà mọi quốc
gia, mọi xã hội đều dành cho trẻ những điều kiện tốt nhất để phát triển. Một
quốc gia cường thịnh, văn minh chỉ khi có những con người khỏe mạnh, trí tuệ
cao. Vì vậy, chăm sóc - giáo dục trẻ càng mang một ý nghĩa nhân văn cụ thể và
trở thành một đạo lý của thế giới văn minh. Để có một thế hệ hoàn thiện nhân
cách toàn diện trong tương lai thì phải đảm bảo cung cấp cho trẻ nền móng phát
triển thể chất tốt.
Giáo dục mầm non là mắc xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Mục đích chung của giáo dục mầm non là phát triển tất cả các khả năng của trẻ,
hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, tạo điều kiện cho trẻ
em có nhiều cơ may thắng lợi trên con đường học hành cũng như trên cuộc sống.
Trẻ em lứa tuổi mầm non là một đối tượng đặc biệt, cơ thể đang sinh
trưởng và phát triển nhanh chóng nhưng các hệ cơ quan lại chưa hoàn thiện. Đây
là giai đoạn phát triển nền tảng, có ý nghĩa quan trọng cho các giai đoạn tiếp
theo. Cùng với sự thay đổi trong chính gia đình cũng như những hoạt động đặc
biệt trong trường mầm non đã tác động không nhỏ đến tình trạng dinh dưỡng
cũng như trạng thái tâm sinh lý của trẻ. Do đó, khuynh hướng mắc các bệnh về
dinh dưỡng và chuyển hoá (suy dinh dưỡng protein và năng lượng, thiếu vitamin
A, còi xương, thừa cân – béo phì…) ở nhóm tuổi này ngày càng gia tăng và rất
khó kiểm soát.
Sự phát triển cơ thể của trẻ em là một quá trình sinh học rất phức tạp trong
đó tầm vóc, trọng lượng và kích thước cơ thể phát triển nhanh và các loại cơ
quan có sự hoàn thiện về chức năng. Vì vậy mọi lứa tuổi trẻ em có đặc điểm
Sơn La là một tỉnh nghèo nằm ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Mặc dù, chương
trình phòng chống suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 6 tuổi đã và đang được thực
hiện tại đây, song hiệu quả còn chưa cao.
Chính vì nhưng lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá tình trạng dinh dƣỡng của trẻ em trƣờng mầm non Chiềng Sinh -
Chiềng Sinh - Sơn La”.
3
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường mầm non Chiềng Sinh
- Chiềng Sinh - Sơn La dựa trên các chỉ số thể lực (chiều cao và cân nặng).
- Ứng dụng phần mềm WHO Anthro và WHO Anthroplus để đánh giá tình
trạng dinh dưỡng của trẻ mầm non.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định tình trạng thể lực (chiều cao và cân nặng) của trẻ em trường
mầm non Chiềng Sinh - Chiềng Sinh - Sơn La.
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường mầm non Chiềng Sinh
- Chiềng Sinh - Sơn La dựa trên 3 chỉ tiêu: cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, cân
nặng/chiều cao.
- Khả năng và cách sử dụng phần mềm WHO Anthro và WHO
Anthroplus để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ mầm non.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 229 trẻ em có độ tuổi từ 2 - 5 tại trường mầm
non Chiềng Sinh - Chiềng Sinh - Sơn La.
Các trẻ được chọn để nghiên cứu có sức khoẻ bình thường, không có dị tật
bẩm sinh hoặc bệnh truyền nhiễm, trạng thái tâm - sinh lý bình thường.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu sách tài liệu có liên quan
đến đề tài, đọc và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến cơ sở lý luận của
vấn đề nghiên cứu và các tài liệu có liên quan đến dinh dưỡng của trẻ mầm non.
triển của trẻ em là quá trình liên tục, từ lúc trứng mới được thụ tinh cho đến khi
trưởng thành. Quá trình lớn và phát triển của trẻ em cũng tuân theo quy luật
chung của sự tiến hoá sinh vật: đi từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Quá
trình tiến hoá này không phải chỉ là một quá trình tuần tiến mà có những bước
nhảy vọt; có sự khác nhau về chất chứ không đơn thuần về mặt số lượng.
Đặc điểm chung về sinh lý đối với nhóm trẻ dưới 6 tuổi là [25]:
Tốc độ tăng trưởng rất nhanh, do đó nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cũng rất
cao. Chức năng của các bộ phận trong cơ thể phát triển nhanh chóng, nhưng
vẫn chưa hoàn thiện. Cơ lực tăng mạnh, chức năng vận động phối hợp động tác
tăng dần. Vì vậy, trẻ ngày càng thực hiện được những động tác khéo léo, gọn
gàng hơn.
Các hệ cơ quan phát triển rất nhanh về hình thái và hoàn thiện dần về
chức năng, đồng thời trẻ cũng rất nhạy cảm với các yếu tố thuận lợi cũng như
bất lợi tác động đến cơ thể.
Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại biên
đã biến hoá, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số lượng
các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều
kiện tốt, trí tuệ phát triển nhanh.
Tình trạng miễn dịch thụ động (IgG từ mẹ truyền sang) giảm nhanh, trong
khi khả năng tạo miễn dịch chủ động kém.
Về đặc điểm bệnh lý thời kì này hay gặp là các bệnh về dinh dưỡng và
chuyển hoá (suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương, tiêu chảy cấp ) và các bệnh
nhiễm khuẩn (viêm đường hô hấp, viêm phổi, viêm màng não mủ ). 6
1.1.2. Nhu cầu năng lượng
Dinh dưỡng có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự sống và phát
triển của trẻ em. Trẻ em được nuôi dưỡng tốt sẽ phát triển khoẻ mạnh, có sức
chống đỡ đối với các bệnh tật và phát triển trí thông minh. Ngược lại, nếu trẻ
trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa
dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai.
1.2.1. Suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các
vi chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức
7
độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh
thần và vận động của trẻ [24].
Tuỳ theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà SDD biểu hiện ở các thể
khác nhau:
Thể phù (Kwashiorkor) do trong khẩu phần ăn của trẻ ăn quá nhiều chất
bột, nhưng lại thiếu chất đạm và chất béo.
Thể teo đét (Marasmus) thường gặp nhất. Đó là hậu quả của chế ăn thiếu
cả năng lượng và protein trong một thời gian dài làm cho cơ thể trẻ gầy đét, cân
nặng còn dưới 60% so với cân nặng chuẩn.
Ngoài ra, còn gặp trẻ SDD thể hỗn hợp (Marasmus - Kwashiorkor): cân
nặng của trẻ dưới 60%, cơ thể trẻ gầy nhưng lại bị phù.
1.2.2. Béo phì
Béo phì là tình trạng tích tụ quá nhiều mỡ trong cơ thể do dư thừa năng
lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày so với nhu cầu tiêu hao của cơ thể trong
thời gian dài.
Sự tích lũy năng lượng sẽ xảy ra khi cơ thể ăn vào một lượng thức ăn quá
nhiều so với nhu cầu, lâu ngày những chất dinh dưỡng dư thừa như chất đạm,
chất béo, chất đường đều chuyển hóa thành mỡ để dự trữ, gây nên tình trạng béo
phì. Trong những năm gần đây, tỷ lệ béo phì có xu hướng gia tăng nhanh chóng,
đặc biệt là ở những thành phố lớn.
1.3. Phƣơng pháp đánh giá tình trạng dinh dƣỡng trẻ em
1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Bốn nhóm chỉ tiêu thường được các nhà khoa học dùng để đánh giá tình
6 -10cm mỗi năm [15]. Sau đó, sức lớn chậm lại, mỗi năm chỉ tăng khoảng 2cm.
Để theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ, có thể áp dụng công thức
tính chiều cao trung bình cho trẻ trên 1 tuổi như sau ( theo [15], [25],)
H = 75cm + 5cm (N – 1)
Trong đó: H - chiều cao trung bình của trẻ trên 1 tuổi (cm);
N - số tuổi của trẻ;
75cm - chiều cao trung bình của trẻ lúc 1 tuổi;
5cm - Chiều cao tăng trung bình mỗi năm.
9
1.3.2.2. Cân nặng
Cân nặng là một số đo quan trọng thường được sử dụng trong các công
trình điều tra về hình thái người. Khối lượng cơ thể liên quan đến nhiều kích
thước khác nhau nên thường được dùng để đánh giá sự phát triển của cơ thể. Đối
với cơ thể bình thường trong giai đoạn tăng trưởng, khối lượng cơ thể thường
xuyên tăng lên nhưng không đồng đều [24]. Cân nặng có quan hệ chặt chẽ với
điều kiện kinh tế - xã hội và chịu tác động tức thời của chế độ ăn uống cũng như
liên hệ mật thiết với tình hình sức khoẻ và bệnh tật của mỗi người. Cân nặng của
một người nói lên mức độ và tỉ lệ giữa hấp thu và tiêu hao năng lượng.
Cân nặng tăng dần theo tuổi nhưng không đồng đều trong các giai đoạn
khác nhau của cơ thể. Có thể tính cân nặng trung bình của trẻ theo các công thức
sau (theo [15], [24], [25]).
* Trẻ dưới 1 tuổi, cân nặng tăng rất nhanh, tăng trung bình 500 - 600g/tháng.
P = P
ss
+ 500 (600)
g
x n
Trong đó: P - Cân nặng trung bình của trẻ (kg)
P
Theo WHO, suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi là chỉ số đáng tin cậy để đo
lường thiệt hại chung của xã hội vì nó đánh giá các điều kiện xã hội dài hạn.
Cân nặng theo chiều cao phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng ở thời kì
hiện tại làm cho trẻ gầy còm, bị sụt cân hoặc không tăng cân. Nguyên nhân của
tình trạng này là do thiếu ăn hoặc do mắc các bệnh cấp tính. Đây là chỉ số phản
ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng cấp, hiện tại cần được ưu tiên can thiệp.
Bảng 1.2. Phân loại mức độ dinh dưỡng của trẻ em dưới 6 tuổi
Phân loại
Cân nặng/tuổi
(W/A)
Chiều cao/ tuổi
(H/A)
Cân nặng/chiều
cao (W/H)
Bình thường
-2SD đến +2SD
-2SD đến +2SD
-2SD đến +2SD
Béo phì
> +2SD
> +2SD
> +2SD
Suy dinh dưỡng
Độ I
Độ II
Độ III
< -2SD
-3SD đến -2SD
-4SD đến -3SD
< -4SD
Nguyên nhân sâu xa của SDD là do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ bà mẹ - trẻ em, các vấn đề về nước sạch và vệ sinh môi trường, thành
phần dân tộc, tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh
Nguyên nhân gốc rễ của SDD trẻ em là nghèo đói và thiếu kiến thức. Đói
nghèo chủ yếu rơi vào những hộ gia đình có trình độ học vấn thấp, khó có cơ
hội tiếp xúc với thông tin và với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Mặt khác,
phần lớn các hộ gia đình nghèo, nhất là vùng nông thôn và miền núi lại thường
sinh nhiều con nên chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn của trẻ không được đảm
bảo. Chính điều này lại tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo, khó giải quyết.
12
1.5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.5.1. Những nghiên cứu trên thế giới
Ngay từ khi sinh ra để tồn tại thì con người đã phải tìm kiếm thức ăn cho
mình. Ban đầu chỉ nhằm chống lại cái đói thì sau này xã hội phát triển người ta
ăn cần phải ngon và đủ chất.
Ngay từ thời kì trước công nguyên, danh y học phương tây Hipocrat đã
cho rằng ăn uống có vai trò quan trọng trong điều trị (Thức ăn cho bệnh nhân
phải là một phương tiện điều trị trong phương tiện điều trị của chúng ta có các
chất dinh dưỡng).
Năm 1729, quyển sách đầu tiên về sự tăng trưởng chiều dài ở người
J.S.Stoeller đã xuất bản ở Đức. Nhưng trong quyển sách này chưa có số liệu đo
đạc cụ thể. Và cũng ở Đức trong năm này thì đã nghiên cứu về sự tăng trưởng
chiều cao ở người và sự phát triển axit amin đã đánh dấu bước ngoặt khởi đầu về
nghiên cứu sự phát triển chiều cao ở người và các phát hiện cụ thể về dinh dưỡng.
Năm 1754, Chistian Friedrich Jumbpet (Đức) đã trình bày số liệu đo đạc
về cân nặng, chiều cao đó là công trình nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng
trưởng ở trẻ em. Tuy nhiên, phải đến năm 1925, R.Martina (Đức) mới đề xuất
1.5.2. Những nghiên cứu tại Việt nam
Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, khoa học dinh dưỡng mới phát triển
mạnh mẽ với sự tham gia của các giáo sư: Hà Huy Khôi, Lê Thành Uyên, Đỗ Xuân
Hợp,… với các nghiên cứu về thể lực và dinh dưỡng được triển khai mạnh mẽ.
Sau khi thành lập, Viện dinh dưỡng đã tiến hành các cuộc tổng điều tra
dinh dưỡng, dịch tễ học các bệnh về dinh dưỡng, đồng thời tổ chức các cuộc hội
thảo nuôi con bằng sữa mẹ, hội thảo hội nghị phòng chống SDD và phòng chống
các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng…
Hàng năm, Viện dinh dưỡng vẫn đưa ra số liệu thống kê về tỉ lệ suy dinh
dưỡng của trẻ em Việt Nam và có những số liệu cụ thể về tỉ lệ SDD ở các vùng
miền với những tiêu chí khác nhau như: cân nặng theo độ tuổi, chiều cao theo
tuổi, cân nặng theo chiều cao. Các thống kê đã chỉ ra rằng: tỷ lệ SDD trẻ em
miền núi ở cả 3 thể luôn cao nhất so với các vùng trong cả nước và tỷ lệ trẻ em
14
SDD ở các dân tộc thiểu số thường cao hơn rất nhiều so với trẻ em người Kinh ở
cùng một khu vực.
Rất nhiều tác giả như: Đinh Bá Tuấn, Nguyễn Tự Lập, Lê Thị Ngọc Anh,
Lê Doanh Tuyên đã có các công trình nghiên cứu về SDD, dịch tễ học, phòng
chống SDD ở đối tượng trẻ em 0 – 60 tháng tại Hà Nội và một số thành phố lớn.
Các công trình nghiên cứu đã phân tích trên các kích thước tổng thể, một số kích
thước vòng và một số chỉ số phát triển cơ thể. Từ đó, các tác giả đưa ra những
nhận xét về quy luật phát triển cơ thể tốc độ tăng trưởng và kích thước hình thái
đồng thời so sánh các tài liệu trước đây ở Việt Nam và nước ngoài.
Từ trước đến nay vấn đề ăn uống, dinh dưỡng đã được chú ý đáng kể.
Nước ta đã cải thiện và giảm được tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng xuống đáng kể với
những giải pháp, những chương trình phòng chống quốc gia. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ
suy dinh dưỡng trẻ em vẫn là một trong những nước có tỷ lệ cao nhất thế giới
nên vẫn cần có những sự quan tâm của các cấp, các ngành cũng như sự phối kết
hợp của toàn xã hội vẫn cần có những công trình nghiên cứu về vấn đề này để có
Chung
Giới tính
Dân tộc
Nam
Nữ
Kinh
DT thiểu số
n
%
n
%
n
%
n
%
2
66
40
60.60
26
39.39
44
66.67
22
33.33
3
55
23
41.81
32
42.36
155
67.69
74
32.31
16
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nhân trắc
- Đo chiều cao: Chiều cao được tính bằng đơn vị centimet (cm). Sử dụng
thước đo bằng gỗ có độ chính xác đến 0,1cm.
+ Đo chiều dài nằm đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi: thước đo đặt trên mặt
phẳng nằm ngang. Tháo bỏ giày dép, quần áo của trẻ để không làm ảnh hưởng
đến việc đo chiều dài. Để trẻ nằm thẳng trên ván của thước đo, hướng mắt trẻ
vuông góc với mặt thước. Hai tay của trẻ duỗi tự do, mắt nhìn thẳng, đầu chạm
đế thước. Chân thẳng. Bàn chân áp sát với thanh chạy trên mặt thước. Đọc kết
quả với một số lẻ.
+ Đo chiều cao đứng đối với trẻ từ 36 đến 60 tháng: Đặt thước đo trên mặt
phẳng cứng (tựa vào tường, bàn ). Thước đứng vững, vuông góc với mặt đất
nằm ngang. Trẻ đi chân không, dựa lưng vào thước, bàn chân ở giữa thước. Gót
chân, bắp chân, mông, vài và đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước, mắt
nhìn thẳng về phía trước theo đường nằm ngang, hai tay bỏ xuôi theo thân mình.
Khi vị trí của trẻ đã chính xác, ép thanh trượt vào sát đầu, đọc số đo chính xác
đến 0,1cm.
- Cân nặng: Đơn vị tính là kilogam (kg). Sử dụng cân đồng hồ Nhơn Hoà
có độ chính xác tới 0,1kg, trọng lượng tối đa là 25kg. Cân đã được kiểm tra,
chuẩn hoá, hiệu chỉnh về 0 trước khi tiến hành nghiên cứu và luôn điều chỉnh lại
sau mỗi lần cân. Khi cân, trẻ chỉ mặc bộ quần áo mỏng, không mang giày dép,
đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn chân áp sát vào nhau. Đọc kết quả với 1
số lẻ.
n
X
X
n
i
i
1
- Tính độ lệch chuẩn theo công thức:
n
XX
SD
n
1i
2
i
Trong đó: X - Giá trị trung bình;
X i - Giá trị thứ i của đại lượng X
i
n
i
n
i
n
i
n
i
n
i
nn
1
2
1
i
2
i
1
2
1
i
2
i
1 1 1
iiii
YY.XX
YXYXn
r