Đánh giá chất lượng tinh trùng sau bảo quản lạnh sâu ở những mẫu nhược tinh đã được lọc rửa - Pdf 19

B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
=== ===

PHM TH THU THY

ĐáNH GIá CHấT LƯợNG TINH TRùNG
SAU BảO QUảN LạNH sâu ở NHữNG
MẫU NHƯợC TINH Đã ĐƯợC LọC RửA
LUN VN THC S Y HC H NI - 2011

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Bảo quản lạnh mô và tế bào là kỹ thuật bảo quản mô và tế bào sống ở
nhiệt độ cực thấp. Quá trình sống đòi hỏi sự vận động của các phân tử trong
môi trường nước. Bảo quản lạnh làm môi trường nước ở trong và ngoài tế bào
biến đổi thành thể rắn, quá trình đó làm ngừng chuyển động các phân tử và
các quá trình sinh học trong tế bào. Bảo quản lạnh được coi là thành công nếu
tế bào trở lại hoạt động sống bình thường, không bị tổn thương về cấu trúc
cũng như chức năng khi đưa về 37
o
C [6], [23].
Bảo quản lạnh tinh trùng là một kỹ thuật quan trọng thường được sử dụng
trong hỗ trợ sinh sản. Kỹ thuật này được thực hành rộng rãi để lưu trữ tinh trùng
trước khi tiến hành thụ tinh nhân tạo hay thụ tinh trong ống nghiệm [40].
Chất lượng tinh trùng sau bảo quản lạnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
chất lượng tinh trùng trước bảo quản lạnh, quy trình bảo quản, môi trường bảo
quản, nhiệt độ bảo quản.
Sau bảo quản lạnh các mẫu tinh trùng bình thường, nhiều nghiên cứu
cho thấy các chỉ số về mật độ, độ di động, khả năng sống của tinh trùng đều
giảm rõ rệt so với trước khi bảo quản [13],[27],[67]. Đánh giá ảnh hưởng của
quá trình bảo quản lạnh lên chất lượng tinh trùng ở mẫu tinh dịch bất thường
là vấn đề gần đây đang được quan tâm [19],[24],[50]. Quá trình này góp phần
bảo quản, lưu giữ các tinh trùng được coi là quý hiếm đối với những bệnh

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẠI CƢƠNG VỀ VÔ SINH NAM.
Vô sinh là một vấn đề của toàn xã hội. Vô sinh hiện nay có chiều hướng
ngày càng gia tăng. Theo những số liệu điều tra dân số trong những năm gần
đây, có khoảng 7-10% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ bị vô sinh
[8],[11]. Trên thế giới vô sinh cũng chiếm một tỷ lệ tương tự, vào khoảng 10-
15% [54].
Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng vô sinh, trong đó nguyên nhân
do nam và do nữ là ngang nhau [12].
Trong số các nguyên nhân gây vô sinh ở nam giới, có đến 90% nguyên
nhân do bất thường tinh trùng [11]. Những bất thường tinh trùng thường gặp
là: số lượng tinh trùng ít (thiểu tinh), tinh trùng di động kém (nhược tinh),
tinh trùng dị dạng (quái tinh) và không có tinh trùng (vô tinh) [8].
R. Gurevich (2010) cho biết tỉ lệ nam giới bị vô sinh do không có tinh
trùng chiếm 10-15% và tỉ lệ những người không có tinh trùng chiếm khoảng
1% dân số nói chung [54]. Tác giả Nguyễn Xuân Quý (2004) khi nghiên cứu
trên 396 cặp vợ chồng điều trị vô sinh cho kết quả: vô tinh chiếm tỷ lệ 10,1%,
thiểu tinh chiếm 27,3%, tỷ lệ nhược tinh là 71,9 % và quái tinh chiếm tỷ lệ
74,2 % [11].
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Poongothai J. (2009) có đến >50%
các trường hợp vô sinh nam không rõ nguyên nhân [53].


5
1.2. NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN LẠNH SÂU TINH TRÙNG NGƢỜI.
1.2.1. Lịch sử phát triển của phƣơng pháp bảo quản lạnh sâu tinh trùng ngƣời.
* Trên thế giới
Ngay từ năm 1776, Spallanzani lần đầu tiên đã dùng nhiệt độ lạnh sâu -
78
o
C và không sử dụng môi trường để bảo quản tinh trùng. Đến năm 1937,
Bernstein và Petropavloski đã tiến hành bảo quản thành công các tinh trùng
của bò, cừu, ngựa, heo rừng và thỏ ở nhiệt độ -21
o
C. Nghiên cứu của Jahnel
(1938) và Parkes (1945) đã công bố phương pháp làm lạnh tinh trùng người
[dẫn từ 67].
Hoagland và Pincus (1942) đã mô tả quá trình làm lạnh nhanh tinh trùng
người và thỏ bằng việc sử dụng vòng làm lạnh đối với các mẫu nhỏ. Các tác
giả thu được kết quả lên đến 40% tinh trùng còn sống sót sau phương pháp
bảo quản này [dẫn từ 67].
Đến năm 1949, Polge và cộng sự đã sử dụng glycerol làm môi trường
bảo quản lạnh. Sử dụng glycerol trong bảo quản lạnh tinh trùng đã đem lại kết
quả khả quan. Nghiên cứu của Polge và cộng sự được coi là dấu mốc quan
trọng của bảo quản lạnh mẫu sinh vật hiện đại.
Năm 1953, đứa trẻ đầu tiên đã ra đời từ tinh trùng bảo quản lạnh. Trong
những năm tiếp theo, phương pháp này được áp dụng rộng rãi cùng với các kỹ
thuật (hạ nhiệt độ, đóng gói, sử dụng môi trường bảo quản) ngày càng tiến bộ.
Smirnov (1949) đã bảo quản lạnh thành công tinh trùng thỏ trong nitơ
lỏng. Đến năm 1963-1964, phương pháp làm lạnh tinh trùng trong nitơ lỏng
chính thức ra đời. Sherman (1962) đã bảo quản tinh trùng ở nhiệt độ -196
o

vực này. Gần đây, kỹ thuật bảo quản tinh trùng phát triển khá nhanh cùng với
sự ra đời của các ngân hàng tinh trùng trong nước đã đáp ứng được nhu cầu
điều trị của số lượng lớn bệnh nhân.
Phương pháp bảo quản tinh trùng được áp dụng phổ biến ở Việt Nam
hiện nay là bảo quản tinh trùng ở nhiệt độ lạnh sâu -196
o
C, trong nitơ lỏng,
quy trình hạ nhiệt độ từ từ, có sử dụng môi trường bảo quản [14].

7
1.2.2. Những nghiên cứu về quy trình bảo quản lạnh sâu tinh trùng ngƣời.
Nghiên cứu về quy trình bảo quản lạnh sâu tinh trùng người đã được
nhiều tác giả đề cập và đưa ra những quy trình bảo quản khác nhau. Nhìn
chung, quy trình bảo quản tinh trùng người gồm các bước sau:
- Chọn mẫu và xét nghiệm tinh dịch.
- Cân bằng với môi trường bảo quản lạnh.
- Đóng gói.
- Hạ nhiệt độ.
- Lưu trữ trong nitơ lỏng.
- Tan đông.
1.2.2.1. Chọn mẫu và xét nghiệm tinh dịch
Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà mẫu tinh dịch được chọn để xét
nghiệm sẽ có các tiêu chuẩn khác nhau. Cách đánh giá mẫu tinh dịch đa số
các tác giả áp dụng theo tiêu chuẩn của WHO 1999. Hiện nay, Bộ môn Mô-
Phôi, Đại học Y Hà Nội và nhiều cơ sở khác cũng đã áp dụng tiêu chuẩn này
trong xét nghiệm tinh dịch đồ.
1.2.2.2. Cân bằng với môi trường bảo quản lạnh
Nhiều tác giả đã sử dụng nhiều loại môi trường khác nhau để bảo quản
tinh trùng người. Công bố về hiệu quả của các môi trường trong bảo quản
lạnh tinh trùng cũng rất khác nhau.

còn đề xuất sử dụng cọng rạ tự kéo để bảo quản một lượng nhỏ tinh trùng
người cho kết quả khả quan hơn việc sử dụng cọng rạ thông thường [31].

9

Hình 1.1. Sơ đồ minh họa các bước đóng gói trong bảo quản tinh trùng người [59].
1,2 : Cho môi trường bảo quản (glycerol) vào mẫu tinh dịch.
3,4 : Nạp mẫu tinh dịch đã có chất bảo quản vào cọng rạ.
5,6 : Hàn kín cọng rạ chứa tinh dịch bằng máy ép nhiệt.
7,8 : Cọng rạ được đưa vào giá đông lạnh.

10
Sau khi nạp tinh dịch vào dụng cụ đóng gói, đầu của dụng cụ sẽ được bịt
kín bằng máy ép nhiệt hoặc cement chuyên dụng hoặc bằng vặn chặt nút. Sau
đó, cọng rạ hoặc tuýp chịu lạnh chứa mẫu được đưa vào giá hoặc khung đông
lạnh (hình 1.1).
1.2.2.4. Hạ nhiệt độ
Có nhiều phương pháp hạ nhiệt độ khác nhau. Ngay từ năm 1776,
Spallanzani lần đầu tiên đã dùng nhiệt độ lạnh sâu -78
o
C để bảo quản tinh
trùng. Đến năm 1937, Bernstein và Petropavloski đã tiến hành bảo quản thành
công các tinh trùng của động vật có vú ở nhiệt độ -21
o
C. Theo Kuleshova Lilia
và cộng sự (2002) tinh trùng người có thể được bảo quản thành công bằng kỹ
thuật thủy tinh hóa với tốc độ làm lạnh cực nhanh (lên đến 7,2x10

- Giai đoạn 2: hạ nhiệt từ -10
o
C → -120
o
C, trong 20 phút, tốc độ hạ
nhiệt: 5,5
o
C/ phút.
- Giai đoạn 3: hạ nhiệt từ -120
o
C → -196
o
C, trong 5 phút, tốc độ hạ
nhiệt: 15,2
o
C/ phút.
Hiện nay, Bộ môn Mô-Phôi, Trường Đại học Y Hà Nội đang sử dụng
quy trình hạ nhiệt độ chậm bằng hơi nitơ lỏng (hạ nhiệt độ ở cổ bình nitơ lỏng
theo kinh nghiệm), kết quả cũng tương đương với hạ nhiệt độ bán tự động
bằng máy Nicool 10.
1.2.2.5. Lưu trữ trong nitơ lỏng
Lưu trữ tinh trùng trong nitơ lỏng là phương pháp đang được dùng phổ
biến hiện nay. Theo nhiều tác giả: bảo quản tinh trùng ở nhiệt độ -196
o
C chất
lượng tinh trùng ít bị ảnh hưởng vì ở nhiệt độ rất thấp như vậy môi trường
nước trong và ngoài tế bào biến thành thể rắn, tế bào ở trạng thái ngừng hoạt
động tạm thời.
Tinh trùng được bảo quản trong nitơ lỏng trong thời gian dài liệu có bị
ảnh hưởng nhiều đến chất lượng không? Theo Yogev L và cộng sự (2010) khi

có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, thắt ống dẫn tinh, hóa trị liệu, liệu
pháp xạ trị điều trị các bệnh ung thư…Gần đây, BQL được sử dụng để lưu trữ
các tinh trùng được hút từ mào tinh hay tinh hoàn để dùng trong HTSS có độ
phức tạp cao.
Cho đến nay, đã có nhiều phương tiện dùng để trữ lạnh tinh trùng được
đề cập đến. Kỹ thuật đông lạnh một lượng nhỏ tinh trùng với tốc độ cực
nhanh bằng cách sử dụng vòng bảo quản lạnh đã được thông báo, giảm thời
gian đông lạnh chỉ còn 5 phút [39],[57]. Levi Setti và cs (2003) đã trữ lạnh
tinh trùng trong màng trong suốt của trứng người có sử dụng môi trường
TEST-Yolk cho tỷ lệ hồi phục của tinh trùng là 73% [43]. Tuy nhiên, kỹ thuật
này có một số hạn chế, ví dụ do phản ứng của màng trong suốt, tinh trùng có
thể bị mắc kẹt dẫn đến giảm tỷ lệ tinh trùng hồi phục sau rã đông, hơn nữa kỹ
thuật này vừa khó vừa mất nhiều thời gian [31].

13
Một số tác giả còn đề cập đến kỹ thuật trữ lạnh tinh trùng bằng dịch
treo nhưng kỹ thuật này thường không thích hợp với các trường hợp bệnh
nhân bị vô tinh, thiểu tinh nặng hoặc bệnh nhân có ít tinh dịch. Bởi vì sau
phương pháp đông lạnh và rã đông truyền thống, sử dụng kỹ thuật ly tâm pha
loãng tinh dịch có thể làm giảm lượng tinh trùng [31].
Năm 2004, Vladimir I. và cộng sự đã phát triển một kỹ thuật mới và
bảo quản lạnh tinh trùng bằng phương pháp thủy tinh hóa không cần chất bảo
quản bằng cách nhúng trực tiếp dịch treo có tinh trùng vào nitơ lỏng [67]. Các
phương pháp truyền thống của thủy tinh hóa đòi hỏi nồng độ chất bảo quản
cao với các hậu quả tác động thẩm thấu và độc hại gây chết tế bào. Kết quả là
các tinh trùng của động vật có vú nhạy cảm với các chất hóa học không thể
được bảo quản thành công bằng phương pháp thủy tinh hóa thông thường.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả so sánh độ di động, sự toàn vẹn DNA và
khả năng thụ tinh của tinh trùng giữa hai phương pháp thủy tinh hóa không
chất bảo quản tốc độ nhanh và tốc độ chậm. Kết quả cho thấy: cả hai phương

lượng tinh trùng di động tiến tới và tỷ lệ có thai sau khi làm IUI ở mẫu thiểu
tinh và nhược tinh đã được lọc rửa [50]. Việc lọc rửa đã giúp chọn lọc được
những tinh trùng có chất lượng tốt để bảo quản, do đó làm tăng chất lượng
tinh trùng sau bảo quản.
Mục tiêu bảo quản tinh trùng lạnh sâu là tinh trùng sau bảo quản có
chất lượng cao nhất. Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Ngân hàng Mô Hoa Kỳ:
Tỷ lệ tinh trùng di động sau bảo quản phải đạt được ≥ 50% so với tỷ lệ tinh
trùng di động trước bảo quản [59].
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây bảo quản tinh trùng người là lĩnh
vực rất phát triển. Tác giả Hồ Mạnh Tường (2000) đã đánh giá độ di động sau
bảo quản so với trước bảo quản bằng chỉ số CSF (Cryosurvival Factor):

15
CSF = % tinh trùng di động sau rã đông : % tinh trùng di động trước
trữ lạnh x 100%.
Tác giả nhận thấy những mẫu tinh dịch có mật độ tinh trùng ≥
50.10
6
/ml và tỷ lệ tinh trùng di động ≥ 50%, chỉ số CSF là 53%. Trong khi đó
những mẫu tinh dịch có mật độ tinh trùng < 50.10
6
/ml và tỷ lệ tinh trùng di
động < 50%, chỉ số CSF là 35,6% [15].
Theo Trần Văn Hanh và cộng sự (2000), những mẫu tinh dịch được
bảo quản sau khi đã lọc rửa có chỉ số CSF là 53,2 % sau bảo quản 3 tháng,
48,1 % sau 6 tháng và 41,5 % sau 12 tháng. Tác giả nhận thấy: Hình thái siêu
cấu trúc của tinh trùng sau bảo quản là bình thường [5].
1.2.4. Sự tổn thƣơng tinh trùng trong quá trình bảo quản lạnh.
Tổn thương tinh trùng trong quá trình trữ lạnh là do hiện tượng tạo
thành các tinh thể đá trong và ngoài tế bào [17]. Hiện tượng này xảy ra trong

ức chế di động tinh trùng, do đó cải thiện được chất lượng tinh trùng trước
bảo quản lạnh.
Trong những năm gần đây, kỹ thuật trữ lạnh tinh trùng bằng phương
pháp thủy tinh hóa (đông tinh nhanh) đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều
nơi trên thế giới. Với kỹ thuật này, sự thành công phụ thuộc vào việc loại bỏ
nước trong các tế bào trong quá trình trữ lạnh. Nếu nước còn sót lại trong tế
bào sẽ hình thành nên các tinh thể đá. Chính những tinh thể đá này hoạt động
như “những con dao” và nó sẽ phá hủy bên trong tế bào hoặc “cắt” đứt làm vỡ
màng của tế bào. Như vậy, tinh trùng sẽ khó có khả năng sống sau rã đông.
Để tránh sự hình thành các tinh thể đá, kỹ thuật trữ lạnh tinh trùng bằng
phương pháp thủy tinh hóa có “chất bảo vệ” được thêm vào để thay thế hầu
hết nước có trong tinh trùng. “Chất bảo vệ” sẽ ngăn ngừa hình thành tinh thể
đá, nên tinh trùng sẽ được an toàn trong quá trình trữ lạnh.

17
1.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ BẢO QUẢN LẠNH SÂU CÁC MẪU
TINH TRÙNG ĐÃ ĐƢỢC LỌC RỬA.
1.3.1. Khái niệm về lọc rửa tinh trùng.
Lọc rửa tinh trùng là phương pháp tách tinh trùng khỏi tinh tương, được
sử dụng nhiều trong hỗ trợ sinh sản.
Các phương pháp lọc rửa tinh trùng ban đầu chỉ là kỹ thuật ly tâm để
tách tinh trùng khỏi tinh tương một cách đơn giản. Tuy nhiên, hiệu quả của
các phương pháp này không cao và kỹ thuật chỉ thực hiện được trên tinh dịch
có nhiều tinh trùng di động.
Ngày nay, có nhiều phương pháp lọc rửa tinh trùng đã được ứng dụng.
Các phương pháp này dựa trên các nguyên tắc khác nhau như: di cư, lọc hay
thang nồng độ để tách các tinh trùng có khả năng di động ra khỏi tinh dịch.
Phương pháp lọc rửa tinh trùng hiệu quả là phải thu được nhiều tinh trùng di
động, không gây thương tổn cho tinh trùng hoặc làm mất chức năng sinh lý
của tinh trùng, loại bỏ được tinh trùng chết và các tế bào khác như bạch cầu,

o
C. Sau đó, lớp môi trường nuôi cấy
có chứa tinh trùng đã bơi lên được lấy ra một cách cẩn thận từ trên xuống
dưới bằng pipet đã tiệt trùng.
1.3.2.2. Phương pháp ly tâm dựa vào thang nồng độ:
Phương pháp ly tâm dựa vào thang nồng độ ra đời vào những năm 70
của thế kỷ XX. Phương pháp này bao gồm: các thang liên tục và không liên
tục. Với thang liên tục, thang nồng độ sẽ tăng dần từ trên xuống dưới đáy của
ống ly tâm. Trong khi đó, với thang không liên tục thì biên giới giữa các lớp
rõ ràng. Tinh dịch được đặt ở phần trên nhất của ống ly tâm. Sau đó, tiến hành
ly tâm trong vòng 15-30 phút. Trong phương pháp này, tất cả các tế bào theo
lực ly tâm hướng xuống đáy ống. Tuy nhiên, những tinh trùng có độ di động
cao sẽ di chuyển nhanh hơn các tinh trùng không di động hoặc di động kém
nên chúng sẽ lắng xuống tạo lớp cặn mềm ở đáy ống.

19
Trong phương pháp lọc rửa tinh trùng theo thang nồng độ, sản phẩm
Percoll được sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài.
Năm 2000, Ding DC. và cộng sự đã khẳng định vai trò của việc lọc rửa
tinh trùng bằng Percoll bằng kết quả nghiên cứu: tổng số tinh trùng di động và
khả năng di động của tinh trùng sau lọc rửa bằng phương pháp thang nồng độ
Percoll cao hơn so với phương pháp bơi lên [26].
Khi nghiên cứu tỷ lệ có thai trên lâm sàng trong phương pháp hỗ trợ
sinh sản IUI, Tsai YC. và cộng sự (2004) thấy không có sự khác biệt về độ di
động của tinh trùng khi sử dụng Percoll và Puresperm, nhưng tỷ lệ có thai trên
lâm sàng lại cao hơn khi sử dụng Percoll (13,8% so với 12,5%) [65].
Ren SS. và cộng sự (2004) khi so sánh các phương pháp chuẩn bị tinh
trùng cho IUI cũng đã đưa ra kết luận: sử dụng Percoll cho tỷ lệ có thai cao
nhất [55].
Theo Sophonsritsuk A (2005), nghiên cứu trên những mẫu thiểu tinh,

đối với mẫu tinh dịch quá kém (thiểu hoặc nhược tinh) phương pháp ly tâm
thang nồng độ sẽ được ưu tiên sử dụng hơn so với phương pháp bơi lên [68].
1.3.3. Nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật lọc rửa tinh trùng trƣớc bảo quản
lạnh sâu tinh trùng ngƣời.
Lọc rửa tinh trùng là kỹ thuật rất quan trọng trong hỗ trợ sinh sản. Việc
đưa ra được phương pháp tối ưu tách tinh trùng để giữ cho tinh trùng có chức
năng nhất trong việc thụ tinh là cần thiết.
Trong nghiên cứu “So sánh chất lượng tinh trùng sau bảo quản lạnh
trong hơi nitơ và trong nitơ lỏng ở mẫu tinh trùng tươi và mẫu tinh trùng đã
lọc rửa”, Saritha K.R. (2001) thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ sống của tinh
trùng, tỷ lệ tinh trùng di động sau bảo quản lạnh khi trữ lạnh trong hơi nitơ

21
lỏng hoặc trong nitơ lỏng (p>0,05). Tuy nhiên, các tỷ lệ này giảm đáng kể sau
bảo quản lạnh ở mẫu đã lọc rửa so với mẫu tươi [56].
Năm 2001, nghiên cứu của Donnelly E.T và cộng sự cho kết quả: tỷ lệ
tinh trùng di động tiến tới sau rã đông ở mẫu tinh trùng đã được chuẩn bị bằng
thang nồng độ Percoll hoặc bằng phương pháp bơi lên thấp hơn có ý nghĩa
thống kê so với mẫu tinh trùng tươi và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa hai phương pháp lọc rửa: bơi lên và thang nồng độ Percoll. Sự nguyên
vẹn của DNA sau rã đông ở mẫu tinh trùng tươi cũng cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với mẫu tinh trùng đã được lọc rửa [27].
Như vậy, tinh trùng tươi đông lạnh dường như đề kháng tốt hơn với
hiện tượng shock lạnh so với tinh trùng đã được lọc rửa và chất lượng tinh
trùng sau rã đông phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng mẫu tinh trùng trước khi
bảo quản.
Trong nghiên cứu “Đánh giá khả năng sống của tinh trùng sau rã đông ở
các mẫu thiểu tinh và mẫu bình thường được lọc rửa bằng hai phương pháp
bơi lên và thang nồng độ Percoll trước khi bảo quản lạnh”, Counsel M (2004)
đã kết luận: lọc rửa bằng phương pháp bơi lên đã làm tăng khả năng sống của

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƢỢNG.
30 mẫu tinh dịch có tinh dịch đồ bất thường về độ di động của tinh
trùng (mẫu nhược tinh). Các mẫu được bảo quản lạnh sâu (-196
o
C) tại phòng
bảo quản mô, Bộ môn Mô - Phôi học, Trường Đại học Y Hà Nội.
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Các mẫu tinh dịch được chọn có:
• Bất thường về độ di động của tinh trùng: di động tinh trùng dưới mức bình
thường theo tiêu chuẩn của WHO 1999 (tỷ lệ tinh trùng di động A+B < 50%).
+ Các mẫu tinh dịch nghiên cứu được lấy từ đối tượng:
• Nam giới trong độ tuổi : 20 đến 50 tuổi.
• Kiêng xuất tinh từ 3 đến 5 ngày.
• Không sốt, không dùng thuốc, không uống rượu tại thời điểm lấy mẫu.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên các mẫu nhược tinh nên để
đảm bảo cho chất lượng của mẫu sau BQL được tốt hơn, để đảm bảo tính
thống nhất của mẫu nghiên cứu, giảm sai số hệ thống, chúng tôi loại trừ ra
khỏi nghiên cứu các mẫu:
• Không đủ điều kiện trong tiêu chuẩn lựa chọn.
• Thể tích tinh dịch < 3ml.
• Mật độ tinh trùng < 40 triệu/ml.
• Tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới < 20%.

Trích đoạn VỀ QUY TRèNH BẢO QUẢN LẠNH SÂU Lọc rửa tinh trựng Hạ nhiệt độ CHẤT LƢỢNG TINH TRÙNG SAU BẢO QUẢN LẠNH SÂU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status