Các phương pháp đo thứ đánh giá chất lượng đường dây thuê bao số - Pdf 63

Đặng Quốc Anh ADSL – Thực tiễn, giải pháp và triển khai

170
5.8 Các phương pháp đo thử đánh giá chất lượng đường dây thuê bao số 5.8.1 Đo thử một đầu

Đối với đo thử một đầu (single-ended testing) thì đôi dây thuê bao được đo thử từ
tổng đài mà không cần gởi nhân viên kỹ thuật đến vò trí của thuê bao và có thể xét chất
lượng đường dây có thể dung nạp được hay không tốc độ truyền dẫn của tín hiệu DSL.
Đo thử một đầu cho phép đo thử từ tổng đài và cung cấp các thông tin về các bất
lợi trên đường dây như cuộn tải, ngắn mạch, nối đất, ... Đo thử một đầu cho kết quả tin
cậy về khả năng dung nạp dòch vụ DSL của đường dây thuê bao. Đo thử một đầu có thể
tương hợp với các phép đo dựa trên thiết bò đo thử tự động vốn cần thiết cho việc lập hồ
sơ thuê bao hàng loạt phục vụ triển khai dòch vụ DSL. Với các ILEC thì có thể thực hiện
đo thử DSL một đầu bằng các hệ thống đo thử và bộ hồ sơ đường dây thuê bao sẵn có.
Hệ thống đo thử dùng để đo độ dài đường dây và kiểm tra các trở ngại trên đường dây.
Hồ sơ đường dây được sử dụng để kiểm tra sự hiện diện của các nhánh rẽ và các cuộn
tải trên đường dây. Tuy nhiên, nhìn chung sử dụng các kỹ thuật đo hiện thời và hồ sơ
đường dây không đủ để đánh giá ban đầu chất lượng đường dây thuê bao dành cho dòch
vụ DSL.
Các nhà cung cấp dòch vụ cần sử dụng hai chế độ đo khi sử dụng phương pháp
đo một đầu: chế độ đo hàng loạt (batch mode) và chế độ đo theo yêu cầu (on-demand
mode). Chế độ đo hàng loạt dùng để lập hồ sơ dòch vụ để xác đònh đường dây nào có thể
dung nạp dòch vụ DSL và đường dây nào không dung nạp được và cũng đánh giá lượng
công việc cần thiết phải thực hiện để đưa các đường dây thuê bao khác vào phục vụ dòch
vụ DSL. Khả năng đo theo nhu cầu được dùng để xác đònh khả năng triển khai dòch vụ
DSL trên một đường dây thuê bao cụ thể.
Ưu điểm của việc đo thử một đầu là:
- đo đạc tập trung và đồng bộ,

ngay một số vấn đề,
- có thể thực hiện được các phép đo năng lượng tín hiệu phát và năng lượng
nhiễu.
Các nhược điểm của phương pháp đo hai đầu là:
- tăng chi phí triển khai dòch vụ DSL do các lần cử nhân viên kỹ thuật đến
tận vò trí thuê bao,
- với mỗi phiên bản kỹ thuật mới của DSL phải trang bò cho các nhân viên kỹ
thuật các dụng cụ cầm tay mới,
- không thể đo thử số nhiều đường dây được,
- mỗi lần thử đều phải cử nhân viên kỹ thuật đến nhà thuê bao,
- khó ghi lại hồ sơ,
- xử lý các sự cố không đồng bộ,
- không thể xử lý kòp nhu cầu đo thử.

5.8.3 Các yêu cầu đo thử DSL

Các phép đo thử để đánh giá chất lượng đường dây chuẩn bò cho dòch vụ DSL
phải bao gồm:

- kiểm tra cáp kim loại,
- xác đònh độ dài vòng dây,
- dò sự hiện diện của cuộn tải trên đường dây đang khảo sát,
- dò sự hiện diện của nhánh rẽ trên đường dây đang khảo sát,
- đo nhiễu dải rộng.
Kết quả đo thử dùng để đánh giá xem có triển khai được dòch vụ DSL nào trong
các dòch vụ sau: IDSL, MDSL, SDSL, HDSL, ADSL CAP hay ADSL DMT.

5.8.4 Đo thử cáp kim loại

Việc đo thử cáp kim loại để đánh giá chất lượng đường dây thuê bao thực hiện


Hình 5.23 Đo độ dài đường dây thuê bao
bằng phương pháp đo hai đầu: đo điện trở

Các hệ thống đo một đầu đo độ dài đường dây thuê bao bằng các phép đo điện
dung tip-to-ground, ring-to-ground và tip-to-ring. Độ dài đường dây thuê bao được tính
toán từ giá trò điện dung chuẩn 0,083 µF cho mỗi dặm. Điện dung của vòng thuê bao là
một tham số được kiểm soát chặt chẽ và phụ thuộc cơ bản bởi độ xoắn của dây, có giá trò
danh đònh là 0,083 µF và dao động từ 0,078 µF đến 0,086 µF. Độ dài đường dây thuê bao
ảnh hưởng tới mức tín hiệu thu. Vòng thuê bao càng dài thì các tín hiệu tần số cao càng
bò suy hao. Nếu vòng thuê bao quá dài thì CPE không nhận được bất cứ tín hiệu tần số
cao nào. Các báo cáo ở thò trường Bắc Mỹ cho thấy có 88% số đường dây thuê bao có độ
dài nhỏ hơn 18000 bộ và 65% số đường dây thuê bao có độ dài nhỏ hơn 12000 bộ với cỡ
dây 24 AWG và nhỏ hơn 9000 bộ với cỡ dây 26 AWG.
Triển khai ADSL Đặng Quốc Anh

173
Nếu nhà cung cấp dòch vụ chỉ cung cấp dòch vụ DSL tốc độ cố đònh hay dùng dòch
vụ DSL để cung cấp dòch vụ thoại thì việc biết được độ dài đường dây thuê bao rất quan
trọng.
Việc đem lại dòch vụ ADSL thích ứng tốc độ (rate-adaptive ADSL) hay RDSL đã
tăng khả năng dung nạp các đường dây dài của dòch vụ DSL. Cỡ dây cũng rất quan
trọng. Điển hình, khoảng cách chấp nhận được cho cỡ dây 26AWG chỉ bằng hai phần ba
so với khoảng cách chấp nhận được cho cỡ dây 24AWG. Thường các vòng thuê bao có
khoảng 60% cỡ dây 24AWG hay lớn hơn và 40% có cỡ dây 26AWG.

5.8.6 Cuộn tải

Cuộn tải là các cuộn dây nhỏ, các mạch lọc thông thấp đặt trên vòng thuê bao.
Cuộn tải ban đầu được lắp đặt vào các vòng thuê bao có độ dài hơn 18000 bộ để cải

đến 6000 bộ. Các nhánh rẽ cũng không ngăn được tín hiệu ADSL nhưng chúng có thể
làm giảm dải thông và tốc độ của dòch vụ DSL. Nhánh rẽ càng ở gần phía khách hàng thì
càng ảnh hưởng nặng đến tốc độ dòch vụ ADSL. Việc đánh giá chất lượng đường dây
thuê bao phải xác đònh cho được độ dài và vò trí các nhánh rẽ ảnh hưởng tới dòch vụ DSL.
Phương pháp đo phản xạ thời gian (time-domain reflectometry: TDR) thường được sử
dụng để đo vò trí và độ dài của nhánh rẽ. Việc sử dụng bộ dòch tự động thông số kết quả
của TDR cho phép đánh giá hàng loạt các đường dây và giảm thiểu việc sử dụng các
nhân viên có kỹ thuật cao.

5.8.8 Nhiễu dải rộng

Sự hiện diện của nhiễu bất lợi cho tốc độ tín hiệu của DSL: nhiễu càng nhiều thì
tốc độ càng chậm. Ví dụ, tác động của sóng vô tuyến AM lên đường dây thuê bao (khi nó
nhiễu vào dải tần tín hiệu chiều downstream) làm cho kênh truyền downstream không sử
dụng được. Có ba nguồn sinh ra nhiễu tần số cao chính đối với tín hiệu DSL:
- nhiễu xung ngẫu nhiên: là đặc tính của các thiết bò điện,
- nguồn nhiễu bên ngoài như sóng vô tuyến AM (từ 550 kHz đến 1720 kHz
trong các dải tần 10 kHz),
- xuyên kênh bao gồm cả nhiễu từ truyền dẫn trên các đôi dây khác.
Nhiễu ngẫu nhiên sinh ra từ tất cả các thiết bò điện. Việc chắn từ, dùng dây xoắn,
tiếp đất đúng đắn sẽ giảm nhiều ảnh hưởng của nhiễu ngẫu nhiên. Các vò trí ghép dây
thường là các nguồn gây ra nhiễu.
Giống như nhiễu ngẫu nhiên, có thể giảm thiểu ảnh hưởng của nhiễu cảm ứng
bên ngoài bằng cách chắn từ, dùng dây xoắn, tiếp đất đúng đắn. Sóng vô tuyến AM
thường được các vòng dây dài trên cột thu được.
Hình 5.25 Nhiễu tác động lên đường truyền DSL


- cung cấp các quy trình mô hình hoá như cải thiện chất lượng truyền dẫn
dựa trên việc gỡ bỏ nhánh rẽ chẳng hạn.
Chương trình máy tính phải có khả năng xử lý các môi trường không đồng nhất khi
có nhiều nhà cung cấp dòch vụ DSL khác nhau và nhiều kiểu mạng cùng tồn tại. Để dự
báo chính xác, cần phải tính toán đến việc sử dụng kênh của mỗi nhà cung cấp và đặc
tính mật độ phổ năng lượng. Nếu một nhà cung cấp thiết bò DSL không tuân thủ hướng
dẫn ANSI T1.413 cho một phiên bản DSL nào đó thì chương trình phải khuyên khách
hàng thay đổi để phù hợp với thiết bò của nhà cung cấp đó.

5.9.1 Đánh giá chất lượng đường dây

Ở bước này trung tâm điều hành mạng phải thực hiện một loạt các phép đo thử để
đánh giá khả năng bảo đảm xử lý tốt dòch vụ ADSL của đường dây trước khi gởi nhân
viên đến tận nhà thuê bao. Ở đây phải thực hiện các phép đo thử một đầu.

5.9.2 Tiến hành đo thử tại NID

Bước 1: Kiểm tra tại hộp đấu dây
Thực hiện kiểm tra tại hộp đấu dây để xác đònh xem đôi dây xoắn được cung cấp
có đúng hay không. Khi đã tìm được đôi dây để cung cấp dòch vụ thì phải dùng các dụng
cụ đo thử và dò cuộn tải để xác nhận đường dây là không có cuộn tải và cân bằng. Tại
thời điểm này phải dùng máy đo thực hiện kiểm tra các thông số cơ bản của đường dây.
Dùng một butt set để kiểm tra sự hiện diện của âm hiệu mời quay số.
Bước 2: Đồng bộ với bộ DSLAM và xác đònh tốc độ dữ liệu ở hộp đấu dây

Đặng Quốc Anh ADSL – Thực tiễn, giải pháp và triển khai

176
Máy đo TDR tầm
ngắn
Dụng cụ để xác đònh khoảng cách trên các đường dây
hở mạch, ngắn mạch hay không cân bằng với khoảng
cách ngắn

Triển khai ADSL Đặng Quốc Anh

177 Hình 5.27 Vò trí của NID và bộ tách dòch vụ ADSL/POTS ở CPE

NID (Network Interface Device) là ranh giới của mạng và CPE. NID đôi khi còn
được gọi là NIU (Network Interface Unit) hay NT (Network Termination). Trong ADSL có
hai loại NID: Wet wire NID và Dry wire NID.
- Wet wire NID: là NID tích cực dùng trong môi trường chưa có cạnh tranh.
Wet wire NID được triển khai tại các nước ngoài Bắc Mỹ. Với đường dây
Wet wire NID thì cả NID và ATU-R đều là sở hữu của nhà điều hành mạng
và thường thì hai thiết bò này được ghép chung.
- Dry wire NID: là NID thụ động dùng trong môi trường có cạnh tranh.
Dry wire NID không cung cấp nguồn trên đường dây DSL. Dry wire NID
được triển khai tại Bắc Mỹ. Với Dry wire NID khách hàng được tự do mua
sắm ATU-R với giá cả cạnh tranh.
Hình 5.28 Wet wire DSL

Ở NID phải thực hiện một lần nữa việc đo thử các thông số cơ bản một lần nữa.
Hơn nữa, các phép đo thử phải được thực hiện để chắc chắn rằng đường dây sẽ được sử
Triển khai ADSL Đặng Quốc Anh

179
dụng để hỗ trợ dòch vụ dữ liệu tốc độ cao ADSL. Cuối cùng, dòch vụ thoại được xem lại
một lần nữa bằng cách nối đường dây với butt set qua cổng thoại (voice port), chuyển
sang chế độ nói chuyện (talk mode) và nghe âm hiệu mời quay số (dial-tone).
Bước 5: Đồng bộ với DSLAM và xác nhận tốc độ bit ở NID
- Với ADSL G.DMT: Kết nối cổng số liệu trên bộ tách dòch vụ POTS bằng
máy đo thử ADSL, mở nguồn máy đo và kiểm tra một lần nữa sự đồng bộ
với DSLAM và tốc độ bit cần thiết theo các chiều upstream và downstream.
- Với ADSL G.Lite: Trước tiên, kiểm tra âm hiệu mời quay số bằng butt set
tại NID. Gỡ butt set ra khỏi đường dây, nối máy đo thử ADSL vào đường
dây, mở nguồn máy đo và kiểm tra một lần nữa sự đồng bộ với DSLAM và
tốc độ bit cần thiết theo các chiều upstream và downstream.
Nếu khách hàng không yêu cầu dòch vụ thoại trên jack điện thoại này thì nối dây
nhảy cùng một đôi dây gán cho cổng số liệu ở NID. Nếu khách hàng yêu cầu cả dòch vụ
thoại và ADSL ở trên jack điện thoại này thì lắp đặt bộ jack đôi gắn tường nếu chưa có.
Phải chắc rằng đôi dây dành cho dòch vụ thoại gắn vào cổng thứ nhất (port 1) và đôi dây
dùng cho dòch vụ số liệu được gắn với cổng thứ hai (port 2). Tiêu chuẩn quy đònh ngõ ra
của bộ modem phải nối vào đôi dây thứ hai.
Hình 5.32 Thiết bò POTS splitter của BT

Nếu khách hàng không yêu cầu dòch vụ thoại trên jack điện thoại này thì nối dây
nhảy cùng một đôi dây gán cho cổng số liệu ở NID. Nếu khách hàng yêu cầu cả dòch vụ


b. Trường hợp G.Lite

Với cấu hình này, cả dòch vụ ADSL lẫn dòch vụ thoại đều được nối vào đường dây
điện thoại. Nếu cần thiết thì nối lại jack để tương thích với đầu ra của modem ADSL hay
dùng một đoạn dây thừa để chuyển đổi dây.
Triển khai ADSL Đặng Quốc Anh

181
5.9.4 Lắp đặt modem ADSL

Hiện nay, có ba loại cấu hình modem ADSL thông dụng. Ba loại này bao gồm hai
loại lắp rời (External) với giao tiếp với máy tính cá nhân là Ethernet hay USB và một loại
lắp bên trong máy tính cá nhân (Internal) với giao tiếp chuẩn PCI. Nếu CPE là modem
lắp bên trong máy tính cá nhân thì kỹ thuật viên cần phải có một vài kỹ năng, kinh
nghiệm và hiểu biết về máy tính cá nhân để hoàn tất lắp đặt.Lưu ý rằng một vài loại dây
trong nhà (ví dụ như dây phẳng IW) không cho phép kết nối với hơn một dòch vụ và phải
thay bằng dây xoắn đôi CAT3.

a. Modem ADSL loại rời, giao tiếp Ethernet

Nếu CPE sử dụng modem loại rời (External) có giao tiếp Ethernet thì trên máy
tính cá nhân phải có card giao tiếp mạng Ethernet (Internal hoặc onboard) thì mới có thể
hoàn tất việc lắp đặt được. Nếu không có thì phải đề nghò khách hàng trang bò thêm card
giao tiếp mạng Ethernet (NIC: Network Interface Card) cho máy tính cá nhân. Khi máy
tính cá nhân đã có khả năng giao tiếp được mạng Ethernet thì kiểm tra xem đầu nối
Ethernet trên máy tính cá nhân phải tương thích. Lưu ý rằng trong lúc các đầu nối RJ-45
là phổ biến thì cũng có một số giao tiếp Ethernet cũ có dạng đầu nối khác. Trong trường
hợp đó thì phải sử dụng bộ chuyển đổi đầu nối. Khi đã kiểm tra xong sự tương thích đầu
nối hãy lắp dây nối giữa modem ADSL và cổng Ethernet của máy tính cá nhân. Sau đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status