Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đã tạo nên
động lực thu hút mạnh mẽ đầu tư từ nhiều nguồn cho xây dựng. Vì thế thị
trường xây dựng và xây lắp nước ta trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Nhiều kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến mang tính đột phá đã được mang vào Việt Nam tạo
một bước tiến khá xa về tốc độ xây lắp, về quy mô công trình, về chất lượng, về
tổ chức trong xây dựng, tạo một diện mạo mới của một đất nước đang phát triển
vững chắc tiến vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ 3. Song chính thời
điểm này cũng bộc lộ sự hẫng hụt về trình độ sơ hở về quản lý, buông lỏng về
kiểm soát trong lĩnh vực chất lượng mạng lưới các công trình cấp điện. Nhằm
đảm bảo sự phát triển bền vững, thúc đẩy sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, quản lý chất lượng mạng lưới công trình đòi hỏi những chuyển biến mới,
vững chắc nhưng cũng thực sự khẩn trương.
Chúng ta đều có thể hiểu rằng, chất lượng mạng lưới không là điều xảy
ra trong chốc lát. Sự theo đuổi chất lượng là một cuộc hành trình bền bỉ đòi hỏi
sự đổi mới tự hoàn thiện nâng cao trình độ và phương pháp quản lý để theo kịp
tiến độ và tập quán quốc tế. Công trình cấp điện với vốn đầu tư lớn không cho
phép phế phẩm đã đặt ra một đòi hỏi đặc biệt cấp thiết với công tác quản lý chất
lượng mạng lưới công trình.
Trong những năm qua như một số công ty xây lắp điện trong cả nước,
Công ty TNHH một thành viên xây lắp điện IV đã từng bước đổi mới và hoàn
thiện công tác quản lý chất lượng mạng lưới các công trình cấp điện.Tuy vậy,
công tác này vẫn còn ở thế bị động trong ngành và còn nhiều tồn tại.
Với những kiến thức đã học được và tích luỹ trong nhà trường kết
hợp với những tài liệu đọc thêm, xuất phát từ thực trạng của Công ty,
được tiếp xúc trong thời gian đi thực tế em mạnh dạn chọn đề tài :
“ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MẠNG LƯỚI CÁC CÔNG TRÌNH CẤP ĐIỆN Ở CÔNG TY
CẤP ĐIỆN ” với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Em xin trân thành cảm ơn sự
giúp đỡ của thầy hướng dẫn: Tiến sỹ Nguyễn Tiến Dũng và cùng các
hướng dẫn sử dụng. Chất lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính
sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý thuyết đối với nhu cầu thị trường,
còn thực tế có đạt được điều đó hay không thì nó còn chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố.
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Yêu cầu đặt ra đối với những người đặt ra chất lượng thiết kế phải
rất thận trọng bởi đó là những bước đầu tiên quyết định tới cả quá
trình sản xuất sản phẩm, thậm trí nó còn ảnh hưởng cả tới quá trình
đầu tư công nghệ.
Chất lượng chuẩn là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó
được phê duyệt trong quá trìng quản lý chất lượng và người quản lý
chính là các cơ quan quản lý về mặt chất lượng sản phẩm mới có
quyền phê chuẩn và sau khi phê chuẩn rồi thì chất lượng này trở thành
pháp lệnh, văn bản pháp quy.
Chất lượng thực tế là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
sản phẩm và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất trong quá trình
sử dụng sản phẩm. Chất lượng là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất
lượng chuẩn và chất lượng thực tế của sản phẩm.
Chất lượng cho phép là do các cơ quan quản lý chất lượng sản
phẩm, quan quản lý thị trường, trong hợp đồng quốc tế, hợp đồng
giữa đôi bên quy định.
- Chất lượng tối ưu:
Chất lượng tối ưu của sản phẩm biểu thị khả toàn năng toàn diện
nhu cầu thị trường điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp
nhất.
Chất lượng tối ưu của sản phẩm nói nên mối quan hệ giữa chất lượng
sản phẩm và chi phí.
- Chất lượng toàn phần:
tiêu dùng thành nhiêu loại và làm nhiều loại sản phẩm khác nhau cho từng
đối tượng. Do đó, đa dạng hoá sản phẩm là con đường tất yếu để nâng cao
chất lượng.
c.Chất lượng có tính tương đối. Sự tương đối thể hiện trên cả hai mặt
không gian và thời gian. Một loại hàng hoá có thể có chất lượng ở thị
trường này, nhưng không có chất lượng ở thị trường khác. Ngay tại một
thị trường mỗi loại sản phẩm chỉ có chất lượng với một đối tượng tiêu
dùng.một loại sản phẩm có chất lượng hôm nay, ngày mai có thể không
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
còn chất lượng nữa. Bởi vì, nhu cầu của người tiêu dùng có thể đã thay đổi
hoạc có những sản phẩm khác phù hợp hơn xuất hiện. Do vậy, muốn duy
trì được chất lượng tất yếu phải đổi mới sản phẩm.
Như vậy,đa dạng hoá và thường xuyên đổi mới sản phẩm là con
đường tất yếu của nâg cao chất lượng.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng mạng lưới các công trình:
Chất lượng mạng lưới các công trình ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố
khác nhau nhưng nói chung người ta chia thành hai nhóm nhân tố ảnh
hưởng chủ yếu đó là nhóm nhân tố bên ngoài và nhóm nhân tố bên
trong.
a. Nhóm nhân tố bên ngoài:
+Nhu cầu thị trường:
Nhu cầu thị trường là xuất phát của quá trình quản lý chất lượng tạo
lực kéo, định hướng cho cải tiến và hoàn thiện chất lượng sản phẩm, cơ
cấu, tính chất, đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu tác động
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Từ đó phải đòi hỏi phải tiến hành
nghiêm túc, thận trọng công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị
trường, phân tích môi trường kinh tế hã hội, xác định chính xác nhận
thức của khách hàng, thói quen, phong tục tập quán văn hoá, nối sống,
Lực lượng lao động trong doanh nghiệp:
Đây là những nhân tố có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng mạng
lưới các công trình. Nó bao gồm trình độ chuyên môn tay nghề kinh
nghiệm, ý thức, trách nhiệm tính kỷ luật tinh thần hiệp tác phối hợp
khả năng thích ứng với sự thay đổi của ngoaị cảnh, khả năng thu nhập
và xử lý thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp tác động trực
tiếp tới chất lượng mạng lưới các công trình.
Khả năng về công nghệ máy móc thiết bị của mỗi doanh nghiệp.
Công nghệ là một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ tới chất
lượng sản phẩm trong mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào trình độ hiện
đại cơ cấu, tính đồng bộ, tình hình bảo dưỡng, duy trì khả năng làm
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
việc của máy móc thiết bị công nghệ, đặc biệt là những doanh nghiệp tự
động hoá cao, dây truyền có tính chất sản xuất linh hoạt.
Vật tư nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư nguyên liệu
của doanh nghiệp.
Chủng loại cơ cấu tính đồng bộ chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng
trực tiếp tới chất lượng sản phẩm bởi lẽ vật tư nguyên liệu phải có chất
lượng cao, và việc cung ứng nguyên liệu cũng phải đảm bảo cung cấp
đầy đủ đồng bộ, kịp thời và đúng yêu cầu về chủng lọi và chất lượng
nguyên vật liệu.
Trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất doanh nghiệp.
Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng là
một trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy mạnh tốc độ cải tiến
hoàn thiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
Theo đánh giá của các chuyên gia về quản lý chất lượng sản phẩm
thì trong thực tế có tới 80% những vấn đề chất lượng là do quản lý gây
ra. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu bộ máy quản
về tiêu dùng, nhu cầu về số lượng, chủng loại, phẩm chất của sản
phẩm.
Người tiêu dùng có thể tiết kiệm được sức người sức của thông qua
việc tiêu dùng, sử dụng có chất lượng cao.
Tạo dựng được lòng tin, độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản
phẩm hàng hoá, giải quyết được vấn đề an toàn trong quá trình sử
dụng, tiêu dùng sản phẩm.
Ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm còn làm tăng khả năng
cạnh tranh về kinh tế của đất nước, góp phần làm khẳng định sản
phẩm của Việt Nam trên thị trường thế giới và trong khu vực.
Như vậy việc nâng cao chất lượng sản phẩm là một biện pháp hữu hiệu
kết hợp các loại lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng, xã hội và
người lao động.
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
II. QUẢN LÝ MẠNG LƯỚI.
1. Thực chất của quản lý chất lượng mạng lưới.
Các quan niệm về quản lý mạng lưới được phát triển và hoàn thiện
liên tục thể hiện ngày càng đầy đủ hơn về bản chất tổng hợp, phức tạp
của vấn đề chất lượng phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi
trường kinh doanh mới.
Vào những năm đầu của thế kỷ này chỉ có khái niệm là kiểm tra chất
lượng sản phẩm và được thực hiện ở quá trình sản xuất. Cho đến
những năm 50 thì bắt đầu xuất hiện khái niệm quản lý chất lượng
mạng lưới lúc này nội dung và phạm vi quản lý, chức năng quản lý
mạng lưới được mở rộng hơn nhưng nó tập trung chủ yếu vào giai
đoạn sản xuất sản phẩm.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế, chính trị của
chất lượng hàng hoá, nhất là hàng hoá xuất nhập khẩu, nhà nước ta đã
sản phẩm.
Cấp quản lý: Quản lý chất lượng hiện nay được thể hiện ở mọi
cấp, ở các công ty, phân xưởng, phòng, ban và người lao động với quản
lý chất lượng chứ không còn bó hẹp thực hiện ở cấp phân xưởng trong
khâu sản xuất trước đây.
Mục tiêu: Mục tiêu quản lý chất lượng hiện nay là kết hợp giữa
mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn nhầm thoả mãn nhu cầu của
khách hàng ở mức cao nhất chứ không chỉ dừng lại ở mục tiêu ngắn
hạn như trước đây là đạt mức lợi nhuận cao nhất.
Sản phẩm: Với quản lý chất lượng hiện nay, sản phẩm được biểu
hiện là tất cả đầu ra của mọi quá trình, không kể đó là quá trình sản
xuất, hay quá trình quản lý và như vậy ngay cả những chứng từ, báo
cáo, hợp đồng, đơn đặt hàng,... đều là sản phẩm và được quản lý về
chất lượng để sản phẩm ở công đoạn cuối cùng đạt chất lượng cao. Và
các sản phẩm được quản lý chất lượng là tất cả ( sản phẩm thực hiện
bên trong và bên ngoài) chứ không chỉ dừng lại ở việc quản lý chất
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
lượng sản phẩm với những sản phẩm cuối cùng bán ra ngoài xí nghiệp
như trước.
Khách hàng: Với quản lý chất lượng mới hiện nay thì khách
hàng được hiểu là những người có liên quan trực tiếp đến sử dụng sản
phẩm của xí nghiệp kể cả khách hàng bên trong và khách hàng bên
ngoài chứ không chỉ là những khách hàng bên ngoài.
Chức năng: Chức năng của quản lý chất lượng hiện nay bao gồm
hoạch đọnh chất lượng, kiểm soát chất lượng, cải tiến và hoàn thiện
chất lượng chứ không chỉ có một chức năng kiểm tra, kiểm soát chất
lượng sản phẩm như trước kia.
Đánh giá chất lượng: Trong quản lý chất lượng mạng lưới hiện
khách hàng đang mong đợi hay không? Và nó còn tiếp tục là cái họ
mong đợi nữa hay không?
Thứ ba: họ phải trả bao cho sản phẩm?
Thư tư: họ cần mua bao nhiêu và bao giờ có?
b. Kiểm soát chất lượng:
Kiểm soát chất lượng là quá trình điều khiển các hoạt động tác
nghiệp thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và hoạt
động nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng những yêu cầu đã
đặt ra.
Nhiệm vụ chủ yếu của kiểm soát chất lượng là:
Tổ chức các hoạt động nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lượng như
yêu cầu.
Đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của doanh nghiệp
so sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện ra những sai lệch.
Tiến hành những hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai lệch
để đảm bảo thực hiện đúng những yêu cầu.
c. Cải tiến và hoàn thiên chất lượng.
Cải tiến và hoàn thiện chất lượng là những hoạt động nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm hơn trước để làm giảm khoảng cách giữa mức
mong muốn của khách hàng với mức chất lượng thực tế của sản phẩm
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
và từ đó đưa khả năng thoả mãn nhu cầu của sản phẩm lên mức cao
nhất.
Cải tiến và hoàn thiện chất lượng đựơc thực thực hiện theo các hướng
sau:
Tiến hành phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm của xí nghiệp nhằm
đáp ứng một cách đa dạng các loại nhu cầu của thị trường về sản
phẩm.
Khi có các vấn đề nảy sinh thì cần có sự tập trung xem xét về bản
thân hệ thống và quá trình, phát hiện ra các nguyên nhân và tìm cách
giải quyết các nguyên nhân đó.
Phải xoá bỏ mọi sự ngăn cách tạo điều kiện tốt nhất cho sự phù
hợp các phòng ban, bộ phận nhằm hoàn thiện chất lượng của toàn hệ
thống.
Khuyến khích tạo điều kiện hoàn thành các tổ chức quản trị chất
lượng (câu lạc bộ chất lượng,nhom chất lượng...) tiến hành đào tạo và
trang bị những kiến thức và phương tiện đo lường đánh giá chất lượng
cho công nhân. Động viên nâng cao lòng tự trọng, tự hào về chất lượng
công việc của mình thực hiện.
Cần thiết tạo mối quan hệ mật thiết và lâu dài với nhà cung cấp.
Cần xác định phát hiện các vấn đề quan trọng nhất, tập trung ưu
tiên nhất cho các vấn đề đó.
Quản lý chất lượng mạng lưới phải thực hiện bằng hành động,
văn bản hoá các hoạt động liên quan đến chất lượng.
III. TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG MẠNG LƯỚI CÁC CÔNG
TRÌNH XÂY LẮP ĐIỆN LÀ MỘT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ VÀ TĂNG CƯỜNG SỨC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆPXÂY LẮP HIỆN NAY.
1. Tình hình phát triển của ngành xây lắp và vai trò của nó trong quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
a. Tình hình phát triển hiện nay của ngành xây lắp điện.
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Trong những năm gần đây công việc xây lắp điện của nước ta đã
phát triển một cách nhanh chóng,có thể nói cả nước là một đại công
trường ở đâu cũng có xây lắp điện, ở đâu cũng có những công trình
mới mọc lên.
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
3800 ha. Theo kế hoạch từ năm 2001 ÷ 2005 Hà Nội sẽ xây dựng thêm 3
÷ 3.5 triệu m
2
nhà. Cụ thể như các khu chung cư : Trung Yên, làng
Quốc Tế Thăng Long, Trung Hoà, Nhân Chính, Định Công, Linh Đàm,
Đại Kim ... đang được hoàn chỉnh. Hà Nội đã có 14 khu đô thị mới
được xây dựng sẽ khởi công vào đầu năm 2002 và hoàn thành vào năm
2005, trong đó 7 khu đô thị mới đang chuẩn bị đầu tư gồm: Mễ Trì Hạ,
Mễ Đình 1,Mễ Đình 2,Nam Đường, Trần Duy Hưng, Thành phố giao
lưu, Thạch cầu,Thạch Bàn và Tây Nam ... Quãng 50 dự án khu đô thị
mới trên tổng diện tích gần 2000 ha và đặc biệt ngành thể dục thể thao
đầu tư xây dựng sân vận động quốc gia ...
Về lĩnh vực vật liệu xây dựng.
Ngành đã có sự chuyển hướng sản xuất và tiêu thụ vật liệu xây dựng
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Nhờ sự đổi mới về cơ chế và dựa vào chiến lược phát triển vật
liệu xây dựng đến năm 2003 do bộ xây dựng chủ trì soạn thảo, trong
năm qua, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đã có sự đổi mới đầu
tư công nghệ góp phần làm tăng trưởng đáng kể trên nhiều mặt:
Chủng loại mặt hàng, chất lượng mặt hàng, ngành hàng, doanh số và
hiệu quả sản xuất kinh doanh ... Nhịp độ tăng trưởng về sản lượng các
loại vật liệu xây dựng trong 5 năm qua đều đạt mức trên 2 lần so với
giai đoạn (1986-1999) với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm
20%.
Trong lĩnh vực xây lắp, các tổ chức xây lắp quốc doanh thuộc các
bộ, các ngành, các địa phương đã có những chuyển đổi, đổi mới với
phương thức hoạt động, một mặt nhằm hoà nhập với xây dựng có
được cải thiện một bước rõ rệt.
Quan hệ kinh tế đối ngoại.
Quan hệ kinh tế đối ngoại của ngànhđược mở rộng, đa dạng,
phong phú hơn, nhiều liên doanh ra đời trong hầu hết các lĩnh vực
thuộc chức năng quản lý của ngành như: Quy hoạch, thiết kế, sản xuất
vật liệu xây dựng, xây lắp bảo tồn, tôn tạo lại các di tích lịch sử, văn
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
hoá, khu phố cổ phát triển đô thị và nông thôn, cấp thoát nước, khoa
học kỹ thuật, đào tạo ... đã mang lại kết quả bước đầu đáng khích lệ và
ngành xây dựng càng chứng tỏ sự đúng đắn của chính sách mở theo
đường nối đổi mới của đảng và nhà nước ta đã lựa chon. Trong năm
1999-2001 toàn ngành có 67 dự án liên doanh với nước ngoài với tổng
số vốn đầu tư là 3 triệu USD.
b. Vai trò của ngành xây dựng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước.
- Xây dựng cơ bản có thể coi là 1 ngành sản xuất vật chất, ngành
duy nhất tạo ra cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống y
tế, quốc phòng, giáo dục và các công trình dân dụng khác.
- Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,
hoạt động xây dựng cơ bản góp phần to lớn vào việc tạo ra cơ sở hạ tầng
cho các ngành khác. Cơ sở hạ tầng của các ngành đầy đủ nó phản ánh
trình độ phát triển và hiện đại của ngành đó. Mặt khác xây dựng còn là
ngành tạo ra khả năng xoá bỏ khoảng cách khác biệt giữa thành thị và
nông thôn, nâng cao trình độ văn hoá và đời sống dân cư, cải tạo bộ mặt
đất nước.
- Hoạt động xây dựng cơ bản được thực hiện ở các giai đoạn
khác nhau (như thiết kế, thi công ... ), ứng với các giai đoạn này là các bbộ
phận, các đơn vị. Các bộ phận, các đơn vị đó cũng được xem là các đơn vị
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư;
- Giai đoạn chuẩn bị xây dựng ;
- Giai đoạn thi công xây lắp công trình;
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Đây là giai đoạn triển khai những ý đồ
đầu tư, tiến hành thu thập những tài liệu về kinh tế, kỹ thuật ... có liên
quan đến thành lập những dự án đầu tư, thiết lập luận chứng kinh tế
kỹ thuật và tiến hành kiểm tra, phê chuẩn các dự án và các luận chứng
đó.
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư kết thúc khi dự án hoặc luận chứng được
phê chuẩn và được ghi vào kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản cho các
kỳ tương ứng.
Giai đoạn chuẩn bị xây dựng : là giai đoạn kể từ khi luận chứng
hoặc dự án được phê chuẩn và được ghi vào kế hoạch đầu tư đến khi
thực hiện được những công việc chủ yếu đủ đảm bảo tiến hành khởi
công xây dựng công trình.
Giai đoạn xây lắp công trình: là giai đoạn tiến hành thi công trên
hiện trường để tạo ra những kiến trúc và kết cấu công trình treo thiết
kế và tiến hành lắp đặt các thiết bị công nghệ (nếu có) vào công trình.
Giai đoạn này kết thúc khi công trình đã hoàn thiện và tiến hành bàn
giao công trình.
Đặc điểm về sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản.
- Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản là những công trình hình
thành cố định và mang tính ổn định gắn với một không gian và một địa
điểm nhất định.
- Sản phẩm xây dựng rất đa dạng về hình thức, mẫu mã, cấu trúc phức
tạp, có những phần nằm sâu dưới lòng đất, có phần thì vươn cao trên
không trung.
phận tham gia chế tạo lên sản phẩm cuối cùng. Do đó trong quá trình
quản lý làm sao điều hoà, phối hợp các khâu, các bộ phận.
+ Do sản phẩm của các ngành xây dựng nằm ngoài trời nó phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như địa lý, tự nhiên do đó mà sản xuất cũng
nhịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố đó.
+ Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, thời gian thi công lâu dài, vốn
đầu tư thường rất lớn. Trong quá trình còn đang thi công xây dựng thì
toàn bộ vốn đầu tư vào công trònh chưa có khả năng sinh lời cho nền
kinh tế quốc dân, đây chính là giai đoạn ứ đọng vốn, do đó mà với các
công trình có quy mô tương đương nhau, nhưng trong những thời gian
và không gian khác nhau mà lợi nhuận cũng thu được khác nhau.
b. Các yêu cầu chất lượng sản phẩm xây dựng.
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Sản phẩm của ngành xây dựng là những sản phẩm đặc biệt, nó chẳng
những được tiêu dùng trong sản xuất (các công trình công nghiệp, cơ
sở hạ tầng ...) mà nó còn là những sản phẩm thiết yếu phục vụ cho tiêu
dùng của các thành viên trong xã hội ( nhà ở, các công trình văn hoá xã
hội, công trình công cộng...).
Với những đặc điểm khác với sản phẩm thông thường khác nên các sản
phẩm của ngành xây dựng có một yêu cầu về đặc thù chất lượng sản
phẩm. Những yêu cầu về chất lượng sản phẩm của ngành xây dựng
được thể hiện ở các chi tiết chất lượng dưới đây:
- Chỉ tiêu bảo đảm an toàn.
Bất cứ một người nào khi mua là tiêu dùng một sản phẩm nào đó thì
họ cũng luôn mong muốn sao cho sản phẩm đó thoả mãn nhu cầu của
họ ở mức cao nhất với một chi phí thấp nhất, và như vậy chỉ tiêu đảm
bảo an toàn của sản phẩm sẽ cho phép họ đạt được mong muốn ở mức
nào. Mặt khác đối với những sản phẩm của ngành xây dựng có thể là
gió, lụt lội, hoả hoạn ... và có những phương hướng và biện pháp hận
chế, khắc phục.
Bảo đảm vệ sinh môi trường sống cho sức khoẻ con người. Như ta đã
biết, công trình xây dựng là nơi bảo vệ con người, che chắn con người,
bảo vệ tài sản của họ làm sao cho con người và tài sản khỏi chịu sự tác
động trực tiếp hay gián tiếp của các hiện tượng tự nhiên, môi trường
xung quanh. Chính vì vậy mà các sản phẩm xây dựng phải làm sao tạo
cho được môi trường trong sạch lành mạnh, có lợi cho sự phát triển
của cơ thể con người và bảo đảm bảo vệ được tài sản riêng đối với công
trình kiến trúc trong đó con người sinh sống thì phải đảm bảo làm sao
cho công trình đó luôn thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và ít
phải dùng các biện pháp nhân tạo, luôn đảm bảo độ sáng hợp lý cho
sinh hoạt đời sống.
Nói tóm lại: với sản phẩm của ngành xây dựng thì cần thiết phải đảm
bảo an toàn theo các khía cạnh và cuối cùng là phải đảm bảo sao cho
khi sử dụng, người tiêu dung hoàn toàn có cảm giác tuyệt đối yên tâm.
TrÇn H÷u Kh¸nh Líp: Kinh tÕ ph¸t triÓn 47A_QN
24
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Chỉ tiêu độ tiện dụng phù hợp với khả năng thanh toán của người tiêu
dùng.
Trong quá trình thiết kế thi công, để đạt được mức độ tiện dụng
cao thì yêu cầu đối với các nhà xây dựng phải căn cứ và dựa vào các
mục đích sử dụng khác nhau.
Đối với các công trình nhà ở thì yêu cầu về độ tiện dụng là phải tiên
dụng trong sinh hoạt tạo cho con người có được cảm giác “ muốn gì có
đấy”.
Đối với các công trình phục vụ sản xuất thì độ tiện dụng của nó thể
hiện ở chỗ là sự bố trí các bộ phận của công trình sao cho phù hợp với
quy trình công nghệ, có thể giảm bớt những lãng phí về thời gian, đi