SỰ PHÁT TRIỂN HỢP QUY LUẬT TỪ “CHIẾN TRANH TOÀN DÂN” ĐẾN “CHIẾN TRANH NHÂN DÂN” TRONG LỊCH SỬ BẢO VỆ, GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC_3 - Pdf 19

SỰ PHÁT TRIỂN HỢP QUY LUẬT TỪ
“CHIẾN TRANH TOÀN DÂN” ĐẾN “CHIẾN
TRANH NHÂN DÂN” TRONG LỊCH SỬ BẢO
VỆ, GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC

Song, trong công cuộc giành và giữ độc lập dân tộc do Đảng lãnh đạo,
chính nhu cầu, nguyện vọng và ý chí của dân về giải phóng, về độc lập
dân tộc đã tìm ra người lãnh đạo là giai cấp công nhân và Đảng Cộng
sản Việt Nam để hình thành đường lối cứu nước mới. Chiến tranh nhân
dân Việt Nam là bước phát triển tiếp theo của chiến tranh toàn dân trước
đây, song chỉ với ý nghĩa “dĩ dân”, nó cũng đã có bước nhảy vọt về chất:
cũng là toàn dân tham gia nhưng tham gia tự giác, có tổ chức, lãnh đạo
theo một đường lối chính trị đúng đắn, tiên tiến; nhân dân tham gia toàn
diện, liên tục từ đầu đến cuối cuộc chiến tranh… Hơn nữa, chiến tranh
nhân dân vượt hẳn chiến tranh toàn dân thời phong kiến ở mục tiêu
chiến tranh là không chỉ giành và giữ độc lập dân tộc – lợi ích trừu
tượng, mà còn gắn độc lập dân tộc với “người cày có ruộng”, trực tiếp
đem lại lợi ích căn bản, hữu hình, lâu dài cho mọi tầng lớp nhân dân.
Giai cấp lãnh đạo không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của sự nghiệp
cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược, đồng thời giải phóng
nhân dân lao động khỏi mọi xiềng xích áp bức, bóc lột - điều mà các
triều đại phong kiến không thể làm nổi, dù là triều đại tiến bộ nhất. Nói
cách khác, nếu chiến tranh toàn dân trước đây nhấn mạnh “do dân” thì
chiến tranh nhân dân trong thời đại mới là tổng thể hữu cơ giữa “của
dân”, “do dân” với “vì dân” - điểm khởi đầu và điểm kết thúc đều là
DÂN.

Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cũng như cuộc đấu tranh của
nhân dân và lực lượng vũ trang bảo vệ nền độc lập non trẻ trước hết là
sự nghiệp của nhân dân. Giành chính quyền tại Hà Nội và ở tất cả các
địa phương khác đều là cuộc nổi dậy đồng loạt của quần chúng nhân dân

nọ sang phố kia. Các lực lượng vũ trang có thể đánh địch rộng khắp,
đánh bất cứ nơi nào quân Pháp đặt chân đến chính là nhờ dựa được vào
thế trận lòng dân. Cùng với các chiến sĩ Trung đoàn Thăng Long, Trung
đoàn Thủ đô, Tự vệ Hoàng Diệu, Tự vệ thành Hoàng Diệu, công an
xung phong và các Đội cảm tử còn có nhiều thanh niên Hà Nội (trừ
những người không đủ khả năng chiến đấu vũ trang) đều được vũ trang
tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Cách đánh cũng là của nhân
dân, mang tính toàn dân tham gia, quân với dân cùng đánh, điển hình
như trận đánh tại chợ Đồng Xuân. Người dân được vũ trang bằng mọi
loại công cụ có thể dùng làm vũ khí để phối hợp tham gia mọi hình thức
tác chiến: tập kích hoả lực, đánh chốt chặn, đánh tập kích, đánh vận
động, đánh cảm tử (bằng bom ba càng), đánh vào mục tiêu quan trọng,
thực hiện nội thành và ngoại thành cùng đánh… Trong suốt cuộc kháng
chiến trường kỳ của cả nước, các lực lượng vũ trang ta cũng chỉ hoạt
động hiệu quả trong vòng tay che chở, đùm bọc của nhân dân.

Chiến tranh toàn dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là
cuộc chiến tranh toàn dân có sự phát triển cao về chất trong điều kiện
mới – chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc ở miền Bắc và chiến tranh
nhân dân giải phóng ở miền Nam. Đến thời kỳ này, phạm trù “chiến
tranh nhân dân” đã định hình rõ nét, phát huy tác dụng to lớn. Đặc biệt,
nếu trong kháng chiến chống Pháp, Hà Nội khởi đầu cho chiến tranh
nhân dân giải phóng thì trong kháng chiến chống Mỹ, Hà Nội lại khởi
đầu chiến tranh nhân dân thuộc loại hình chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa. Đó là loại hình chiến tranh nhân dân diễn ra trong điều
kiện ta đã có chủ quyền quốc gia, có thành quả cách mạng cần bảo vệ.
Bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ tính mạng, tài sản, cuộc sống lao
động hoà bình của nhân dân; bảo vệ Thủ đô gắn liền với bảo vệ trái tim
thiêng liêng của cả nước, bảo vệ niềm tự hào của dân tộc, bảo vệ lương
tri và phẩm giá con người… Nhân dân cả nước không chỉ đóng góp sức

hai miền đất nước. Như vậy, có thể nói, sự phát triển từ “chiến tranh toàn dân” thành “chiến
tranh nhân dân” trong lịch sử bảo vệ, giải phóng đất nước là sự phát
triển hợp quy luật, cả về mục tiêu, phương thức, lực lượng tiến hành
chiến tranh, cả về ý nghĩa và giá trị hiện thực của nó, cũng như về nghệ
thuật quân sự. Đây là một giá trị lớn và chủ đạo trong toàn bộ hệ giá trị
văn hoá quân sự Việt Nam, đồng thời là bài học mang tính đúc kết cô
đọng nhất mà lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt
Nam đã sáng tạo nên, liên tục kế thừa và không ngừng phát triển.

Giá trị văn hoá - lịch sử quân sự này đặc biệt phát huy tác dụng mạnh
mẽ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong
tình hình mới. Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ
sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội gắn liền với củng cố quốc phòng –
an ninh, thì các chủ trương, chính sách được đề ra nhất thiết phải xuất
phát từ nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, thể hiện lợi ích
của dân và lợi ích đó luôn được đặt lên trên hết, đồng thời tạo thuận lợi
để huy động cao nhất các tầng lớp nhân dân cùng tổ chức thực hiện.
Việc hiện thực hoá ý chí của nhân dân trong đường lối quân sự – quốc
phòng, phát triển thế trận lòng dân, tạo khả năng cao nhất để huy động
tiềm lực to lớn của nhân dân… phải luôn gắn với các chính sách xã hội
nhằm bồi dưỡng sức dân và nâng cao dân trí, nhất là nâng cao ý thức
quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, việc chú trọng phát
triển lý luận và chuẩn bị thực tiễn cho chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ
quốc trong điều kiện sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược, kể cả chiến
tranh công nghệ cao, là cái có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, nếu chiến
tranh công nghệ cao xảy ra thì chiến tranh nhân dân vẫn là phương thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status