Luận văn
NGHIÊN CỨU TRIẾT HỌC: " SỰ PHÁT
TRIỂN HỢP QUY LUẬT TỪ “CHIẾN TRANH
TOÀN DÂN” ĐẾN “CHIẾN TRANH NHÂN
DÂN” TRONG LỊCH SỬ BẢO VỆ, GIẢI
PHÓNG ĐẤT NƯỚC " SỰ PHÁT TRIỂN HỢP QUY LUẬT TỪ “CHIẾN TRANH TOÀN DÂN”
ĐẾN “CHIẾN TRANH NHÂN DÂN” TRONG LỊCH SỬ BẢO VỆ, GIẢI
PHÓNG ĐẤT NƯỚC
NGUYỄN VĂN TÀI (*)
Khái quát và phân tích những đặc điểm chủ yếu của hai loại chiến tranh –
“chiến tranh toàn dân” và “chiến tranh nhân dân” trong lịch sử dân tộc Việt
Nam, tác giả đã đi đến kết luận: Sự phát triển từ “chiến tranh toàn dân”
một khía cạnh khác, lịch sử cũng chỉ có giá trị khi mang lại lợi ích cho đông
đảo quần chúng nhân dân. Các giai cấp, nhà nước, tập đoàn thống trị xã hội
nào muốn tạo sức mạnh từ nhân dân để thực hiện được lợi ích của mình thì ít
nhiều, đều phải tính đến lợi ích của dân chúng; còn khi giữa các lợi ích ấy có
xung đột, nhất là khi lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân không được
đáp ứng thì sớm hay muộn, “tầng lớp bên trên” sẽ bị lật nhào. Đó cũng là tính
quy luật của lịch sử. Với lĩnh vực đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, cách
mạng xã hội, chiến tranh – quân đội cũng vậy. Mặc dù chiến tranh không ai
muốn có, nhưng một khi nó đã xảy ra thì việc ứng xử với nó thế nào, giải
quyết nó ra sao đều dựa trên căn cứ lợi ích, trước hết là lợi ích của những giai
cấp và nhà nước tiến hành chiến tranh và xét đến cùng, là lợi ích chung của
quốc gia dân tộc khi tham gia cuộc chiến.
Cách nhìn bao quát về những giá trị văn hoá - lịch sử của sự nghiệp bảo vệ,
giải phóng đất nước xuyên suốt tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam phải
dựa trên những căn cứ lý luận xác đáng ấy. Trong lịch sử các cuộc chiến tranh
cứu nước và giữ nước của dân tộc ta, kẻ thù thường là những đội quân lành
nghề, mạnh hơn hẳn chúng ta cả về tiềm lực quốc gia lẫn thực lực quân sự
trực tiếp tham chiến. Bối cảnh ấy đòi hỏi các nhà lãnh đạo kháng chiến chỉ có
con đường duy nhất là tìm sức mạnh trong nhân dân để xây dựng cả tiềm lực
lẫn thực lực kháng chiến và điều này có thể thực hiện bởi lợi ích của việc cố
kết cộng đồng mang lại đã thể hiện đậm nét trong cả sự nghiệp dựng nước lẫn
giữ nước. Hơn nữa, ý thức độc lập dân tộc đã thấm sâu vào mỗi người dân
nước Việt, trở thành cốt cách văn hoá mang tính truyền thống, nên nhân dân
ta không chỉ là người tạo hậu thuẫn cho lực lượng kháng chiến, mà còn trực
tiếp tham gia chiến đấu, làm cho lực lượng ta lúc đầu nhỏ yếu cuối cùng cũng
lớn vượt lên và làm cho địch quân đông cũng hoá ra không mạnh. Thực tiễn
lịch sử ấy, cái nét văn hoá quân sự truyền thống đặc sắc ấy đã tỏ rõ sức sống
bền vững và phát triển mạnh mẽ qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước
của dân tộc Việt Nam, nhất là từ khi Ngô Quyền giành được nền tự chủ cho
đất nước. Với người dân nước Việt, lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc đã
tranh ngay trong thời bình) cũng như về nghệ thuật quân sự (phương thức tác
chiến của nhân dân hiện đại hơn, hiệp đồng chiến đấu, kết hợp giữa tiến công
của các binh đoàn chủ lực với nổi dậy rộng khắp của nhân dân…).
Trong thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt Nam, sự phát triển từ “chiến tranh
toàn dân” thời phong kiến thành “chiến tranh nhân dân” trong thời đại mới là
một quá trình hết sức sống động.
Chiến tranh toàn dân thời kỳ mở nước là chiến tranh toàn dân tự phát nhằm
định hình dân tộc. Từ công cuộc giữ thành Cổ Loa của An Dương Vương đến
các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ, toàn dân được huy động để đánh giặc,
thậm chí lực lượng quân sự không được tổ chức hoàn toàn chuyên biệt. Cách
đánh phù hợp với trang bị bạch khí, rất gần với cách sử dụng công cụ lao
động sản xuất thường ngày của người dân. Về mục tiêu, việc giành lại độc lập
là độc lập cho cả dân tộc, chứ không gắn với lợi ích cụ thể của một cá nhân hay
tập đoàn xã hội nào. Trong kháng chiến, có người đứng ra dấy nghĩa, nhưng sự
phân biệt quyền lực giữa bề trên với kẻ dưới, hay sự phân biệt giữa lợi ích giai
cấp với lợi ích dân tộc… đều rất mờ nhạt. Hơn nữa, cuộc đấu tranh chống đồng
hoá luôn chiếm vị trí ưu trội so với tiến hành đấu tranh vũ trang.
Chiến tranh toàn dân bảo vệ đất nước thời Lý – Trần là cuộc chiến tranh toàn
dân trong điều kiện quốc gia độc lập có chủ quyền, nhân dân vừa là chỗ dựa
của triều đình, của quân đội, vừa trực tiếp tham gia đánh giặc giữ nước, bảo
vệ kinh thành. Nghệ thuật dựng binh là lấy dân làm điểm tựa quan trọng. Cả
nhà Lý và nhà Trần đều định chế độ binh dịch theo kiểu “ngụ binh ư nông”,
quân lính thời bình chia phiên về sản xuất và khi có biến thì mọi đinh tráng
đều được chiếu sổ gọi ra phục vụ quân đội. Việc xây dựng lực lượng vũ trang
đều theo cách thức xây dựng nhiều thứ quân để huy động được nhân dân
tham gia trực tiếp chiến đấu: quân chủ lực của triều đình, quân các lộ (và
quân của các vương hầu), dân binh (hương binh các làng xã, thổ binh các bản,
nguồn, động…). Sức dân cũng được huy động mạnh mẽ trong xây dựng thế
trận và các tuyến phòng thủ, nhân dân luôn sát cánh sẵn sàng chiến đấu cùng
các thứ quân. Nhân dân cả nước tự giác thực hiện kế thanh dã triệt nguồn
trực tiếp đã làm cho tất cả các cách đánh trong thế trận phòng ngự ấy đều
thấm đậm tinh thần tích cực tiến công và đánh giặc rộng khắp.
Chiến tranh toàn dân bảo vệ đất nước thời Hậu Lê là cuộc khởi nghĩa vũ
trang toàn dân giành lại độc lập dân tộc, nhân dân và lực lượng vũ trang phối
hợp trên nhiều lĩnh vực khá toàn diện, tính chất dĩ dân và tính chất vi dân bộc
lộ rõ ràng hơn và được kết hợp khá sâu sắc. Về nghệ thuật dựng binh, quan
điểm dĩ dân thể hiện trước hết ở tư tưởng chủ đạo chở thuyền và lật thuyền
đều là dân do Nguyễn Trãi đề xướng. Trên thực tế, toàn bộ sự nghiệp Lam
Sơn đã dựa vào dân để phát động khởi nghĩa và nêu cao đại nghĩa, từ nhân
dân mà xây dựng, phát triển lực lượng. Khi còn yếu thế, nghĩa quân luôn
được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che. Khi đã lớn mạnh, đủ sức đánh
chiếm các thành, các vùng thì nhân dân hết lòng ủng hộ, nô nức đóng góp sức
người, sức của và làm hậu thuẫn tinh thần to lớn. Lực lượng khởi nghĩa lớn
mạnh đến mức cho phép bộ chỉ huy kháng chiến có thể “sĩ tốt kén người hùng
hổ, bề tôi chọn kẻ vuốt nanh”, “đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai
trận tan tác chim muông”. Sở dĩ có thể thực hiện được điều đó là nhờ chính
sách vi dân nhất quán của Lê Lợi – Nguyễn Trãi, với tư tưởng chủ đạo “việc
nhân nghĩa cốt ở an dân”. Trên thực tế, nghĩa quân ở thời kỳ gây dựng lực
lượng đã thực hiện tốt vai trò một “đội quân công tác”, sẻ chia gánh nặng và
cùng dân lo xây dựng hậu phương, căn cứ địa kháng chiến; khi đánh chiếm
kho lương của giặc đều chia cho dân để bồi dưỡng sức dân. Chính sách bình
công ban thưởng cả nước, miễn thuế cho dân sau chiến thắng, nhất là kế sách
“ngoại giao mềm” để dân yên ổn làm ăn… đều thể hiện tinh thần vi dân sâu
sắc.
Về nghệ thuật tiến hành chiến tranh và phát triển cách đánh của chiến tranh
giải phóng, tính chất toàn dân được thể hiện rất đậm nét. Nghệ thuật mở đầu
chiến tranh là vừa đánh, vừa gây dựng lực lượng, nên cách đánh du kích là
chủ yếu và theo đó, lực lượng vũ trang thực sự đóng vai trò nòng cốt cho một
cuộc chiến tranh đã manh nha dáng dấp của kháng chiến trường kỳ, toàn dân,
toàn diện. Chính vì dựa được vào dân, nên nghĩa quân không những vượt qua
quốc sơn hà chi hữu chủ”, vì độc lập dân tộc và sự tồn vong của nền văn hiến
nước Việt; sau chiến thắng, chính sách giao hảo với nhà Thanh và ban hành
một số chính sách mới nhằm khuyến dân của vua Quang Trung cũng chính là
sự thể hiện chính sách vì dân.
Về nghệ thuật tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự, cuộc chiến tranh
toàn dân trong thời kỳ này cũng có những bước phát triển mới. Trước hết, để
có thể dựa vào lòng dân nhằm bình định Bắc Hà, Bắc Bình Vương Nguyễn
Huệ đã coi trọng cuộc chiến thu phục nhân tâm hơn là các đòn tiến công quân
sự. Bởi lẽ, mặc dù ý chí “phá Trịnh, phục Lê” lúc này đang cháy bỏng trong
nhân dân và các nhân sĩ Bắc Hà, nhưng sự nghi ngại về một thứ “giặc cỏ”
(chỉ quân Tây Sơn) từ phía Nam ra chưa thể ngay một lúc làm cho nhân dân
Bắc Hà hân hoan chào đón đội quân giải phóng. Lần tiến quân ra Bắc để đại
phá quân xâm lược Mãn Thanh lại khác, Nguyễn Huệ đã đủ uy tín để lên ngôi
Hoàng đế, đặt hiệu Quang Trung. Ngài vừa hành binh thần tốc, vừa phát triển
lực lượng như vũ bão nhờ nhân dân cả nước, nhất là nhân dân Bắc Hà, đã
hoàn toàn thuận theo và hết lòng ủng hộ. Đặc biệt, trận “rồng lửa Thăng
Long” do quân và dân sở tại phối hợp chặt chẽ với đại quân Tây Sơn đã mang
dáng dấp của nghệ thuật tác chiến chiến lược, kết hợp giữa tổng tiến công của
các binh đoàn chủ lực với nổi dậy rộng khắp của nhân dân, thực sự là cả
nước chung lòng, toàn dân đánh giặc.
Chiến tranh bảo vệ đất nước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược có thể nói
là cuộc chiến tranh toàn dân “một nửa”, tức là chỉ thể hiện ở phía nhân dân
(có tiếng nói ủng hộ của một số nhân vật chủ chiến trong triều đình), còn hầu
hết triều đình đứng ngoài cuộc. Chính sự rời bỏ tư tưởng chiến tranh toàn
dân đã làm cho nhà Nguyễn từng bước thất bại ê chề, đầu hàng nhục nhã và
cuối cùng hoàn toàn sụp đổ. Cũng có những nhân vật trong phái “chủ chiến”
để lại tấm gương trung liệt như Vua Duy Tân, Vua Hàm Nghi, Tôn Thất
Thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu và những chí sĩ yêu nước khác,
song cái thế xuống dốc không phanh của phong kiến Việt Nam thời kỳ suy
tàn và tiêu vong, sự bị vượt qua về mặt hình thái kinh tế – xã hội và sự thối
tham gia tự giác, có tổ chức, lãnh đạo theo một đường lối chính trị đúng đắn,
tiên tiến; nhân dân tham gia toàn diện, liên tục từ đầu đến cuối cuộc chiến
tranh… Hơn nữa, chiến tranh nhân dân vượt hẳn chiến tranh toàn dân thời
phong kiến ở mục tiêu chiến tranh là không chỉ giành và giữ độc lập dân tộc –
lợi ích trừu tượng, mà còn gắn độc lập dân tộc với “người cày có ruộng”, trực
tiếp đem lại lợi ích căn bản, hữu hình, lâu dài cho mọi tầng lớp nhân dân. Giai
cấp lãnh đạo không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của sự nghiệp cứu nước,
giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược, đồng thời giải phóng nhân dân lao động
khỏi mọi xiềng xích áp bức, bóc lột - điều mà các triều đại phong kiến không
thể làm nổi, dù là triều đại tiến bộ nhất. Nói cách khác, nếu chiến tranh toàn
dân trước đây nhấn mạnh “do dân” thì chiến tranh nhân dân trong thời đại mới
là tổng thể hữu cơ giữa “của dân”, “do dân” với “vì dân” - điểm khởi đầu và
điểm kết thúc đều là DÂN.
Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cũng như cuộc đấu tranh của nhân
dân và lực lượng vũ trang bảo vệ nền độc lập non trẻ trước hết là sự nghiệp
của nhân dân. Giành chính quyền tại Hà Nội và ở tất cả các địa phương khác
đều là cuộc nổi dậy đồng loạt của quần chúng nhân dân nhằm tạo khí thế áp
đảo, còn lực lượng vũ trang đóng vai trò sẵn sàng ứng chiến ngầm và trên
thực tế, chưa có xung đột vũ trang đẫm máu. Nhìn nhận về cuộc Tổng khởi
nghĩa vũ trang giành chính quyền, có thể thấy, nó nằm trong hình thái tổng
thể của việc “tận dụng chiến tranh đế quốc để giành thắng lợi cho cách mạng
vô sản”, nhất là từ khi phát xít Nhật hất cẳng Pháp tại Đông Dương, thì ở một
khía cạnh nhất định, sự kiện này đã lôi cuốn Việt Nam vào vòng xoáy của
Chiến tranh thế giới thứ hai. Theo đó, chiến tranh nhân dân Việt Nam đã bắt
đầu hình thành và tiếp đó, đã thể hiện đầy đủ hình hài khi Hà Nội nổ súng mở
đầu phong trào toàn quốc kháng chiến. Cũng theo đó, chiến tranh nhân dân
Việt Nam trong thời đại mới chính là sự kế thừa và phát triển đến đỉnh cao
những tinh tuý của chiến tranh toàn dân cứu nước và giữ nước trong lịch sử
dân tộc. Với phương pháp loại suy – lôgíc thì chính “chiến tranh nhân dân
Thủ đô” được mở rộng thành “chiến tranh nhân dân giải phóng” trên phạm vi
tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc ở miền Bắc và chiến tranh nhân dân giải
phóng ở miền Nam. Đến thời kỳ này, phạm trù “chiến tranh nhân dân” đã
định hình rõ nét, phát huy tác dụng to lớn. Đặc biệt, nếu trong kháng chiến
chống Pháp, Hà Nội khởi đầu cho chiến tranh nhân dân giải phóng thì trong
kháng chiến chống Mỹ, Hà Nội lại khởi đầu chiến tranh nhân dân thuộc loại
hình chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là loại hình chiến tranh
nhân dân diễn ra trong điều kiện ta đã có chủ quyền quốc gia, có thành quả
cách mạng cần bảo vệ. Bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ tính mạng, tài sản,
cuộc sống lao động hoà bình của nhân dân; bảo vệ Thủ đô gắn liền với bảo vệ
trái tim thiêng liêng của cả nước, bảo vệ niềm tự hào của dân tộc, bảo vệ
lương tri và phẩm giá con người… Nhân dân cả nước không chỉ đóng góp sức
người, sức của cho hoạt động chiến đấu của các lực lượng vũ trang, mà còn
trực tiếp tham gia chiến tranh. Ở miền Bắc, đó là những hoạt động phòng thủ
dân sự, phục vụ chiến đấu và vũ trang chiến đấu, tạo lưới lửa phòng không
nhân dân nhiều tầng và rộng khắp. Ở miền Nam, đó là sự đối mặt trực tiếp với
Mỹ – nguỵ của mọi tầng lớp nhân dân, từ các cụ già, em nhỏ đến những đội
quân tóc dài, những đội biệt động thành; trên tất cả các địa bàn rừng núi,
thành thị, nông thôn; bằng tất cả các hình thức đấu tranh sáng tạo và đòn
quyết định là cuộc tiến công thần tốc của các binh đoàn chủ lực kết hợp với
nổi dậy của toàn dân.
Về nghệ thuật quân sự, ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa là thế trận phòng không
nhân dân được xây dựng nhiều tầng và rộng khắp, có phương án hiệp đồng và
bảo đảm chu đáo chuẩn bị kỹ cả thế phòng tránh (phòng không nhân dân) và
thế đánh trả (các trận địa); phân công các binh chủng hoả lực hợp với sở
trường và tính năng vũ khí; kết hợp vừa chiến đấu, vừa duy trì sản xuất, vừa
bảo đảm chi viện cho chiến trường… Ở miền Nam, đó là thế trận toàn dân
đánh giặc, “kết hợp hai chân, ba mũi, ba vùng”, nối thông giữa vùng tự do,
căn cứ địa và vùng địch hậu. Lực lượng trong chiến tranh nhân dân thời kỳ
này là lực lượng toàn dân và lực lượng vũ trang ba thứ quân. Cách đánh của
chiến tranh nhân dân cũng được phát triển cực kỳ đa dạng và sáng tạo. Trong