Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam-Bài 2
CAO TRÀO CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG
DÂN TỘC VÀ TỔNG KHỞI NGHĨA
THÁNG TÁM (1939-1945)
Chiều 30-8 trước cửa Ngọ Môn, trước cuộc míttinh hàng vạn người
tham gia, vua Bảo Đại đọc lời thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng.
Đại diện Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố xoá
bỏ chế độ quân chủ ở Việt Nam.
Khi được tin tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế thắng lợi, Đảng bộ miền
Nam quyết định chọn ngày 25-8 làm ngày khởi nghĩa ở Sài Gòn và các
tỉnh còn lại. Ngày 25-8, hơn 1.000.000 nhân dân thành phố Sài Gòn và
các tỉnh chung quanh biểu tình tuần hành thị uy, hô vang các khẩu hiệu:
- Đả đảo bù nhìn Nguyễn Văn Sâm!
- Việt Nam hoàn toàn độc lập!
- Tất cả chính quyền về tay Việt Minh!
- Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!
(Khi ấy Nguyễn Văn Sâm là Khâm sai Nam bộ của Chính phủ bù nhìn
Trần Trọng Kim- TG).
Nhân dân khởi nghĩa chiếm sở cảnh sát, nhà ga, bưu điện, các bốt, các
quận, sở mật thám Catina
Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù đã lãnh đạo 10.000 chiến sĩ cách mạng bị
giam cầm nổi dậy giành quyền làm chủ trên đảo.
Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã thành công trên cả nước
do toàn dân nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác - Lênin, có
đường lối đúng đắn có thể giành thắng lợi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám:
"Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào,
mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể
tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân
tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảngmới 15 tuổi đã lãnh đạo cách
mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc".
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của những
nhân tố bên trong (lực lượng toàn dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo) và
nhân tố bên ngoài (thắng lợi của Liên Xô và Đồng minh đánh bại chủ
nghĩa phát xít Đức, sau đó đập tan một triệu quân Quan Đông của Nhật,
buộc Nhật đầu hàng không điều kiện); là kết quả của ba cao trào cách
mạng 1930-1931, 1936-1939; 1939-1945.
Từ Cách mạng Tháng Tám có thể rút ra một sốkinh nghiệm:
Một là: Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai
nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.
Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và Cương lĩnh của Đảng đã
xác định cách mạng nước ta trải qua hai giai đoạn, trước hết là cách
mạng dân tộc dân chủ, sau đó chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối gắn liền
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chống
đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến không thể tách rời nhau. Trải
qua ba cao trào cách mạng, Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn về mối quan
quốc phátxít và bọn tay sai phản động; tranh thủ hoặc trung lập những
phần tử lừng chừng. Nhờ vậy, Cách mạng Tháng Tám giành được thắng
lợi nhanh gọn, ít đổ máu.
Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách
mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ
máy nhà nước của nhân dân
Trong Cách mạng Tháng Tám, bạo lực của cách mạng là sự kết hợp chặt
chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang; kết hợp nổi dậy của
quần chúng với tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông
thôn và thành thị, trong đó vai trò quyết định là các cuộc tổng khởi
nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Cách mạng Tháng Tám là kết quả của sự
kết hợp tất cả các hình thức đấu tranh kinh tế và chính trị, hợp pháp và
không hợp pháp của quần chúng, từ thấp đến cao, từ ở vài địa phương
lan ra cả nước, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, đập
tan bộ máy nhà nước của giai cấp thống trị, lập ra bộ máy nhà nước của
nhân dân.
Năm là: Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời
cơ
Đảng ta coi khởi nghĩa là một nghệ thuật, vừa vận dụng nguyên lý của
chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm của cách mạng thế giới, vừa tổng
kết những kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở nước ta. Trong rất nhiều
văn kiện của Đảng từ năm 1939 đến nửa đầu năm 1945, Đảng đã vạch
ra những điều kiện làm thời cơ cho tổng khởi nghĩa thắng lợi.
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi chứng tỏ Đảng đã chọn đúng thời cơ.
Đó là lúc bọn cầm quyền phát xít ở Đông Dương hoang mang đến cực
độ sau khi Nhật đầu hàng; nhân dân ta không thể sống nghèo khổ như