Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam-Bài 2
CAO TRÀO CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG
DÂN TỘC VÀ TỔNG KHỞI NGHĨA
THÁNG TÁM (1939-1945) 1. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và chủ trương giải phóng dân
tộc của Đảng
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan. Chiến tranh thế giới thứ
hai bùng nổ. Quân Đức tiến công sang phía Tây trước và từ tháng 4-
1940 đến đầu năm 1941 đã chiếm và đặt ách thống trị lên hầu hết các
nước Tây Âu và Đông Âu tư bản chủ nghĩa. Nhật Bản mở rộng chiếm
đóng Trung Quốc, tiến xuống Đông Nam Á. Ngày 22-6-1941, 190 sư
đoàn phát xít Đức tấn công Liên Xô. Ngày 8-12-1941, Nhật bất ngờ tiến
công Cảng Trân Châu ở quần đảo Haoai (Mỹ), chiến tranh lan sang châu
Á - Thái Bình Dương. Quy luật lợi nhuận tối đa và sự phát triển không
đều về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến cuộc chiến
tranh giữa hai tập đoàn đế quốc: phát xít Đức - Ý - Nhật và Anh - Pháp -
Mỹ nhằm giành giật thị trường, nguồn nguyên liệu và chia lại thế giới.
Từ khi phát xít Đức xâm lược Liên Xô, tính chất chiến tranh đế quốc
chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ
cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu.
Chiến tranh thế giới thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến
nước ta. Chính phủ phản động Pháp thực hiện chính sách đàn áp các
lực lượng cộng sản và tiến bộ ở trong nước và ở các thuộc địa. Ở Đông
Dương thực dân Pháp điên cuồng tiến công Đảng Cộng sản Đông
Dương và các đoàn thể quần chúng do Đảng lãnh đạo. Một số quyền tự
do, dân chủ giành được trong thời kỳ 1936 -1939 bị thủ tiêu. Đồng chí
Lê Hồng Phong bị bắt cuối tháng 9-1939. Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt
hiệu lập chính quyền Xôviết công nông binh bằng khẩu hiệu lập Chính
phủ cộng hoà dân chủ. Hội nghị quyết định thành lậpMặt trận thống
nhất dân tộc phản đế Đông Dương bao gồm lực lượng chính là công
nhân, nông dân, đoàn kết với tiểu tư sản thành thị và nông thôn, đồng
minh hoặc trung lập tạm thời với giai cấp tư sản bản xứ, trung và tiểu
địa chủ. Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nêu ra một số chuyển
hướng về tổ chức, xây dựng các đoàn thể quần chúng bí mật, hướng
các cuộc đấu tranh của quần chúng vào đế quốc và tay sai, "dự bị
những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc".
Hội nghị cũng quyết định các chủ trương và biện pháp nhằm củng cố
Đảng về mọi mặt, thực hiện sự thống nhất ý chí và hành động trong
toàn Đảng.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 đã phát huy
tinh thần sáng tạo, kịp thời nêu ra mục tiêu chiến lược tập trung mũi
nhọn của cách mạng vào đế quốc và tay sai, chuẩn bị điều kiện giành
chính quyền, đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng về chỉ đạo
chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ.
Sau Hội nghị, phong trào đấu tranh chuyển theo phương hướng mới,
Đảng vượt qua thử thách của đợt khủng bố tháng 9-1939 và được củng
cố. Các cuộc đấu tranh của quần chúng diễn ra theo khẩu hiệu chống
chính sách phản động của chính quyền thực dân, chống chiến tranh đế
quốc. Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương được xây
dựng. Đầu năm 1940, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị
bắt, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chưa lập lại được.
Lợi dụng lúc Pháp thua Đức, ngày 22-9-1940 quân đội Nhật Bản tiến vào
Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký
hiệp định đầu hàng Nhật. Từ đó nhân dân ta bị một cổ hai tròng.
Hai là, chỉ thị cho Xứ uỷ Nam Kỳ hoãn ngay cuộc khởi nghĩa vì chưa đủ
điều kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi.
Quyết định chưa được truyền đạt tới Xứ uỷ Nam Kỳ thì ngày 23-11-
1940 cuộckhởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra. Ở hầu khắp các tỉnh miền Nam,
quần chúng nổi dậy đấu tranh dũng cảm, tiêu biểu là ở Mỹ Tho. Chính
quyền của địch ở một số xã, quận tan rã. Chính quyền cách mạng được
thành lập, thực hiện một số cải cách dân chủ, dân sinh, bảo vệ trị an,
xét xử bọn phản động. Lần đầu tiên, cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại một
số vùng ở Mỹ Tho và Vĩnh Long. Cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn
áp rất dã man. Gần 6.000 người bị bắt và bị giết. Nhiều làng mạc bị ném
bom và đốt phá. Một số đồng chí lãnh đạo của Đảng bị bắt và bị xử bắn
trước cuộc khởi nghĩa.
Ngày 13-1-1941, binh lính yêu nước dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn
Cung (tức Đội Cung) đã nổi dậy đánh chiếm đồn Chợ Rạng (Thanh
Chương), kéo về Đô Lương, rồi tiến về Vinh. Cuộc khởi nghĩa nhanh
chóng bị đế quốc dập tắt.
Trong vòng ba tháng, ba cuộc khởi nghĩa diễn ra ở cả ba miền Bắc, Nam,
Trung, đã thức tỉnh tinh thần cách mạng của nhân dân cả nước và để lại
nhiều kinh nghiệm quý báu về khởi nghĩa vũ trang. Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941) nhận định: đó là những tiếng
súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh
bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương. Kinh nghiệm lớn nhất của các
cuộc khởi nghĩa trên là muốn khởi nghĩa thành công phải có đủ các điều
kiện khách quan và chủ quan chín muồi, trên cơ sở cuộc khủng hoảng
chính trị, kinh tế diễn ra trong bộ máy thống trị của chủ nghĩa đế quốc
và dựa vào cao trào cách mạng đã dâng lên trong cả nước.