1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN SINH THÁI VÀ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TÀI NGUYÊN SINH VẬT
AN THỊ HẰNG NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG VÀ GIÁ TRỊ BẢO TỒN
CỦA CÁC LOÀI ẾCH NHÁI Ở CÁC HUYỆN HẠ LANG
VÀ TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC HÀ NỘI, NĂM 2013
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
nhiên chủ yếu tập trung hai huyện Trùng Khánh và Hạ Lang. Tuy nhiên, các
công trình công bố về đa dạng sinh học ở tỉnh Cao Bằng rất ít và rải rác, đặc
biệt là các loài bò sát và ếch nhái. Theo Nguyen et al. (2009), có 40 loài ếch
nhái đã được ghi nhận ở Cao Bằng. Hồ Thu Cúc và cs. (2009) đã ghi nhận 29
loài ếch nhái ở khu vực núi Pia Oắc, huyện Nguyên Bình đồng thời bổ sung
thêm 5 loài ếch nhái cho tỉnh Cao Bằng. Hầu hết các nghiên cứu trên tập
trung ở khu vực rừng trên núi đất thấp và núi đá granit thuộc huyện Nguyên
Bình. Ở hai huyện Hạ Lang và Trùng Khánh, hiện mới chỉ có một số bài báo
có liên quan đến công bố loài mới và ghi nhận mới của các loài bò sát như:
Goniurosaurus araneus, Goniurosaurus luii, Protobothrops trungkhanhensis
(Grismer et al. 1999, Orlov et al. 2009). Gần đây đã có thêm một loài ếch nhái
mới cho khoa học được mô tả với mẫu vật thu được từ khu vực Hạ Lang là
Gracixalus waza (Nguyen et al. 2012).
Như vậy, cho đến nay hầu như chưa có nghiên cứu nào về thành phần
loài ếch nhái được thực hiện trên sinh cảnh núi đá vôi ở hai huyện kể trên. Vì
vậy, để góp phần đánh giá giá trị đa dạng sinh học làm cơ sở cho công tác quy
hoạch bảo tồn của tỉnh Cao Bằng, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự đa dạng và
giá trị bảo tồn của các loài ếch nhái ở các huyện Hạ Lang và Trùng
Khánh, tỉnh Cao Bằng”.
Mục tiêu nghiên cứu
+ Phát hiện loài mới và các ghi nhận mới về các loài ếch nhái ở khu
vực nghiên cứu.
+ Đánh giá sự đa dạng các loài ếch nhái ở khu vực rừng thuộc các
huyện Trùng Khánh và Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Đánh giá giá trị bảo tồn của khu hệ ếch nhái theo tiêu chí số loài đặc
hữu và bị đe dọa
sát ở Việt Nam có thể chia ra bốn thời kỳ: thời kỳ thứ nhất từ năm 1954 trở về
trước; thời kỳ thứ hai từ năm 1954 đến năm 1975; thời kỳ thứ ba từ năm 1976
đến năm 1987 và thời kỳ thứ tư từ năm 1988 đến nay.
1.1.1. Thời kỳ thứ nhất
Danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XVII) là người đầu tiên đã thống kê được 16
vị thuốc có nguồn gốc từ ếch nhái bò sát trong số 498 vị thuốc nam dùng chữa
bệnh (Tuệ Tĩnh, bản in lại 1972).
Sang đến đầu thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu nổi bật nhất về khu
hệ bò sát và ếch nhái ở khu vực Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia)
là của Bourret được xuất bản trong khoảng thời gian từ năm 1924 đến năm
1944.
Theo Nguyen et al. (2009), từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX có
84 loài mới về ếch nhái và bò sát đã được mô tả với mẫu chuẩn thu được ở
Việt Nam.
1.1.2. Thời kỳ thứ hai
Năm 1968 – 1970: Viện nghiên cứu Khoa học tự nhiên thuộc Uỷ ban
Khoa học và kỹ thuật Nhà nước đã tiến hành điều tra ở nhiều tỉnh như: Hà
Bắc, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Tĩnh. Thời kì này các nhà khoa học Việt
Nam đã thống kê ở Miền Bắc Việt Nam có 69 loài ếch nhái.
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 1.1.3. Thời kỳ thứ ba
Thời kỳ này những nghiên cứu thường tập trung thống kê thành phần
loài của một vùng hay một khu vực. Ngoài ra có một số nghiên cứu về sinh
thái, sinh học của một số loài có giá trị kinh tế.
Ở Miền Bắc, từ năm 1975 công tác điều tra ếch nhái được tiến hành ở
bộ ở Việt Nam.
Biểu đồ 1.1. Sự đa dạng của ếch nhái qua các thời kì (1977-2012)
Trong quá trình nghiên cứu, đã có nhiều loài mới cho khoa học được
mô tả và hàng loạt ghi nhận mới cho khu hệ ếch nhái bò sát Việt Nam được
công bố bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước. Một số phát hiện mới ở
các tỉnh lân cận trong khu vực Đông Bắc Việt Nam như:
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bain and Nguyen (2004) đã công bố danh sách khu hệ ếch nhái của tỉnh
Hà Giang năm 2000, ở khu hệ này các tác giả đã thống kê được 36 loài ếch
nhái và mô tả hai loài mới Rana iriodes và Rana tabaca.
Böehme et al. (2005) mô tả loài Cá cóc sần việt nam Tylototriton
vietnamensis với mẫu chuẩn thu được ở vùng núi Yên Tử thuộc tỉnh Bắc
Giang.
Nguyen et al. (2008) ghi nhận hai loài mới cho khu hệ ếch nhái vùng
núi Yên Tử là Rhacophorus maximus và Rhacophorus rhodopus.
Tran et al. (2008) mô tả thêm một loài mới cho khu hệ núi Yên Tử, tỉnh
Bắc Giang là Odorrana yentuensis. Ngoài ra, hướng nghiên cứu về sinh thái,
sinh học, đặc điểm hình thái của nòng nọc và con non một số loài ếch nhái có
ý nghĩa kinh tế, giá trị khoa học cũng được tăng cườnglàm cơ sở xây dựng
quy trình nhân nuôi và bảo tồn.
Hendrix et al. (2007) mô tả hình thái và phân tích trình tự ADN của
nòng nọc loài Ếch cây trung bộ Rhacophorus annamensis Smith, 1924 ở
Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình.
Ngô Đắc Chứng và cs. (2009) nghiên cứu một số đặc điểm sinh học,
sinh thái học của Ếch gai sần Paa verrucospinosa Bourret, 1937 ở vùng A
Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Philautus laevis thành loài Theloderma leave (Orlov et al. 2012).
1.2. Một số nghiên cứu về ếch nhái ở Cao Bằng
Nghiên cứu về khu hệ ếch nhái của tỉnh Cao Bằng còn rất hạn chế,
ngoại trừ một số ghi nhận và mô tả loài mới trong tài liệu của Bourret (1942),
có một số nghiên cứu đã được thực hiện ở tỉnh Cao Bằng nhưng tập trung ở
khu vực núi đất và núi đá granit ở khu vực Nguyên Bình và núi Pia Oắc.
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hồ Thu Cúc và cs. (2005) đã nghiên cứu thành phần loài ếch nhái ở
một số khu vực thuộc vùng núi Đông Bắc Việt Nam bao gồm 82 loài thuộc 9
họ, 3 bộ trong đó ghi nhận 37 loài ở tỉnh Cao Bằng.
Nguyễn Thiên Tạo (2009) điều tra ở khu vực núi Pia Oắc, huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đã ghi nhận 29 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 3 bộ ở
khu vực này.
Nguyen et al. (2012) mô tả loài Nhái cây wa-za Gracixalus waza với
mẫu chuẩn thu ở Cao Bằng.
Nishikawa et al. (2013) mô tả loài Cá cóc zig-lơ Tylototriton ziegleri
với mẫu chuẩn thu ở Cao Bằng và Hà Giang.
1.3 . Sơ lƣợc điều kiện tự nhiên tỉnh Cao Bằng
1.3 .1. Vị trí địa lý và diện tích
Cao Bằng nằm ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, cách Hà Nội khoảng
300 km về phía Bắc. Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với
đường biên giới dài 311 km. Phía Tây giáp với các tỉnh Tuyên Quang và Hà
Giang. Phía Nam giáp với các tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Diện tích của Cao
Bằng có là 6724,6 km
2
(Nxb Bản đồ 2011).
Huyện Trùng Khánh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng, cách trung
Theo Nguyễn Khanh Vân và cs. (2000), khí hậu của tỉnh Cao Bằng
nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, mùa hè có thời
kì khô từ 2-3 tháng. Nằm ở phía Bắc của vùng Đông Bắc, lại có địa hình núi
cao nên nền nhiệt của Cao Bằng giảm đi nhiều so với các tỉnh khác. Nhiệt độ
trung bình năm là 21,6
0
C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 14
0
C (tháng
I) và tháng cao nhất 27,3
0
C (tháng VII). Ở các vùng cao của tỉnh thường xuất
hiện sương muối, băng giá. Sương mù kéo dài tới 4-5 tháng.
Về chế độ mưa, lượng mưa trung bình năm của toàn tỉnh là 1442,7 mm
(trung bình tháng cao nhất là 267,1 mm – tháng VIII, tháng thấp nhất 16,1
mm – tháng I). Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 81%, thấp nhất là 79
% (Nguyễn Khanh Vân và cs. 2000).
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.4. Thủy văn
Với một đặc điểm tự nhiên đồi núi phong phú, đa dạng, chiếm hơn 90%
diện tích của tỉnh, nên mạng lưới sông, suối, hồ tự nhiên khá nhiều, song phân
bố không đều. Theo cổng thông tin điện tử của tỉnh Cao Bằng
(www.caobang.gov.vn), hệ thống các con sông chảy theo hướng chính là Tây
Bắc – Đông Nam và Bắc – Nam. Lưu lượng dòng chảy thay đổi theo mùa,
mùa mưa thì dòng chảy lớn, mùa cạn thì dòng chảy thấp. Gồm các hệ thống
sông chính là:
Hệ thống sông Bắc Vọng có diện tích lưu vực là 1329 km
các thung lũng ven các thôn bản là bãi chăn thả gia súc và đất canh tác nông
nghiệp.
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
CHƢƠNG II. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát từ ngày 4/4/2012 đến ngày 28/5/2012
Ký hiệu mẫu: Sau khi gây mê, mẫu vật được đeo nhãn có đánh số ký
hiệu. Nhãn và chỉ buộc không thấm nước, chữ viết trên nhãn không bị tan
trong cồn. Đối với ếch nhái thì buộc nhãn vào đầu gối.
Cố định mẫu: Việc cố định mẫu cần đảm bảo mẫu có hình dạng dễ
phân tích hoặc quan sát sau này. Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn,
sau đó phủ vải màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80–90% trong
vòng 8–10 tiếng. Đối với mẫu ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và
cơ của con vật để tránh thối hỏng mẫu.
Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được
chuyển sang ngâm trong cồn 70%.
2.2.2. Mẫu vật nghiên cứu
Mẫu vật nghiên cứu: đã phân tích 109 mẫu ếch nhái.
Mẫu vật được lưu trữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2.3. Các chỉ tiêu hình thái
Các chỉ tiêu về kích thước được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool
với đơn vị đo nhỏ nhất là 0,01 mm.
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu hình thái (đơn vị đo: mm)
S
TT
Kí hiệu
Giải thích
Thân và đầu
6
7
7
TED
Khoảng cách từ bờ trước của màng nhĩ đến góc sau của mắt
8
8
TD
Đường kính lớn nhất của màng nhĩ
9
9
HW
Rộng đầu: Đo phần rộng nhất của đầu
1
10
IND
Khoảng cách gian mũi (giữa 2 lỗ mũi)
1
11
AOD
Khoảng cách góc trước giữa hai ổ mắt
1
12
IOD
Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng cách hẹp nhất giữa 2 ổ
mắt
1
13
UEW
Rộng mí mắt: Phần rộng nhất của mí mắt trên
20
FD3
Chiều rộng đĩa bám ngón tay III
2
21
MKTi
Chiều dài củ bàn trong
2
22
MKTe
Chiều dài củ bàn ngoài
Chi sau
2
23
HLL
Dài chi sau từ mép ngoài đĩa ngón IV chân sau tới bẹn
2
24
FL
Chiều dài đùi (từ lỗ huyệt đến đầu gối)
2
25
TL
Chiều dài ống chân (từ đầu gối đến khớp cổ-bàn)
2
26
FOT
Chiều dài bàn chân (từ khớp cổ bàn đến mút ngón IV)
2
27
3
34
MTTi
Chiều dài củ bàn trong
3
35
MTTe
Chiều dài củ bàn ngoài
2.2.4. Định loại và phân tích số liệu
Định loại mẫu vật: So sánh hình thái của mẫu vật thu được với các
mẫu đã được định tên đang lưu giữ ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,
Hà Nội. Định loại tên loài theo các tài liệu của Bain & Nguyen (2004), Bain
et al. (2006, 2009), Hendrix et al. (2008), Inger et al. (1999), Nguyen Van
Sang et al. (2009), Nguyen Quang Truong et al. (2012) và một số tài liệu khác
có liên quan. Tên khoa học và phổ thông của loài theo Nguyen Van Sang et
al. (2009) và một số tài liệu mới công bố gần đây.
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thống kê: Sử dụng phần mềm PAST Statistics (Hammer et al., 2001)
để phân tích thống kê và so sánh sự tương đồng về thành phần loài ếch nhái
của khu vực nghiên cứu với các khu vực so sánh.
Số liệu về phân bố được mã hóa theo dạng đối xứng (1: có mặt, 0:
không có mặt). Chỉ số tương đồng (Dice index) dựa trên công thức của
Sorensen được tính như sau:
djk = 2M/ (2M+N)
Trong đó M là số loài ghi nhận ở cả 2 vùng, N là tổng số loài chỉ ghi
nhận ở một vùng.
màng bơi ở gốc ngón; mút ngón chân không có đĩa, màng bơi; củ bàn ngoài
lớn hơn củ bàn trong, củ dưới khớp ngón rõ; khi gập dọc thân, khớp chày–cổ
không chạm đến mắt.
Mặt lưng và bụng khá nhẵn.
Màu sắc mẫu sống: Thân màu nâu nhạt, trên lưng có vệt màu nâu sẫm
dạng đối xứng qua trục thân kéo dài từ gian ổ mắt đến cuối thân, thắt lại ở
vùng vai và phía cuối; thường có vệt đen mảnh đứt đoạn dọc theo nếp da lưng
sườn. Bụng màu trắng đục.
Phân bố:
Trong khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu trên cánh đồng ngô gần bản
Tao, xã Kim Loan, huyện Hạ Lang. Rừng xung quanh bản Tao bị tác động
mạnh, chỉ còn cây gỗ vừa vào nhỏ trên sườn núi, phía dưới là cây bụi, các
thung lũng là ruộng lúa nước, nương ngô và sắn. Một mẫu con cái thu tại bản
Hàu (xã Cao Thăng), huyện Trùng Khánh .
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Việt Nam: Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng
Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hải Phòng, Hải Dương, Sơn La, Hòa Bình, Ninh
Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm
Đồng, Khánh Hòa, Bình Phước, Đồng Nai, Hồ Chí Minh, Tây Ninh (Nguyen
et al. 2009).
Thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Căm-pu-
chia, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po (Nguyen et al. 2009).
2. Nhái bầu hây-môn Microhyla heymonsi Vogt, 1911
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.108 (SVL
23,6 mm) và 2 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.113 (SVL 22 mm), CB
Phân bố:
Trong khu vực nghiên cứu: 2 mẫu được thu ở trong cánh đồng ngô
thuộc bản Hàu (xã Cao Thăng, huyện Trùng Khánh), 1 mẫu được thu ở rìa
một lạch nhỏ, xung quanh là rừng hỗn hợp tre nứa, cây bụi và gỗ lớn gần bản
Coỏng (xã Đức Quang, huyện Hạ Lang).
Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn,
Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình,
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,
Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai,
Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Cà Mau (Nguyen et al. 2009).
24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thế giới: Đông Bắc Ấn Độ, miền Nam Trung Quốc (bao gồm cả đảo
Hải Nam và Đài Loan), Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-
xi-a (Nguyen et al. 2009).
Ghi chú: Các mẫu thu được hầu hết phù hợp với các mô tả trong các tài
liệu trước đây, tuy nhiên, mẫu CB 2012.141 có chiều dài đầu lớn hơn chiều
rộng (HL 7 mm, HW 6 mm). Theo Manthey & Grossmann (1997) chiều dài
thân của con cái trưởng thành thường lớn hơn con đực (SVL 22,0-26,0 mm ở
con cái, 18,0-21,0 mm ở con đực). Mẫu 1 cá thể cái của chúng tôi có SVL
23,6 mm lớn hơn chiều dài 2 con đực có SVL 22 mm.
3. Nhái bầu vân Microhyla pulchra (Hallwell, 1861)
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.18 (SVL
24,8 mm) và 1 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.7 (SVL 29 mm) thu vào
tháng 4/2012, ở độ cao 492-594 m so với mực nước biển.
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu phù hợp với mô tả của
Ziegler, 2002.
Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Hồ Chí Minh (Nguyen et al.
2009).
Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia (Nguyen et
al. 2009)
Họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae Anderson, 1871
4. Ngóe Fejervarya limnocharis (Gravenhorst, 1829)