i
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành Chương trình đào tạo sau đại học của Trường Đại học Lâm
nghiệp Việt Nam, được sự đồng ý của Khoa Đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý tài
nguyên rừng và Môi trường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sự đa
dạng và giá trị bảo tồn của các loài bò sát (Reptilia) và ếch nhái (Amphibia) ở
Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn”.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS. Nguyễn Quảng Trường, Viện Sinh thái và
Tài nguyên Sinh Vật, người hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho
tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này. Xin cảm ơn ThS Lưu
Quang Vinh, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm
nghiệp Việt Nam, đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện nghiên cứu thực địa, chỉnh
sửa bản thảo luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa
Đào tạo Sau đại học, khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường Trường Đại học
Lâm nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ và chỉ dẫn nhiều ý kiến chuyên môn quan
trọng, giúp tôi nâng cao chất lượng luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban quản lý và cán bộ công nhân viên KBTTN
Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn; lãnh đạo và người dân các xã của Khu BTTN đã giúp đỡ tôi
trong việc điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này. Tôi vô cùng biết ơn sự
quan tâm, giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè đồng nghiệp trong
quá trình thực hiện luận văn.
Xin cảm ơn sự hỗ trợ kinh phí và thiết bị kỹ thuật của tổ chức IDEA WILD.
Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện đề tài
không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý
báu để bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn
là trung thực, khách quan.
Xuân Mai, ngày 13 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Kim Dung
2.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
7
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
7
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.4.1. Công tác chuẩn bị 8
2.4.2. Khảo sát thực địa
8
2.4.3 Phân tích mẫu vật và định loại
11
2.4.4. Đánh giá nhân tố tác động đến khu hệ bò sát và ếch nhái
14
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 15
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
15
3.1.1. Vị trí địa lý 15
3.1.2. Địa hình
15
3.1.3. Địa chất, đất đai
16
3.1.4. Khí hậu thủy văn
16
3.2. HIỆN TRẠNG DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI
3.2.1. Dân số, dân tộc
17
3.2.2. Tập quán sinh hoạt, sản xuất 17
17
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
69
4.5.1. Các nhân tố đe dọa 69
4.5.2. Kiến nghị đối với công tác bảo tồn
70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN 72
2. KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
72
iv
DANH LỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Ý nghĩa
Chữ viết tắt
EN
Nguy cấp
et al. (tài liệu tiếng Anh) Cộng sự
cs. (tài liệu tiếng Việt)
IUCN
Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới
GPS
Máy định vị toàn cầu
BẢNG 2.1: TỌA ĐỘ CÁC TUYẾN KHẢO SÁT Ở KBTTN KIM HỶ
NOT DEFINED.9
ERROR! BOOKMARK
BẢNG 2.2: CÁC CHỈ TIÊU HÌNH THÁI CÁC LOÀI BÒ SÁT VÀ ẾCH NHÁI
BOOKMARK NOT DEFINED.11
ERROR!
Bảng 2.3: Các chỉ số đếm vảy ở bò sát ................................................................... 12
BẢNG 4.1: THÀNH PHẦN LOÀI ẾCH NHÁI Ở KBTTN KIM HỶ ERROR! BOOKMARK NOT
DEFINED.59
BẢNG 4.2: THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT Ở KBTTN KIM HỶ
DEFINED.61
ERROR! BOOKMARK NOT
BẢNG 4.3: CHỈ SỐ ĐA DẠNG CÁC ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU TRONG KBTTN KIM HỶ ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED.63
BẢNG 4.4: CHỈ SỐ TƯƠNG ĐỒNG (DICE INDEX) VỀ ĐA DẠNG LOÀI ẾCH NHÁI VÀ BÒ SÁT
GIỮA CÁC ĐIỂM NGHIÊM CỨU TRONG KBTTN KIM HỶ
ERROR! BOOKMARK NOT
DEFINED.64
BẢNG 4.5: CHỈ SỐ ĐA DẠNG VỀ ĐA DẠNG LOÀI GIỮA KBTTN, VQG ERROR! BOOKMARK
NOT DEFINED.66
BẢNG 4.6: CHỈ SỐ TƯƠNG ĐỒNG (DICE INDEX) VỀ ĐA DẠNG LOÀI ẾCH NHÁI GIỮA CÁC
KBTTN, VQG ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.66
BẢNG 4.7: CHỈ SỐ ĐA DẠNG VỀ ĐA DẠNG LOÀI GIỮA CÁC KBTTN VÀ VQGERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED.68
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu hệ ếch nhái và bò sát của Việt Nam rất đa dạng với khoảng 620 loài đã
được ghi nhận (Nguyen et al. 2009; Frost 2014; Uetz & Hošek 2014). Hàng năm
vẫn có nhiều loài bò sát, ếch nhái mới được phát hiện với mẫu chuẩn thu ở Việt
Nam. Từ năm 1980 đến 2013 có 3 giống mới và hơn 180 loài mới đã được phát hiện
cho khoa học (Nguyen et al. 2009, Ziegler & Nguyen 2010).
Tuy nhiên, những nghiên cứu về bò sát và ếch nhái ở vùng núi đá vôi còn
khá hạn chế, có một số công trình công bố liên quan đến thành phần loài bò sát và
ếch nhái như: VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, Ziegler & Vu (2009) đã ghi nhận tổng
số 138 loài với 93 loài bò sát và 45 loài ếch nhái. Luu et al. (2013) đã cập nhật danh
lục với tổng cộng 151 loài bò sát và ếch nhái (101 loài bò sát, 50 loài ếch nhái)
trong đó ghi nhận mới 13 loài bổ sung cho VQG Phong Nha-Kẻ Bàng và tỉnh
Quảng Bình. Nguyen et al. (2011) công bố về thành phần loài bò sát ở VQG Cát Bà
ghi nhận 40 loài. Trong những năm gần đây, có hàng loạt loài tắc kè mới được công
bố ở sinh cảnh núi đá vôi như: Ngo (2011) công bố loài Cyrtodactylus martini ở Lai
Châu; Ngo & Chan (2011) công bố loài mới C. cucphuongensis ở VQG Cúc
Phương, Ninh Bình; Luu et al. (2011) công bố loài C. huongsonensis ở Mỹ Đức, Hà
Nội; Nguyen et al. (2013) công bố loài Gekko adleri và loài Hemiphyllodactylus
zugi ở Hạ Lang, Cao Bằng. Nguyen et al. (2012) phát hiện loài nhái cây wa-za
Gracixalus waza ở vùng núi đá vôi của tỉnh Cao Bằng. Milto et al. (2013) công bố
thêm hai loài nhái cây mới ở đảo Cát Bà: Liuixalus calcarius và Philautus
catbaensis.
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Kim Hỷ được thành lập theo quyết định
số 1804/QĐ-UB ngày 01 tháng 9 năm 2003 của UBND tỉnh Bắc Kạn. Nhiệm vụ
chính là bảo tồn sinh cảnh đặc trưng rừng trên núi đá vôi, các hệ động, thực vật và
các nguồn gen quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, phục vụ công tác nghiên
cứu khoa học đồng thời ổn định và nâng cao đời sống trong khu vực bảo tồn. Mặc
dù đã được thành lập hơn 10 năm, nhưng hiểu biết về khu hệ động vật ở KBTTN
năm 1941 và Les Batraciens de l’Indochine xuất bản năm 1942 được coi là tài liệu
đầy đủ nhất ở thời điểm đó về thành phần loài ếch nhái và bò sát của vùng Đông
dương (Việt Nam, Lào và Campuchia). Tác giả này đã ghi nhận 177 loài và phân
loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa và 171 loài và phân
loài ếch nhái ở vùng Đông dương. Trong giai đoạn từ 1900 đến 1954, đã có 75 loài
mới được mô tả từ bộ mẫu chuẩn thu ở Việt Nam trong đó nổi bật nhất là hàng loạt
công bố của Smith (giai đoạn 1920-1940) và của Bourret (giai đoạn 1930-1940) [8].
Thời kỳ 1954–1974: Tài liệu tổng kết về các kết quả khảo sát ở miền Bắc của
Trần Kiên và cs. (1981) đã ghi nhận có 68 loài ếch nhái và 159 loài bò sát [13].
Thời kỳ 1975–1986: Đào Văn Tiến đã thống kê ở Việt Nam có 87 loài ếch
nhái, 77 loài Thằn lằn, 165 loài rắn, 32 loài rùa và 2 loài cá sấu [13].
4
Nghiên cứu về ếch nhái được đẩy mạnh đặc biệt từ những năm 1990 trở lại
đây. Việc thành lập các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên đã đòi hỏi phải
tiến hành khảo sát và đánh giá tổng thể về hiện trạng nguồn tài nguyên sinh vật
nhằm tạo lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch và quản lý.
Thời kỳ 1987–2009: Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã ghi
nhận ở nước ta có 340 loài gồm 82 loài ếch nhái và 258 loài bò sát [5], đến năm
2005 tổng số loài đã lên tới 458 loài gồm 162 loài ếch nhái và 296 loài bò sát [6], và
cuốn danh lục mới xuất bản năm 2009 đã ghi nhận tổng số loài là 545 loài gồm 177
loài ếch nhái và 368 loài bò sát [36]. Theo thống kê chưa chính thức, số lượng loài
bò sát và ếch nhái hiện nay khoảng 630 loài gồm 200 loài ếch nhái và khoảng 430
loài bò sát [25,61].
Trong thời kỳ 1975–1986 phát hiện được 6 loài mới cho khoa học, trong đó chỉ
có 3 loài có tác giả là người Việt Nam thì từ năm 1987–2009, số loài phát hiện mới cho
khoa học đã tăng lên 108 loài, trong đó có 65 loài có nhà khoa học Việt Nam tham gia
và có tới 11 loài có tác giả đứng đầu là người Việt Nam [8]. Trong 5 năm trở lại đây
2011;
Cyrtodactylus
huongsonensis Luu, Nguyen, Do & Ziegler, 2011 [61]. Riêng năm 2013 có 15 loài bò
sát và ếch nhái mới cho khoa học được phát hiện trong đó có 5 loài ếch nhái gồm:
Kaloula indochinensis Chan, Blackburn, Murphy, Stuart, Emmett, Ho, and Brown,
Leptolalax botsfordi Rowley, Dau, and Nguyen, Oreolalax sterlingae Nguyen,
Phung, Le, Ziegler, and Böhme, Rhacophorus helenae Rowley Tran, Hoang, and Le,
Tylototriton ziegleri Nishikawa, Matsui, and Nguyen, và 10 loài bò sát Azemiops
kharini Orlov, Ryabov & Nguyen; Cyrtodactylus kingsadai Ziegler, Phung, Le &
Nguyen; Sphenomorphus sheai Nguyen, Nguyen, Van Devender, Bonkowski &
Ziegler; Cyrtodactylus phuocbinhensis Nguyen, Le, Tran, Orlov, Lathrop, Macculloch,
Le, Jin, Nguyen, Nguyen, Hoang, Che, Murphy & Zhang; Calotes bachae Hartmann,
Geissler, Poyarkov, Ihlow, Galoyan, Rödder & Böhme; Cyrtodactylus dati Ngo;
Gekko adleri Nguyen, Wang, Yang, Lehmann, Le, Ziegler & Bonkowski;
Hemiphyllodactylus zugi Nguyen, Lehmann, Le, Duong, Bonkowski & Ziegler; và
Oligodon cattienensis Vassilieva, Geissler, Galoyan, Poyarkov Jr., Van Devender &
Böhme [7].
Nhận xét chung: Những công trình nghiên cứu trên đã bổ sung thêm nhiều loài bò sát,
ếch nhái cho Việt Nam. Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng
lên rõ rệt qua các thời kỳ. Những kết quả nghiên cứu trên cũng chỉ ra các mối đe dọa
chính đối với khu hệ ếch nhái Việt Nam bao gồm: khai thác quá mức cho thương mại
và mất sinh cảnh do chuyển đổi đất rừng sang mục đích sử dụng khác.
1.2. Các nghiên cứu ở tỉnh Bắc Kạn và KBTTN Kim Hỷ
Tỉnh Bắc Kạn nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam và có 3 khu bảo tồn là VQG
Ba Bể, KBTTN Kim Hỷ và Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Đã có một
số nghiên cứu về đa dạng sinh học ở tỉnh Bắc Kạn nhưng mới chỉ tập trung vào VQG
Ba Bể và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Theo Nguyễn Văn Sáng và
sát và ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giá sự đa dạng về thành phần loài ếch nhái và bò sát tại KBTTN Kim Hỷ.
+ Đánh giá đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái và bò sát tại KBTTN Kim
Hỷ theo điểm nghiên cứu và dạng sinh cảnh.
+ Đánh giá giá trị bảo tồn của các loài ếch nhái và bò sát ở KBTTN Kim Hỷ
dựa vào số lượng loài quý hiếm (bị đe dọa) và đặc hữu.
+ Xác định các nhân tố đe dọa đến các loài bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ
+ Đề xuất giải pháp bảo tồn bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bò sát và ếch nhái.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chúng tôi tiến hành khảo sát ở 3 điểm (6
tuyến) thuộc địa bàn KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn.
2.3. Nội dung nghiên cứu
a) Xác định sự đa dạng về thành phần loài bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ.
- Lập danh sách loài, xác định các nhóm loài chiếm ưu thế trong khu vực.
- Ghi nhận các loài mới cho KBTTN Kim Hỷ và cho tỉnh Bắc Kạn.
- So sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái của khu vực
nghiên cứu với một số khu vực khác có sinh cảnh tương tự.
b) Ghi nhận sự phân bố của các loài theo các dạng sinh cảnh sống trong khu vực.
- Theo sinh cảnh
- Theo phân bố địa lý
8
c) Nghiên cứu, xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài bò sát, ếch
nhái ở khu vực nghiên cứu từ đó đề xuất biện pháp bảo tồn loài.
- Mất sinh cảnh sống
- Khai thác quá mức
b) Điều tra theo tuyến
Nguyên tắc lập tuyến:
+ Tuyến điều tra được lập dựa vào bản đồ địa hình, thảm thực vật và sinh
cảnh sống của các loài ếch nhái và bò sát tại khu vực nghiên cứu.
+ Tuyến điều tra sẽ đi qua các dạng sinh cảnh, độ cao khác nhau của khu vực
nghiên cứu, đặc biệt quan tâm đến các điểm có nước (mỏ nước, suối), hang và vách đá,
các thung lũng. Mỗi tuyến điều tra được đánh dấu điểm đầu và điểm cuối trên GPS.
Qua kết quả điều tra sơ bộ, tham khảo bản đồ địa hình, thảm thực vật và kết hợp
với tìm hiểu tài liệu tại KBTTN Kim Hỷ tôi đã xác định được 3 dạng sinh cảnh chính
như sau:
+ Sinh cảnh 1 (SC1): Rừng trên núi đá vôi ít bị tác động.
+ Sinh cảnh 2 (SC2): Rừng trên núi đá vôi và rừng ven khu dân cư đã bị tác động.
+ Sinh cảnh 3 (SC3): Đất nông nghiệp và khu dân cư, làng bản.
Các tuyến điều tra:
Bảng 2.1: Tọa độ các tuyến khảo sát ở KBTTN Kim Hỷ
STT
Tuyến 1
Tuyến 2
Tuyến 3
Tuyến 4
Tuyến 5
Tuyến 6
Vị trí 1
Bản Kẹ
(Tọa độ: E0453109/N2463622)
Thẳm Mu
Chủ yếu thu thập bằng tay và các dụng cụ chuyên dụng (như vợt, kẹp và gậy
bắt rắn).
Thời gian thu mẫu: Một số loài bò sát, ếch nhái có thể thu thập mẫu vật và
quan sát vào ban ngày. Nhưng nhiều loài bò sát, ếch nhái thường hoạt động vào ban
đêm, do đó đã tiến hành quan sát và thu mẫu vào các thời điểm như sau: từ 10h sáng
đến 14h chiều (thu thập một số loài thằn lằn, cóc, một số loài rắn) và từ 19h đến 24h
(rắn, ếch nhái, thằn lằn).
Trên các tuyến khảo sát, chúng tôi quan sát và ghi nhận các loài ếch nhái và
bò sát ở các dạng sinh cảnh khác nhau.
d) Xử lý mẫu vật
Mẫu vật ếch nhái thu được thường đựng trong các túi nilon, mẫu bò sát đựng
trong túi vải. Sau khi chụp ảnh mẫu vật, mẫu vật đại diện cho các loài được giữ lại
làm tiêu bản nghiên cứu tại Trường Đại học Lâm nghiệp. Tổng số đã thu thập được
72 mẫu vật để phân tích đặc điểm hình thái.
+ Làm tiêu bản:
Gây mê: Mẫu vật được gây mê trong vòng 24 giờ sau khi thu thập bằng
miếng bông thấm etyl a-xe-tat. Mẫu cơ hoặc mẫu gan dùng để phân tích sinh học
phân tử (ADN) được lưu giữ trong cồn 95% và được cách ly foóc môn.
Ký hiệu mẫu: Sau khi gây mê, mẫu vật được đeo nhãn có đánh số ký hiệu.
Nhãn và chỉ buộc không thấm nước, chữ viết trên nhãn không bị tan trong cồn.
Cố định mẫu: Việc cố định mẫu cần đảm bảo mẫu có hình dạng dễ phân tích
hoặc quan sát sau này. Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải
màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80–90% trong vòng 8–10 tiếng. Đối
với mẫu bò sát, ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ của con vật để
tránh thối hỏng mẫu.
11
Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được chuyển
Dài đầu: Đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới
4
SNL
Khoảng cách mút mõm đến mũi
5
SE
Khoảng cách từ mõm đến mắt
6
NEL
Khoảng cách từ góc trước của mắt đến mũi
7
SL
Khoảng cách từ mút mõm đến góc trước của mắt
8
ED
Khoảng cách góc trước giữa hai ổ mắt
14
IOD
Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng cách hẹp nhất giữa 2 ổ mắt
15
UEW
Rộng mí mắt: Phần rộng nhất của mí mắt trên
Chi trước
16
FLL
Dài chi trước từ mép ngoài của đĩa ngón III đến nách
17
LAL
Chiều dài cánh tay đo từ nách đến khuỷu tay
18
F1L
23
MTTi
Chiều dài củ bàn trong
24
MTTe
Chiều dài củ bàn ngoài
Chi sau
25
HLL
Dài chi sau từ mép ngoài đĩa ngón IV chân sau tới bẹn
26
FL
Chiều dài đùi (từ lỗ huyệt đến đầu gối)
27
TL
Chiều dài ống chân (từ đầu gối đến khớp cổ-bàn)
33
T5L
Chiều dài ngón V
34
TD4
Chiều rộng đĩa bám ngón chân IV
35
TBW
Chiều rộng ống chân
36
MTTi
Chiều dài củ bàn trong
37
MTTe
Chiều dài củ bàn ngoài
Vảy má
4
La
Vảy môi trên
5
La’
Vảy môi dưới
13
6
m
Vảy cằm
7
n
Vảy mũi
13
so
Vảy trên ổ mắt
14
t
Vảy thái dương trước và vảy thái dương sau
Hình 2.1: Các vảy đầu ở bò sát (Nguồn: Đào Văn Tiến, 1979)
Định loại và phân tích số liệu
So sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định tên đang
lưu giữ ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam,
Hà Nội. Định loại tên loài theo các tài liệu của Nguyen Van Sang et al. (2009),
Nguyen et al. (2012), Ziegler & Vu (2009) và một số tài liệu khác có liên quan. Tên
khoa học và phổ thông của loài theo Nguyen et al. (2009) và một số tài liệu mới
công bố gần đây.
14
Đánh giá trình trạng bảo tồn của các loài theo Nghị định 32 năm 2006 của
chính phủ, Danh lục Đỏ IUCN (2014) và SĐVN (2007). Loài hiện chỉ ghi nhận
phân bố ở Việt Nam được coi là loài đặc hữu.
Phân tích thống kê
Sử dụng phần mềm PAST Statistics (Hammer et al., 2001) để phân tích
thống kê và so sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái của khu vực
3.1.1. Vị trí địa lý
KBTTN Kim Hỷ tỉnh Bắc Kạn nằm trên địa bàn của các xã: Kim Hỷ, Ân
Tình, Lạng San, Lương Thượng, Cao Sơn, Vũ Muộn thuộc địa bàn của các huyện
Na Rì, Bạch Thông (Bắc Kạn). Được đề xuất thành lập Khu bảo tồn từ năm 1997,
đến 2003 KBTTN Kim Hỷ mới chính thức được thành lập theo Quyết định
1804/QĐ-UB ngày 01/09/2003 của UBND tỉnh Bắc Kạn. Tổng diện tích tự nhiên
14.772 ha. Diện tích vùng đệm 20.528 ha.
*Toạ độ địa lý:
Từ 22010’40’’ đến 22018’40’’ vĩ độ Bắc
Từ 105054’25’’ đến 106008’40’’ kinh độ Đông
3.1.2. Địa hình
Khu vực có địa hình chủ yếu là núi đá vôi, thuộc hệ thống cánh cung Ngân
Sơn và Bắc Sơn. Địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đá vôi, núi đá,
đồi đất độc lập và các thung lũng hẹp. Độ dốc trung bình 25- 300, có nhiều nơi dốc
đứng. Hiện tượng Caster hoá diễn ra rất mạnh, bao gồm caster bề mặt và caster ngầm,
tạo nên nhiều hang động và sông ngầm. Khu vực được chia làm 2 vùng rõ rệt:
Vùng núi đá: nằm ở phía Tây và Tây Nam khu vực, đây là vùng rừng trên
núi đá vôi tập trung, địa hình phức tạp, gồm nhiều đỉnh cao, độ cao trung bình 600700m độ dốc 25-35o có nơi >45o.
Vùng núi đất: nằm ở phía Bắc và phía Đông - Đông Nam khu vực địa hình ít
phức tạp, độ cao trung bình từ 400-600 m độ dốc từ 25-30o.
16
3.1.3. Địa chất, đất đai
Địa chất: Nền địa chất khu vực nghiên cứu có nguồn gốc trầm tích nằm
trong quy luật tạo sơn chung của vùng Đông Bắc nước ta, với các sản phẩm trầm
tích chủ yếu là bột kết và cát kết phân lớp mỏng, phiến thạch sét, cuội kết hạt nhỏ
và sỏi kết màu xám cùng đá vôi màu đen và xám sáng khó phong hóa.
Đất đai: Khu vực có 4 loại đất chính phát triển trên đá vôi, đá Carbonitit,
số khu vực (Cao Sơn, Vũ Muộn, Kim Hỷ…) có nhiều nơi có trạng thái IIIA2 hoặc
IIIA3. KBTTN Kim Hỷ có tới 1.072 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 608 chi của
172 họ, 5 ngành thực vật. Trong đó có 59 loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng cấp quốc
gia ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (năm 2007) và 22 loài bị đe dọa cấp độ toàn cầu ghi
trong Danh lục Đỏ thế giới (IUCN 2013). Về động vật ghi nhận được tại khu vực 458
loài động vật thuộc 99 họ, 28 bộ thuộc các lớp Thú, Chim, Bò sát và Ếch nhái. Trong
đó có 68 loài động vật quý hiếm có tên trong SĐVN (2007) và Nghị định
32/2006/NĐ-CP (2006).
Đặc biệt trong khu vực có mặt nhiều loài động thực vật đặc hữu hẹp, quý
hiếm: Voọc má trắng, Hươu xạ, Lát hoa, Đinh, Nghiến.
3.2. Hiện trạng dân sinh kinh tế xã hội
3.2.1. Dân số, dân tộc
KBTTN Kim Hỷ nằm trên địa giới hành chính của 7 xã thuộc 2 huyện (Na
Rì, Bạch Thông), tại 7 xã quanh KBT có 61 thôn bản với 2.703 hộ, 10.868 nhân
khẩu, mật độ dân số trung bình là 27,74 người/km2. Trong khu vực có 5 dân tộc chủ
yếu sinh sống là Tày, Nùng, Dao, Kinh, H’Mông, trong đó người dân tộc Tày chiếm
đa số. Trong vùng lõi, dân tộc Tày chiếm 60%, dân tộc Dao chiếm 17%, dân tộc
Nùng chiếm 15%, dân tộc H’Mông chiếm 7%, và dân tộc kinh chiếm 1%.
3.2.2. Tập quán sinh hoạt, sản xuất
Sản xuất nông nghiệp trong khu vực chiếm tỷ trọng cao (94,3%) tỷ trọng sản
xuất lâm nghiệp còn nhỏ, dịch vụ chậm phát triển. Số hộ đói nghèo giảm từ 18%
năm 2011 xuống còn 13% năm 2012, thu nhập bình quân đầu người từ 45triệu/năm. Năng suất lúa bình quân đạt 45-50 tạ/ha, bình quân lương thực
250kg/năm/người.
Sản xuất lâm nghiệp: Trong khu vực đã có 1 số dự án: 327, định canh, định
cư, nhưng với vốn đầu tư thấp, không thường xuyên, đến nay trong khu vực trồng
18
được 334 ha rừng mỡ, keo tai tượng, hồi. Ngoài ra người dân còn tham gia nhận
Ở khu vực nghiên cứu: Loài D. melanostictus gặp nhiều ở khu vực dân cư và
trên nương rẫy ở thôn Thẳm Mu (xã Ân Tình), Thôn Bản Kẹ (xã Kim Hỷ), chợ Côn
Minh B.
Việt Nam: Tất cả các tỉnh trong cả nước (Nguyen et al. 2009).
Thế giới: Xri Lan-ka, Ấn Độ, Pakistan, Nê-pal, Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào,
Thái Lan, Campuchia, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin (Nguyen et al. 2009, Frost 2014).