Đảng bộ thị xã Hà Tĩnh với ựu phát triển giáo dục- đào tạo giai đoạn năm 1991-2001 - Pdf 19


1
MỞ ĐẦU

Trong q trình xây dựng và bảo vệ đất nước, GD-ĐT ln là một trong
những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Điều đó được thể
hiện rõ nét trong các văn kiện cũng như trong thực tiễn cách mạng của Đảng và
Nhà nước ta từ trước đến nay.
Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, tồn Đảng, tồn dân ta
đã tập trung cho giáo dục với ý thức “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ngay
trong bản “Di chúc” để ại cho chúng ta, Bác cũng đã dặn rằng: “... Đảng cần
phải chăm lo giáo dục cách mạng cho họ (thanh niên) , đào tạo họ thành những
người kế thừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chun”. Bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”
[31 ; 29]. Nhờ sự chú ý đặc biệt này mà sự nghiệp giáo dục-đào tạo của chúng ta
ngày càng đi lên và góp phần quan trọng trong việc thống nhất đất nước, mang
lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Bước vào thời kỳ tiến hành cơng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với
mục tiêu xây dựng nền văn hố mới, xã hội mới thì vấn đề con người và chiến
lược con người được Đảng ta quan tâm sâu sắc. Do đó, trong đường lối phát
triển kinh tế- xã hội của thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố-hiện đại hố đất
nước, Đảng ta đã đưa GD-ĐT thành “quốc sách hàng đầu” và “gắn GD- ĐT với
chiến lược phát triển kinh tế–xã hội”. “Dù khó khăn đến đâu cũng quyết khơng
để GD-ĐT rơi vào kém phát triển, tất cả các ngành, các cấp, mỗi gia đình và
từng cá nhân cần nhận thức rõ đầu tư cho GD là đầu tư cho con người- một loại
đầu tư cơ bản nhất và có hiệu quả nhất” [7 ; 8].
Hồ chung vời khí thế của cơng cuộc đổi mới tồn diện nền kinh tế-xã hội
cả nước từ sau Đại hội VI năm 1986, ngành GD-ĐT cũng từng bước thực hiện
đường lối đổi mới. Trong đường lối đổi mới GD, chủ trương xã hội hố GD là
một trong những chủ trương lớn nhằm huy động sự tham gia của tồn xã hội vào
sự nghiệp GD để hình thành nên một mơi trường GD lành mạnh. Chủ trương

dc i mi ó nờu c nhng thnh tu ni bt v nhng tn ti, hn ch ca
giỏo dc Vit Nam trong thi k i mi, ng thi vch ra c nhng gii
phỏp, phng hng, chin lc ỳng n, khoa hc cho vic phỏt trin GD-
T nc nh trong tng lai.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

3
Nghiên cứu về GD Hà Tĩnh nằm trong hướng đề tài nghiên cứu về GD địa
phương. Đây là vấn đề được phản ánh khá nhiều trong các sách báo, tạp chí, các
báo cáo tổng kết hàng năm của Uỷ ban nhân dân Tỉnh, các báo cáo tổng kết năm
học của sở GD- ĐT tỉnh... Đáng chú ý phải kể đến những cuốn sách “Giáo dục
Hà Tĩnh, một thế kỷ xây dựng và phát triển” của 2 tác giả-Nhà giáo ưu tú Bùi
Thân và Hà Quảng biên soạn năm 2001; Cuốn sách “Lịch sử Giáo dục Hà
Tĩnh” của sở GD-ĐT Hà Tĩnh năm 2005. Đây thực sự là những nguồn tài liệu
q giá khơng chỉ của tỉnh nhà mà còn cho tất cả những ai quan tâm nghiên cứu
vấn đề này.
Tuy nhiên nói riêng về vấn đề GD-ĐT ở Thị xã Hà Tĩnh thì chưa có một
đề tài nào nghiên cứu cụ thể. Nó chỉ được trình bày, nhận xét thơng qua sự
nghiệp GD-ĐT của Hà Tĩnh nói chung. Do đó với việc nghiên cứu đề tài này, tơi
hi vọng sẽ làm rõ được những thành tựu cũng như những yếu kém của sự nghiệp
GD-ĐT Thị xã Hà Tĩnh nói riêng thời kỳ 1991-2001 dưới sự lãnh đạo của Đảng
bộ Hà Tĩnh, đi sâu vào tìm hiểu những chủ trương biện pháp xây dựng, phát
triển và hồn thiện hệ thống GD-ĐT đồng thời rút ra được những bài học kinh
nghiệm trong q trình chỉ đạo lãnh đạo của Đảng bộ thị xã đối với sự nghiệp
phát triển GD-ĐT. Đây cũng chính là đối tượng, phạm vi nghiên cứu chính của
khố luận. Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài này là chủ yếu dựa trên quan điểm
và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ q độ lên Chủ nghĩa
xã hội, những nhận thức mới về đổi mới GD-ĐT.
Khố luận sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp lơgíc, phương
pháp điều tra, so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp lập bản thống kê, biểu mẫu
CHƯƠNG 1
VÀI NÉT VỀ THỊ XÃ HÀ TĨNH VÀ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HÀ TĨNH TRƯỚC
NĂM 1991
1.1. Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

5
Th xó H Tnh l tnh l ca tnh H Tnh. Hin nay th xó ó c cụng
nhn l ụ th loi 3 v ang phn u tr thnh thnh ph vo u nm 2007.
Th xó H Tnh nm to 18 n 18 24 v Bc, 105 53 n 150
56 kinh ụng; cỏch th ụ H Ni 350 km, cỏch thnh ph Vinh 50 km v
phớa Bc, cỏch thnh ph Hu 317km v phớa Nam. Phớa Bc, phớa ụng, phớa
Tõy giỏp huyn Thch H; phớa Nam giỏp vi huyn Cm Xuyờn.
Trong ni th cú cỏc phng: Bc H, Nam H, Trn Phỳ, Tõn Giang, H
Huy Tp, Nỳi Ni, Nguyn Du, Thch Quý, Thch Linh, Vn Yờn.
Ngoi th cú cỏc xó: Thch Trung, Thch Yờn, Thch H, Thch Mụn,
Thch ng, Thch Hng, Thch Bỡnh.
Theo s liu iu tra thỡ dõn s th xó l 77.778 ngi (nm 2005) trong ú
dõn s ni th l 45.416; dõn s ngoi th l 32.362. Mt dõn s ton th trung
bỡnh l 1393 ngi/ km. Nhng dõn s phõn b khụng u tp trung mt cao
khu vc ni th 3585 ngi/km. Cũn khu vc ngoi th ch cú 861 ngi/km.
iu ú ó to sc ộp v phỏt trin khụng gian ụ th vựng ni th.
Din tớch ton th xó l 5.618,62 ha (chim 0,9% din tớch ton tnh) ng
thi l vựng cú din tớch nh nht trong tnh. Trong ú t khu dõn c nụng thụn
l 498,32 ha, t ụ th l 554,06 ha. Ton th cú 11843 h s dng t. t

cỏch tt nht nhng chớnh sỏch u ói, khuyn khớch u t ca Trung ng, ca
tnh, to iu kin thun li cho cỏc doanh nghip u t vo a bn. Nh vy,
giỏ tr sn xut cụng nghip-tiu th cụng nghip trờn a bn tng nhanh, t
300 t ng.
Bờn cnh ú, nn kinh t th xó ngy cng phỏt trin vi s tham gia ca cỏc
ngnh kinh t trng im nh th cụng nghip, thng mi v dch v...Trong
sn xut tiu th cụng nghip thỡ tip tc phỏt trin n nh v t mc tng
trng khỏ, cỏc doanh nghip, c s sn xut tiu th cụng nghip trờn a bn
phỏt trin v c s lng c s v khi lng sn phm c sn xut ra.
Kinh t tip tc phỏt trin, bỡnh quõn tng trng kinh t hng nm t trờn
12%; chuyn dch c cu kinh t theo hng tớch cc, t trng cụng nghip-xõy
dng chim 38,5%, thng mi-dch v 45,6%, nụng nghip-thu sn 15,9%.
Hot ng thng mi-dch v phỏt trin mnh v a dng vi s tham gia
ca nhiu thnh phn kinh t. Cỏc c s sn xut kinh doanh thng mi-dch
v m rng quy mụ, ngnh ngh kinh doanh theo hỡnh thc buụn bỏn v l u
mi cung cp ngun hng cho a bn c tnh. Trong lnh vc nụng nghip-
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

7
thuỷ sản, tăng cường chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật ni theo hướng đa cây,
đa con, lựa chọn những bộ giống có năng suất, chất lượng cao thay thế dần
những giống lúa cũ chất lượng, năng suất thấp tạo bước chuyển dịch mạnh sản
xuất nơng nghiệp theo hướng sản xuất hàng hố, nhất là triển khai thực hiện các
mơ hình sản xuất cho thu nhập cao.
Được sự quan tâm, giúp đỡ của tỉnh, cùng với việc đẩy mạnh thu hút và sử
dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, các cơ sở kinh
doanh thương mại trên địa bàn phát triển nhanh chóng. Trong đó chợ thị xã Hà
Tĩnh-trung tâm thương mại lớn của tỉnh-đã được xây dựng kiên cố với hơn 1500
hộ kinh doanh cố định; 3 siêu thị lớn với đầy đủ các mặt hàng chủ yếu phục vụ
nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Bên cạnh đó, các khách sạn với hàng nghìn

Giang, sơng Phủ, Núi Nài ngày đầu đánh thắng giặc Mỹ của qn dân Hà Tĩnh,
hào Thành Cổ ở cạnh UBND tỉnh được phục hồi và cải tạo, khu lưu niệm Bác
Hồ ở Tân Giang, tượng đài Trần Phú... Vì vậy, hàng năm những nơi đây thu hút
được một lượng khách đáng kể trong tỉnh và các tỉnh lân cận đến thăm quan,
tăng nguồn thu ngân sách cho thị xã, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội đồng
thời nâng cao đời sống về mặt tinh thần cho người dân thị xã.
Các tuyến đường trung tâm như đường Hà Huy Tập, đường Trần Phú,
đường Phan Đình Phùng là nơi tập trung các trung tâm kinh tế, văn hố xã hội
của cả tỉnh, là đoạn đường xung yếu và nhộn nhịp nhất của tỉnh. Ngồi ra còn có
các tuyến đường như đường Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Cơng Trứ, đường tỉnh
lộ 3, tỉnh lộ 9... là những tuyến đường nối liền các trung tâm thương mại, dịch
vụ và liên hệ với các huyện khác trong tỉnh, là điều kiện thuận lợi cho các hoạt
động bn bán, kinh doanh, giao lưu kinh tế và văn hố-xã hội với các vùng
khác trong tỉnh cũng như với tỉnh bạn. Thị xã Hà Tĩnh hiện tại đã có cảng đường
thuỷ là cảng Hộ Độ nối liền với cảng Cửa Sót nhưng cơng suất khơng lớn, hai
cảng này đang được sửa chữa và nâng cấp để nâng cao cơng suất phục vụ tốt
hơn cho việc vận chuyển hàng hố.
Trong tương lai, thị xã Hà Tĩnh phải tranh thủ khai thác mọi tiềm năng, cơ
hội đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, phấn đấu giá trị GDP trên đầu người đạt
900 USD vào năm 2010 và thu hẹp khoảng cách về mức sống dân cư, trình độ
dân trí giữa nội thị và ngoại thị. Tăng tưởng kinh tế hàng năm đạt 15%. Thu
ngân sách tăng ổn định, đảm bảo chi thường xun và có tích luỹ dành cho đầu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
tư phát triển. Cơ cấu kinh tế chuyển hướng tích cực với cơng nghiệp-tiểu thủ
cơng nghiệp-xây dựng cơ bản, thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng chủ yếu trong
nền kinh tế. Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thị xã Hà Tĩnh còn tồn tại nhiều khó
khăn: Kinh tế tăng trưởng nhưng chưa tương xứng với vị trí, tiềm năng và lợi

tỉnh Hà Tĩnh đem phủ Đức Thọ nhập vào Nghệ An và lấy phủ Hà Thành lập
thành một đạo gọi là đạo Hà Tĩnh. Đến 1875 Tự Đức bỏ đạo Hà Tĩnh lập lại tỉnh
Hà Tĩnh gồm những huyện như trước đó.
Sau khi thực dân Pháp đặt được ách thống trị lên tồn bờ cõi nước ta, chúng
tiến hành phân chia lại địa giới trong cả nước, trong đó Hà Tĩnh được chia thành
5 phủ và 14 huyện.
Cách mạng tháng 8/1945 thành cơng, tỉnh Hà Tĩnh gồm có 8 huyện và 1 thị
xã-đó là thị xã Hà Tĩnh.
Nghị quyết kỳ họp thứ 2, Quốc hội khố V, nước Việt Nam dân chủ cộng
hồ, ngày 27/12/1975 đã quyết định hợp nhất một số tỉnh trong đó 2 tỉnh Nghệ
An và Hà Tĩnh thành Nghệ Tĩnh.
Tháng 8/1991 do nhu cầu về quản lý và phát triển kinh tế xã hội ở cả nước,
tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khố VIII đã quyết định chia tách một số tỉnh đã sát
nhập trước đây, trong đó có tỉnh Nghệ Tĩnh thành Nghệ An và Hà Tĩnh. Từ ngày
1/9/1991 các bộ mày Đảng, chính quyền đồn thể tỉnh Hà Tĩnh chính thức đi
vào hoạt động theo đơn vị riêng. Đến giữa tháng 9/1991 tại thị xã Hà Tĩnh hầu
hết các cơ quan cấp tỉnh đã có trụ sở làm việc.
Hà Tĩnh là đất văn vật, nổi tiếng với nhiều người đỗ đạt nhưng nổi bật lên là
cốt cách con người xứ Nghệ. Cốt cách con người Hà Tĩnh từ xưa là u cái đẹp,
hiếu học, trọng đạo lý. Nổi bật là tinh thần “xả thân thủ nghĩa” cao nhất là hy
sinh vì dân vì nước. “Khơng có miền nào lại bản ngã rõ rệt như miền này... đời
sống tình cảm con người ở đây đối với thiên nhiên, với con người với cái đẹp,
tuy khơng bộc lộ một cách ồn ào, hời hợt nhưng lại có phần suy nghĩ sâu sắc và
bền bỉ, cảm động đến thiết tha” (Đặng Thai Mai).
Hà Tĩnh là nơi đầu sóng ngọn gió ở phương Nam của Tổ quốc xa xưa, là nơi
chịu đựng những cuộc chiến tranh phong kiến liên miên, cũng là nơi hậu cứ của
triều đình chống phong kiến phương Bắc. Là mảnh đất có nhiều con người mưu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11

THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

12
ca ng b, nhõn dõn H Tnh ó dc sc ngi, sc ca chi vin cho chin
trng, gúp phn tớch cc vo s nghip gii phúng min Nam, thng nht T
Quc.
1.3. Truyn thng lch s vn húa giỏo dc
H Tnh l mt tnh nghốo ca Vit Nam nhng cú mt truyn thng ham
hc t lõu i, vn l mnh t sn sinh ra nhiu nhõn ti cho t nc. L mnh
t a linh nhõn kit nờn thi no, a phng no cng cú ngi hc vn,
khoa giỏp t, ngi lm tụi cú ting tt giỳp nc, cú c hin giỳp dõn.
Theo Quc triu ng khoa lc, t i Trn n i Nguyn, H Tnh cú 148
ngi i khoa. Ngy nay, H Tnh cú trờn 5.000 thy giỏo, thy thuc, cỏn
b khoa hc cú trỡnh i hc v trờn i hc. Riờng lng Trung L, xó c
Trung (c Th) cú 3.200 nhõn khu m cú ti 37 tin s khoa hc v tin s.
Tờn tui ca con ngi H Tnh ó lm rng danh cho t nc nh nhng
danh s Nguyn Biu, ng Tt, ng Dung, S Hy Nhan, S c Huy, Lờ Hu
Trỏc, Nguyn Du, Nguyn Thip... Nhng nh khoa bng, nh nho cú c
nghip ln nh Phan Huy Cn, Nguyn Vn Giai, Bựi Cm H, Nguyn
Nghim, Nguyn Trung Ngha, Trn Bo Tớn, Phan Chớnh Ngha... Nhng danh
tng: Ngụ Cnh Ha, Nguyn Tun Thin, Cao Thng, Vụ Tỏ Lý...
Xột tng th chng ng hn 70 nm xõy dng v phỏt trin nn giỏo dc
cỏch mng trờn quờ hng H Tnh l chng ng ghi du nhng thng li huy
hong trờn nhiu phng din, gúp phn khụng nh cho s nghip gii phúng
dõn tc, bo v T quc v xõy dng xó hi mi.
S nghip giỏo dc H Tnh gúp phn nõng cao dõn trớ, o to nhõn lc,
bi dng nhõn ti cho quờ hng, a mt tnh cú vựng t nghốo nn lc hu,
tht hc n hn 95% dõn s trc Cỏch mng thỏng Tỏm nm 1945 tr thnh
mt tnh cú nn giỏo dc quc dõn hon chnh vi cỏc ngnh cỏc cp giỏo dc
mm non, giỏo dc ph thụng n giỏo dc chuyờn nghip, dy ngh, giỏo dc

mới tồn diện đất nước trong đó có đổi mới lĩnh vực GD-ĐT. Đại hội VI xác
định mục tiêu của GD-ĐT trong những năm tới là “Hình thành và phát triển
nhân cách XHCN của thế hệ trẻ, đào tạo nên một đội ngũ lao động có kỹ thuật,
đồng bộ về ngành nghề, phối hợp với u cầu phân cơng lao động của xã hội. Sự
nghịêp giáo dục phải trực tiếp góp phần vào cơng tác quản lý xã hội” [15 ; 89 ].
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
T kinh nghim ca cuc ci cỏch giỏo dc va qua, a hi VI nhn nh cn
phi tng kt v cú hng iu chnh cú th tip tc nõng cao hn na cht
lng ca cuc ci cỏch, to iu kin cho h thng giỏo dc c phỏt trin
hon chnh t mm non n trờn i hc. Tin hnh b trớ hp lý c cu h
thng gm nhiu hỡnh thc: o to bi dng chớnh quy v khụng chớnh quy,
tp trung v ti chc.
Trờn c s mc tiờu ú, i hi VI ch trng xõy dng hon chnh cỏc
ngnh hc, y mnh giỏo dc min nỳi. Coi trng vic bi dng nhõn cỏch,
phm cht v nng lc ca i ng giỏo viờn v cỏn b qun lý ng thi quan
tõm, chm lo ỳng mc i sng vt cht cng nh tinh thn ca nhng ngi
dy hc, nõng cao v trớ ca ngi giỏo viờn trong xó hi. ng b mi a
phng phi cú chớnh sỏch u t ỳng mc cho s nghip giỏo dc-o to,
xõy dng k hoch phỏt trin giỏo dc gn lin vi s nghip phỏt trin kinh t-
xó hi, ng thi tranh th s hp tỏc quc t trờn lnh vc giỏo dc, chun b
ban hnh lut giỏo dc.
Nhng ch trng ca i hi VI ra trờn s nghip i mi giỏo dc ó
to nờn nhng chuyn bin mnh m cho vic xõy dng mt nn giỏo dc Vit
Nam tiờn tin v hin i. Trờn c s xỏc nh mc tiờu ca GD-T l nhm:
Hỡnh thnh v phỏt trin ton din nhõn cỏch xó hi ch ngha ca th h tr,
o to i ng lao ng cú k thut, ng b v ngnh ngh, phự hp vi yờu
cu phõn cụng lao ng xó hi [15 ; 89], ng ó vch ra nhng k hoch c
th phỏt trin h thng giỏo dc t mm non n i hc v trờn i hc.

tiến hành những cuộc cải cách, đổi mới về giáo dục và đã đạt được những thành
tựu lớn trong sự nghiệp này. Đây là thời kỳ mà quy mơ các cấp ngành học được
mở rộng khơng ngừng, mạng lưới trường lớp được sắp xếp lại cho phù hợp với
trình độ phát triển của tỉnh. Các trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường
phổ thơng trung học đã dần đi đến hồn thiện. Một hệ thống trường chun lớp
chọn cũng được hình thành ở tỉnh và các huyện miền xi. Các hình thức đào
tạo ngày càng được đa dạng hố, bên cạnh các trường quốc lập đã xuất hiện các
trường bán cơng, dân lập nhằm đáp ứng đầy đủ điều kiện được học hành của con
em trong tỉnh nhà.
Song song với sự mở rộng quy mơ của các cấp học thì chất lượng giáo dục
cũng được nâng cao đáng kể. Từ năm 1986 đến năm 1990 năm nào tỉnh cũng có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

16
học sinh giỏi tồn quốc. Các thầy cơ giáo đều thi đua làm tốt sự nghiệp trồng
người và đặc biệt là việc giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp gắn với địa
phương nơi có trường đóng. Ở những huyện vùng núi, vùng xa, giáo dục được
đặc biệt quan tâm và chú trọng do đó các trường sư phạm ở đây vẫn giữ được
một số lượng học sinh tương đối ổn định. Phong trào thi đua phát triển khá
mạnh, xuất hiện nhiều cơ sở điển hình tiên tiến và tiên tiến xuất sắc: Năm học
1987-1988 có 5 huyện đạt tiên tiến và 1 huyện đạt tiên tiến xuất sắc; Năm học
1990-1991 có 4 huyện đạt tiên tiến và 3 huyện đạt tiên tiến xuất sắc.
So với các tỉnh khác thì Nghệ Tĩnh đã sớm triển khai cơng tác xã hội hố
giáo dục, cơng tác quản lý giáo dục cũng được các ban lãnh đạo các cấp quan
tâm hơn. Năm 1987, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc bà mẹ trẻ em được nhập vào
ngành giáo dục Nghệ Tĩnh. Năm 1988, ngành giáo dục Nghệ Tĩnh và ban giáo
dục chun nghiệp nhập với nhau thành ngành giáo dục-đào tạo.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì những mặt yếu kém, hạn chế cũng
đã được Đảng bộ Tỉnh thẳng thắn nhìn nhận và là cơ sở để tỉnh triển khai các
biện pháp khắc phục nhằm phát triển hơn nữa sự nghiệp giáo dục-đào tạo trong

cú nhiu khú khn thỡ rừ rng giỏo dc-o to cha th tr thnh nhim v ca
ton xó hi v thm chớ cỏc cp u ng s nghip giỏo dc o to cũn cha
c nhỡn nhn mt cỏch ỳng n .
Bờn cnh ú cụng tỏc qun lý giỏo dc vn cũn nhiu bt cp, chm i mi.
Cụng tỏc giỏo dc min nỳi cha t ỳng v trớ ra, hin tng thiu giỏo
viờn, thiu lp hc, s lng ngi mự ch vn cũn nhiu. i sng ca giỏo
viờn tham gia ging dy min nỳi cha c cỏc cp, cỏc ngnh, cỏc a
phng chm lo ỳng mc; cha cú chớnh sỏch ói ng tho ỏng i vi i
ng giỏo viờn min xuụi lờn lm vic min nỳi; kốm theo ú l c s vt cht
k thut cũn rt nghốo nn... ú l nhng nguyờn nhõn c bn khin cho giỏo
dc min nỳi gp rt nhiu khú khn v cú bc gim sỳt ỏng k.
Cụng tỏc giỏo dc o c, t tng chớnh tr v xõy dng ng trong nh
trng ớt c quan tõm. Nhiu trng khụng cú chi b ng, s ng viờn
trong i ng cỏn b qun lý v i ng giỏo viờn cũn ớt.
Mt khỏc, bn thõn ngnh giỏo dc-o to tnh chm i mi v c cu h
thng, cha thớch ng vi ng li i mi ca ng. Ni dung cỏc ngh
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

18
quyt, cỏc chớnh sỏch ca ng cng sn v s nghip giỏo dc-o to cha
c ng b Ngh Tnh trin khai thc hin cú hiu qu.
Thc trng nhng yu kộm núi trờn bt ngun t nhiu nguyờn nhõn khỏch
quan v nguyờn nhõn ch quan khỏc nhau, do ú mun a s nghip giỏo dc
phỏt trin thỡ khụng ch l s quan tõm ca riờng ng b m cũn cn s n lc
tham gia, xõy dng ca ton dõn.
hội; GD-ĐT vẫn đi sau sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế-xã hội khác.
Nhìn thẳng vào thực trạng GD-ĐT, Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ VII đã
đánh giá một cách khách quan kết quả đạt được cũng như những gì còn tồn
đọng, từ đó xây dựng đường lối phát triển giáo dục mới phù hợp với điều kiện
kinh tế, xã hội của đất nước. Đại hội thơng qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ q độ lên CNXH” với đường lối cụ thể chỉ đạo của Đảng là gắn
sự nghịêp phát triển GD-ĐT “với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa
học kỹ thuật, xây dựng nền văn hố mới, con người mới” [16;13].
Cũng trong Cương lĩnh, Đảng nhấn mạnh GD- ĐT phải được coi là “quốc
sách hàng đầu”. Đây có thể coi là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong
q trình đưa đất nước vươn lên thốt khỏi tình trạng khó khăn, lạc hậu, xây
dựng cơ sở để tiến hành cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước sau này.
Giáo dục vừa phải gắn chặt với u cầu phát triển của đất nước vừa phù hợp
với xu thế tiến bộ của thời đại. Từ đó, Đại hội VII đề ra nhiệm vụ của năm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

20
1991-1995 “là tiếp tục đổi mới, ổn định, phát triển và nâng cao chất lượng GD-
ĐT, coi trọng chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức cho học sinh, sinh viên...”.
Trên cơ sở đó “tăng cường củng cố ổn định trường lớp hiện có của ngành giáo
dục mầm non, tập trung thực hiện chương trình phổ cập cấp I và chống mù chữ,
phát triển cấp II, cấp III phù hợp với u cầu và điều kiện của nền kinh tế. Củng
cố và phát triển trường phổ thơng cho trẻ em khuyết tật. Sắp xếp các trường đại
học, cao đẳng, trung học chun nghiệp-dạy nghề, mở rộng một cách hợp lý quy
mơ đào tạo đại học mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học. Tiếp
tục cải tiến chế độ tuyển sinh và chế độ học bổng, đẩy mạnh cơng tác nghiên
cứu thực nghiệm giáo dục, thể chế hố cơ cấu của nền giáo dục quốc dân. Tăng
cường đầu tư, phát triển giáo dục ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng
các trường nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ trí thức về dân tộc” [16;82].
Sau Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ VII, thơng qua mục tiêu và nhiệm vụ

dụng tích cực đối với giáo dục ở vùng núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Một số chương trình, mục tiêu của Bộ GD- ĐT đã có tác dụng rõ rệt như chương
trình hỗ trợ đưa tin học vào trường phổ thơng, chương trình xố lớp học ba ca.
Những thành tựu của sự nghiệp GD-ĐT Việt Nam từ 1991-1995 đã góp
phần nâng cao trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hố của nhân dân tạo nên
một đội ngũ sản xuất mới có trình độ, có tay nghề cao.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém cần phải
nhanh chóng được khắc phục. Mục tiêu, nội dung, phương pháp và quy mơ GD-
ĐT chưa đáp ứng được u cầu của sự nghiệp đổi mới. Số lượng người mù chữ
trong cả nước còn rất nhiều, nạn thất học và tình trạng bỏ học vẫn còn phổ biến
đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Việc chỉ đạo và hỗ trợ của TW còn dàn trải, chưa tập trung được những vùng,
những đối tượng trọng điểm, do đó chưa kêu gọi được các tổ chức xã hội khác
tham gia vào cơng cuộc xây dựng và phát triển sự nghiệp GD-ĐT. Đội ngũ giáo
viên khơng chỉ thiếu về số lượng mà còn yếu về chất lượng; bên cạnh đó, đời
sống của giáo viên tuy đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn gặp rất nhiều
khó khăn. Riêng về GD ở miền núi vẫn còn gặp rất nhiều trở ngại, trước hết là
do các chính sách của Đảng vẫn chưa tập trung vào mục tiêu chống mù chữ và
phổ cập giáo dục tiểu học, chưa đồng bộ về mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội,
thiếu các chương trình hỗ trợ cho các cán bộ làm trong ngành ở đây…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

22
Với chủ trương bám sát thực tế, đánh giá đúng tình hình, các Nghị quyết
của TW Đảng đã giải quyết được các u cầu cơ bản của sự nghiệp GD-ĐT
hiện nay đồng thời phản ánh được sự quan tâm đặc biệt của các cấp, các ngành
đối với sự phát triển GD-ĐT.
Trên cơ sở các chủ trương chính sách của Đảng về sự nghiệp GD-ĐT, Đảng
bộ Hà Tĩnh đã nhanh chóng tiếp thu và triển khai trong tỉnh mình.
Từ tháng 8 năm 1991, Hà Tĩnh được tách ra thành một đơn vị hành chính

Ngày 15/9/1991, tại Hội nghị Đảng bộ thị xã thực hiện Nghị quyết Đại hội
lần thứ XV, lĩnh vực GD-ĐT đã được nêu lên thơng qua báo cáo tổng kết tình
hình kinh tế- xã hội của Đảng bộ thị xã. Trong q trình thực hiện các cuộc cải
cách, đổi mới thì sự nghiệp GD-ĐT của thị xã đã thu được nhiều thắng lợi đáng
kể. Tuy nhiên, GD-ĐT thị xã vẫn còn tồn tại nhiều mặt yếu kém cần khắc phục.
Nhanh chóng nắm bắt được thực trạng đó, Đảng bộ thị xã Hà Tĩnh đã đề ra
những nhiệm vụ cho ngành GD-ĐT trong sự phát triển chung của nền kinh tế-xã
hội: “Trong thời gian tới, GD-ĐT thị xã tiếp tục giữ vững những kết quả đã đạt
được và thi đua để giành những thắng lợi mới. Sự nghiệp giáo dục cần điều
chỉnh các cải cách và mở rộng quy mơ ở những nơi có điều kiện. Giữ mức ổn
định số lượng học sinh ở các cấp học và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho
việc phổ cập giáo dục tiểu học trong năm tới. Cố gắng mở rộng các trung tâm
dạy nghề nhằm thu hút đơng đảo học viên tham gia. Nhanh chóng hồn thành kế
hoạch chống mù chữ” [2;10].
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của TW Đảng và Đảng bộ Hà Tĩnh, ngành
GD-ĐT của thị xã đã tiến hành qn triệt Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng
bộ Hà Tĩnh và Nghị quyết TW IV khố VII, triển khai đồng bộ xuống các đơn vị
địa phương.
Trên nền chung của cả tỉnh, GD-ĐT thị xã đã thu được nhiều thắng lợi đáng
khích lệ.
Đối với ngành giáo dục mầm non: Đảng bộ thị xã chủ trương tiếp tục củng
cố và giữ vững các trường lớp hiện có, đa dạng hố các loại hình giáo dục mầm
non, mở thêm nhóm trẻ giáo dục và các lớp mẫu giáo ngắn hạn. Đẩy mạnh cơng
tác xã hội hố giáo dục, huy động sự tham gia của các ngành, các cấp, đặc biệt là
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

24
kết hợp chặt chẽ với sự tham gia của gia đình thơng qua việc phổ biến kiến thức
ni dạy trẻ cho các bậc phụ huynh.
Năm học 1990-1991, ở thị xã Hà Tĩnh, nhà trẻ có 670 học sinh; nhà mẫu

Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ thị xã, ngành giáo dục mầm non nói riêng đã
tạo nên những bước chuyển biến rất nhanh, có khả năng đáp ứng được u cầu
của cơng cuộc đổi mới tồn diện nền kinh tế-xã hội đất nước trong thời kỳ mới.
Giáo dục tiểu học thị xã được đẩy mạnh với mục tiêu là PCGDTH trong
năm 1992, chất lượng phổ cập ngày càng được nâng cao.
Theo báo cáo tổng kết năm học 1991-1992, ở thị xã Hà Tĩnh có 5.878 học
sinh tiểu học và đến năm học 1993-1994 thì số lượng này đã tăng lên đáng kể.
Số trường năm học này là 9 trường (khơng kể năng khiếu) bao gồm 169 lớp;
tổng số học sinh là 6325 em, so với đầu năm tăng 85 em. Số trường có quy mơ
từ 10 lớp trở lên có 8 trường. Riêng trường năng khiếu có 4 lớp tiểu học.
Cơng tác PCGDTH đã được Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đưa vào trong kế
hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Hầu hết các trường trong thị xã đã có sự kết hợp
chặt chẽ giữa PCGDTH và XMC. Năm 1992, Hà Tĩnh là một trong 7 tỉnh đầu
tiên trong cả nước đạt chuẩn quốc gia về PCGDTH-XMC và thị xã Hà Tĩnh là
địa bàn điển hình cho cơng tác này.
Đảng bộ thị xã tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp lãnh đạo của mình đối với sự
phát triển của giáo dục tiểu học trong các năm học tiếp theo. Ngành giáo dục
phấn đấu huy động được số trẻ đúng độ tuổi đến trường, mục tiêu đến năm học
1995-1996 tỷ lệ trẻ vào lớp 1 trong độ tuổi đạt 99%. Và trong năm học tới sẽ
đẩy mạnh việc học 2 buổi/ngày trong đó lớp 1 và lớp 5 ít nhất 8 buổi; lớp 2, 3, 4
ít nhất 7 buổi một tuần.
Các trường tiểu học chú ý xây dựng nề nếp “vở sạch chữ đẹp”. Trong năm
học đã tiến hành 3 đợt kiểm tra, xếp loại “vở sạch chữ đẹp” theo tiêu chuẩn quy
định của Sở Giáo dục và Đào tạo. Kết quả các trường TH Bắc Hà, TH Tân
Giang, TH Thạch Linh... đã đạt kết quả tốt về phong trào “vở sạch chữ đẹp”.
Phòng giáo dục đã chỉ đạo tổ chức nhiều chun đề nhằm nâng cao trình độ
chun mơn, nghiệp vụ cho giáo viên như: chun đề văn, tốn lớp 1; chun đề
giải tốn ở lớp 4, lớp 5; chun đề đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục
đạo đức; chun đề hướng dẫn sử dụng bài tập; chun đề bồi dưỡng học sinh
giỏi...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status