Tên đề tài:
“ So sánh về phát triển giáo dục đào tạo nghề tại thành phố Hà Nội và thành
phố Nam Định năm 2010 và 2011”
NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I. Lý do chọn đề tài
1. Cơ sở lý luận
2. Cơ sở thực tiễn
II. Thực trạng về công tác đào tạo nghề tại Thành phố Hà Nội và Thành phố
Nam Định
1. Thành phố Hà Nội và định huớng phát triển đào tạo nghề
2. Thành phố Nam Định và định hướng phát triển nghề
III. So sánh, phân tích đánh giá về thực trạng đào tạo nghề tại TP. Hà Nội và
TP. Nam Định năm 2010 và 2011
1. So sánh, đánh giá về số lượng các trường nghề
2. So sánh đánh giá về tỷ lệ giáo viên dạy nghề
3. So sánh, đánh giá về tỷ lệ học viên
4. So sánh, đánh giá về cơ cấu ngành nghề
IV. Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
I. Lý do chọn đề tài:
1. Cơ sở lý luận:
Phát triển Giáo dục so sánh là một đòi hỏi cấp bách đối với giáo dục Việt Nam
Việc nghiên cứu so sánh sẽ làm cho những nghiên cứu về giáo dục trong nước
không bị bó hẹp trong cái nhìn có tính chất địa phương mà có nhãn quan rộng
hơn, từ đó việc nhìn nhận và đánh giá các hiện tượng giáo dục, kể cả thành tựu và
những khiếm khuyết của nó sẽ có tầm hơn và do đó mà cũng chính xác hơn.
Bên cạnh đó, thế giới luôn luôn vận động, biến đổi theo quy luật khách quan
vốn có của nó. Do vậy để tồn tại và phát triển thì đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc,
hay bất cứ một tổ chức đơn vị nào cũng phải biết vị trí của mình trong mối tương
quan với các quốc gia, dân tộc hay đơn vị khác, đánh giá được thực trạng của đơn
tại các địa phương trong cả nước để tìm ra phương hướng phát triển đào tạo nghề
phù hợp.
Trong giới hạn của một tiểu luận, xin được thực hiện phép so sánh về việc
phát triển giáo dục đào tạo nghề tại hai thành phố vùng châu thổ sông Hồng là
Thành phố Hà Nội và Thành phố Nam Định trong hai năm 2010 và 2011.
Việc so sánh dựa trên các tiêu chí về số lượng các trường, số lượng giáo viên
và số lượng học sinh sinh viên để đánh giá thực trạng việc phát triển đào tạo nghề
tại 02 địa phương.
Mục đích so sánh nhằm làm nổi bật nét tương đồng và khác nhau của hai địa
phương trong phát triển đào tạo nghề, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến sự khác
nhau đó và đề xuất xu hướng phát triển đào tạo nghề tại hai địa phương để đẩy
mạnh hoạt động giáo dục nghề nghiệp trong cả nước.
II. Thực trạng về công tác đào tạo nghề tại Thành phố Hà Nội và Thành phố
Nam Định
1. Thành phố Hà Nội và định huớng phát triển đào tạo nghề:
Hà Nội là thủ đô đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích tự
nhiên và đứng thứ hai về diện tích đô thị sau thành phố Hồ Chí Minh, nó
cũng đứng thứ hai về dân số với 6.913.161 người. Nằm giữa đồng bằng sông
Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay
từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu
tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái
tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh
thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc.
Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển
về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời
vua Minh Mạng. Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông
Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại. Trải qua hai cuộc chiến
tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò
này cho tới ngày nay. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008,
Hà Nội hiện nay có diện tích 3.344,7 km², gồm 10 quận, 1 thị xã và 18
nghề nông nghiệp như trồng trọt, thú y, thủy lợi hầu như không có người học.
Công tác hướng nghiệp đối với lao động học nghề còn hạn chế, phần lớn người
học nghề không nắm được thị trường lao động, không biết nhu cầu của người sử
dụng dẫn đến không định hướng được tương lai của mình. Định hướng phát triển
đào tạo nghề tại Hà Nội đã khiến không ít các trường Đại học mở thêm các trung
tâm, cơ sở đào tạo nghề trên nền tảng của một phương thức giáo dục chuyên
nghiệp sẵn có. Vì vậy việc thay đổi trong chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên
và cơ sở vật chất cho giáo dục nghề nghiệp còn rất nhiều bất cập, chưa thể phù
hợp với phương thức đào tạo nghề chuyên nghiệp.
2. Thành phố Nam Định và định hướng phát triển nghề
Nam Định là một tỉnh nằm ở đông nam đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí tạị vĩ độ
19°54′đến 20°40′độ vĩ bắc, kinh độ: 105°55′ đến 106°45′ độ kinh đông. Nam
Định tiếp giáp với thành phố Thái Bình ở phía bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía nam,
tỉnh Hà Nam ở phía tây bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông với diện tích:
1.669 km². Địa hình Nam Định chủ yếu là đồng bằng ven biển. Phía Đông Nam là
bãi bồi và một ít đồi núi thấp ở tây bắc. Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống
Đông Nam. Chỗ cao nhất là đỉnh núi Gôi (122 m), chỗ thấp nhất (3 m) ở vùng
chiêm trũngÝ Yên, so với mặt nước biển.
Ngày 24 tháng 6 năm 2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định đã phê duyệt
Đề án " Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Nam Định đến năm 2020"
trong đó đã nêu rõ định hướng và mục tiêu trong việc phát triển đào tạo
nghề tại Thành phố Nam Định như sau:
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập của lao
động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động. cơ cấu kinh tế đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh đến năm 2020.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị vững vàng,
có trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý hành chính,
quản lý, điều hành kinh tế - xã hội và thực thi công vụ phục vụ sự nghiệp công
năng lực quản lý theo từng vị trí công việc cho các cán bộ, công chức và cán bộ
cơ sở xã phường, thị trấn: 5.500 người; Kiến thức quản lý nhà nước theo từng vị
trí công việc cho các cán bộ cơ sở xã phường, thị trấn: 10.000 người, nghiệp vụ
chuyên môn và kỹ năng hoạt động cho cán bộ xã phường, thị trấn đầu nhiệm kỳ
2011 - 2016: 6.500 người.
* Giai đoạn 2016 - 2020:
- Đào tạo nghề (cả 3 cấp trình độ) cho 132 ngàn lao động ở khu vực nông
thôn. Bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 26,5 ngàn lao động;
Trong đó số lao động được hỗ trợ chi phí học nghề ( trình độ sơ cấp nghề và dạy
nghề dưới 3 tháng) là 14,2 ngàn người/năm, gồm:
+ Học nghề nông nghiệp: 5 ngàn người;
+ Học nghề phi nông nghiệp: 9,2 ngàn người;
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, gồm:
+ Đào tạo: Trình độ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị
cho cán bộ công chức và cán bộ cơ sở: 1.500 người; trình độ cao đẳng, đại học
chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các cán bộ công chức xã phường, thị trấn:
1.000 người.
+ Bồi dưỡng: cập nhập kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng
lực quản lý theo từng vị trí công việc cho các cán bộ công chức xã phường, thị
trấn: 6.000 người; Quản lý nhà nước theo từng vị trí công việc cho đội ngũ cán bộ
cơ sở xã, phường, thị trấn: 10.000 người; Nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng hoạt
động cho cán bộ xã phường, thị trấn để nâng cao trình độ đầu nhiệm kỳ 2016 -
2021: 6.500 người
Hiện tại, quy mô tuyển sinh của 26 cơ sở dạy nghề thuộc tỉnh quản lý đạt
18.577 người/năm (cao đẳng nghề 340 người, trung cấp nghề 2.199 người, sơ cấp
nghề 16.038 người). Tổng số cán bộ, giáo viên hiện nay của 37 cơ sở dạy nghề là
1500 người .
III. So sánh, phân tích đánh giá về thực trạng đào tạo nghề tại TP. (không
viết tắt) Hà Nội và TP. Nam Định năm 2010 và 2011
1. So sánh, đánh giá về số lượng các trường nghề
trường dạy nghề trong vùng một cách hợp lý theo hướng ứng dụng nghề nghiệp.
Tuy nhiên quá trình đầu tư xây dựng các trường dạy nghề phải chú ý đến chất
lượng vì nếu chúng ta không chú trọng đến chất lượng mà chạy theo số lượng thì
sẽ tạo ra xã hội bằng cấp mà chất lượng nguồn lao động thì lại không được cải
thiện.
Hình 2. Biểu đồ so sánh sự phát triển của các trường dạy nghề
địa bàn TP Hà Nội năm 2010 và 2011
Những năm qua, các trường dạy nghề tại Thủ đô Hà Nội đã có những bước
phát triển đáng kể cả về chất lượng lẫn quy mô đào tạo. Biểu đồ thống kê so sánh
cho thấy năm 2010 và năm 2011 số lượng các trường, trung tâm dạy nghề tại Thủ
đô Hà Nội tăng tương đối đồng đều thể hiện quan điểm chỉ đạo và đường lối phát
triển loại hình đào tạo nghề để đáp ứng với nhu cầu việc làm của xã hội. Các khu
vực trong thành phố đều có trường đại học, cao đẳng và các trường đào tạo nghề.
Sự phân tầng về chất lượng đào tạo trong khu vực đang ngày càng rõ nét. Những
trường đại học lớn làm nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất
lượng cao ở bậc đại học và sau đại học. Các trường đại học mới thành lập do điều
kiện cơ sở vật chất và con người còn hạn chế nên chủ yếu làm nhiệm vụ đào tạo
nghề nghiệp cho số đông.
Hình 3. Biểu đồ so sánh sự phát triển của các trường dạy nghề
địa bàn TP Nam Định năm 2010 và 2011
Biểu đồ so sánh cũng cho thấy tại địa bàn thành phố Nam Định, mặc dù là một
thành phố nhỏ nhưng quy mô phát triển các trường, trung tâm đào tạo nghề trong
hai năm 2010 và 2011 tương đối rõ nét. Tuy nhiên với số lượng các trường cao
đẳng, đại học hiện có trên địa bàn thành phố thì khả năng đáp ứng nhu cầu đào
tạo nguồn nhân lực cho 04 khu công nghiệp lớn trong tỉnh còn rất nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó sự phân bố các trường cao đẳng, đại học sẽ được thành lập trong
vùng cần phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Đồng thời phải đảm bảo các điều kiện thành lập trường theo quy định của Luật
sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (về đất đai, cơ sở vật chất, đội ngũ
giảng viên trình độ tiến sỹ, thạc sỹ ), tăng cường xã hội hóa giáo dục, khuyến
dạy nghề
2010 2011 TB 2010 2011 TB 2010 2011 TB
Hà Nội 300 593 447 400 471 436 600 786 693
Nam Định 200 490 345 300 371 336 500 639 570
Hình 4. Biểu đồ so sánh số lượng giáo vi ên dạy nghề
của TP Hà Nội và TP. Nam Định
Biểu đồ so sánh cho thấy mức độ chênh lệch giữa trường nghề và giáo viên
dạy nghề tại thành phố Hà nội và Nam Định không đáng kể. Giáo viên dạy
nghề trình độ trung cấp nghề thấp hơn so với trình độ Cao đẳng nghề tại cả hai
thành phố. Bên cạnh đó nếu đối chiếu với bảng so sánh các trường nghề thì
thành phố Hà Nội và Nam Định có chỉ số khối lượng các trường chênh nhau
tương đối lớn, nhất là các cơ sở dạy nghề trong khi sự chênh lệch về số lượng
giáo viên dạy nghề thì không nhiều. Như vậy xét về số lượng, thành phố Hà
Nội sẽ thiếu giáo viên dạy nghề nhiều hơn tại thành phố Nam Định để có thể
đến năm 2020, tại các cơ sở dạy nghề, đội ngũ giáo viên phải được nâng lên
mức trung bình theo quy chuẩn.
Hình 5. Biểu đồ so sánh sự phát triển về số lượng của giáo viên dạy nghề
địa bàn TP Hà Nội năm 2010 và 2011
Biểu đồ so sánh cho thấy sự phát triển về số lượng của giáo viên dạy nghề
trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 và 2011. Biểu đồ thể hiện năm 2011 số
lượng giáo viên trên địa bàn Hà Nội tăng rõ rệt ở cả 3 cấp độ cao đẳng nghề, trung
cấp nghề và sơ cấp nghề. Đánh giá số lượng giáo viên ở từng cấp độ theo biểu đồ
thì số lượng giáo viên cấp độ cao đẳng nghề tăng nhanh nhất sau đó đến số lượng
giáo viên dạy sơ cấp nghề tại các trung tâm và cơ sở dạy nghề, sau cùng là số
lượng giáo viên trình độ trung cấp nghề tại Hà Nội. Để phát triển hệ thống dạy
nghề bền vững cần phân bổ hệ thống giáo viên dạy nghề đều khắp các vùng trong
thành phố, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, nghiệp vụ sư phạm
cho đội ngũ giáo viên.
Hình 6. Biểu đồ so sánh sự phát triển về số lượng giáo viên dạy nghề
địa bàn TP Nam Định năm 2010 và 2011
trong định hướng phát triển đào tạo nghề với các dự án phát triển nghề tại nông
thôn. Duy trì được tốc độ tăng trưởng này chắc chắn sẽ giải được bài toán “ thừa
thầy, thiếu thợ” mà lâu nay xã hội vẫn đang quan tâm
Hình 8. Biểu đồ so sánh sự phát triển của số lượng học sinh học nghề
địa bàn TP Hà Nội năm 2010 và 2011
Biểu đồ so sánh cho thấy số lượng học sinh cao đẳng nghề trong hai năm 2010
và 2011 gần như không thay đổi, chỉ có số lượng học viên sơ cấp nghề năm 2011
tăng khá nhiều so với năm 2010. Đây sẽ là định hướng để thành phố Hà Nội tập
trung đào tạo kỹ năng nghề sát với thị trường lao động, nhu cầu lao động của các
doanh nghiệp.
Hình 9. Biểu đồ so sánh sự phát triển của số lượng học sinh học nghề
địa bàn TP Nam Định năm 2010 và 2011
Cũng giống như biểu đồ so sánh số lượng học viên tại Hà Nội, số lượng học
sinh cao đẳng nghề trong hai năm 2010 và 2011 tại thành phố Nam Định gần như
không thay đổi, chỉ có số lượng học viên sơ cấp nghề năm 2011 tăng khá nhiều
so với năm 2010. Đây có lẽ là xu hướng chung khi các khu công nghiệp mọc lên
như nấm tại hai thành phố này bắt buộc xu thế đào tạo trong thời gian tới sẽ là đào
tạo nghề ngắn hạn để giải quyết tình thế thiếu lao động tức thời trong các doanh
nghiệp.
4. So sánh, đánh giá về cơ cấu ngành nghề
So sánh, đánh giá về cơ cấu ngành nghề tại hai thành phố Nam Định và Hà Nội
nhằm mục đích cân đối và định hướng chuyển đổi ngành nghề đào tạo cho phù
hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Những năm gần đây hầu như tại các địa
phương hoạt động dạy nghề mới chỉ dừng lại ở chỗ “có nghề nào thì phát triển
nghề ấy”, chưa chú trọng vào việc phát huy lợi thế ở địa phương mình. Để việc
phát triển ngành nghề phát triển một cách bền vững, có hiệu quả cao, góp phần
chuyển dịch cơ cấu lao động. Xu hướng hiện nay do nhu cầu của xã hội nên đang
phát triển các nghề kinh doanh dịch vụ, nhà hàng nhất là ở các thành phố lớn như
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên cũng cần phải bảo tồn các ngành
nghề truyền thống, chú trọng gắn bảo tồn với phát triển từng ngành nghề, làng
để xây dựng và phát triển kinh tế biển nhằm phát huy tiềm năng nội lực để phát
triển kinh tế trong thời gian tới.
IV. Kết luận và khuyến nghị
Ðể giải quyết vấn đề đào tạo nhằm đáp ứng đủ nguồn nhân lực chất lượng cao
cho nhu cầu của các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề theo
hướng tăng nhanh về quy mô và nâng cao chất lượng, trong đó tập trung vào các
ngành kinh tế mũi nhọn, các lĩnh vực quan trọng của thành phố như: du lịch,
thương mại, vận tải, kho bãi, điện tử, điện lạnh, viễn thông, công nghệ thông tin
Quá trình đào tạo nghề cần gắn kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực lao
động với mục tiêu phát triển, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đào tạo; xây
dựng cơ sở vật chất; bồi dưỡng nâng cao kiến thức và đào tạo nghề theo đơn đặt
hàng của doanh nghiệp và theo nhu cầu xã hội.
Để cân đối đào tạo và phát triển nghề tại các địa phương, nhất là Thủ đô Hà
Nội cần xem xét các giải pháp sau:
- Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới Luật lao động, có thể
xem xét tách một số chế định thành một số Luật tương ứng như luật việc làm,
luật về quan hệ lao động, luật về bảo hộ lao động
- Thực sự coi đào tạo là quốc sách hàng đầu, trên cơ sở đó có sự đầu tư thoả
đáng cho công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn lao động, khắc phục
tình trạng thiếu nguồn nhân lực lao động như hiện nay. Chú trọng, đào tạo nghề
cho thanh niên khu vực nông thôn, nhất là các vùng nông thôn bị thu hồi đất làm
khu công nghiệp. Đồng thời cũng cần phải đào tạo cho người lao động hiểu được
sự cao quý của “nghề công nhân” trong xã hội để từ đó họ có sự sắn bó, yêu
nghề, yêu quê hương.
- Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, ngành nghề đầu tư hợp lý thúc
đẩy sự phát triển kinh tế hài hòa, bền vững giữa các vùng miền tạo thuận lợi cho
thu hút lao động và bảo đảm cuộc sống thực tại của công nhân khu công nghiệp.
- Xây dựng, phát triển các khu công nghiệp thực sự bền vững: thành lập các
khu công nghiệp mới với mục tiêu thu hút các nhà đầu tư lớn, công nghệ tiến
tiến…; áp dụng mô hình xây dựng khu công nghiệp tổng hợp. Dự án đầu tư cơ sở
……………………………………………………………………………………
………………………
ĐIỂM
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
GIẢNG VIÊN