MỞ ĐẦU
Hương ước, lệ làng cổ được coi là một trong những di sản văn hoá có tính
chất pháp lý đặc sắc trong làng xã cổ truyền Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu gần đây đã làm sáng tỏ những giá trò không thể
phủ nhận được vai trò “tự quản” của hương ước lệ làng. Nhiều truyền thống tốt
đẹp, nhiều phẩm chất quý giá; những hành vi ứng xử xã hội, gia đình và cá nhân ít
nhiều đã được hương ước, lệ làng gìn giữ và điều chỉnh.
Ngày nay nông thôn Việt Nam đang trong thời kỳ thay đổi mạnh mẽ. Đảng
và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú ý đến việc phát huy vai trò tự quản của nhân
dân, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Cuộc vận động làng văn hoá, gia đình văn
hoá đả trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước. Đảng bộ và chính quyền các
cấp đã coi cuộc vận động này là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của
nhân dân ta thiết thực góp phần làm nên thắng lợi phát triển kinh tế, ổn đònh trật
tự an ninh xã hội.
Nghò quyết V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã nêu: “Phát
huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp, thuần phong mỹ tục, bài trừ hũ tục mê
tín di đoan, tệ nạn xã hội, phát huy tình nghóa xóm làng, đảm bảo đoàn kết nông
thôn, khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước về nếp sống
văn minh ở các thôn xã”.
Ngày 19/6/1998, Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thò số 24 – 1998/CT
– TTG về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp,
cụm dân cư.
Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”
theo tinh thần của Nghò quyết Trung ương V khoá VII và chỉ thò số 61/CT – UB
của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư; phát huy quyền tự quản của nhân dân,
các thôn văn hoá ở huyện Lâm Hà ra đời và các hương ước, quy ước của các thôn,
buôn cũng đã xuất hiện với mục đích “Phát huy quyền tự quản của nhân dân, thực
hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong
nội bộ cộng đồng dân cư, bảo đảm đoàn kết, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và vệ
suy nghó, nhận thức của đề tài.
Để giải quyết những vấn đề trên, đề tài” đánh giá quy trình soạn thảo
nội dung và tổ chức thực hiện hương ước, quy ước mới trong các thôn văn hoá ở
huyện Lâm Hà - Tỉnh Lâm Đồng được bố cục thành những nội dung chính như
sau:
Trang
2
Chương 1: Tổng quan về vùng đất, con người Lâm Hà
Phần này chúng tôi giới thiệu về điều kiện tự nhiên và xã hội của Lâm
Hà. Đặc biệt trong phần này chúng tôi chú ý nhiều đến thành phần dân cư; tình
hình văn hoá, giáo dục, y tế và tôn giáo đã ảnh hưởng như thế nào đối với việc
soạn thảo nội dung và tổ chức thực hiện hương ước, quy ước mới trong các thôn
văn hoá trên đòa bàn huyện Lâm Hà. Chương 2: Quy trình soạn thảo và tổ chức soạn thảo hương ước, quy ước ở
các thôn văn hoá huyện Lâm Hà-Lâm Đồng.
Trong chương này chúng tôi đề cập đến quan điểm của Đảng, Nhà nước ta
về xây dựng hương ước, quy ước của làng, thôn văn hoá, cũng như kế hoạch triển
khai quy chế thực hiện dân chủ ở xã, thôn, thò trấn huyện Lâm Hà.
Nội dung chương này còn trình bày quy trình soạn thảo hương ước và quy
ước mới từ những quy đònh chung của quy trình soạn thảo hương ước ,quy ước đến
việc thành lập ban vận động xây dựng thôn, buôn, khu phố văn hoá…của Sở
VHTT Lâm Đồng, phòng VHTT-TDTT huyện Lâm Hà. Từ đó, chúng tôi đánh giá
thực trạng thục hiện quy trình này để rút ra những nguyên nhân tồn tại và bài học
kinh nghiệm trong quy trình đăng ký thôn buôn văn hoá cũng như quy trình soạn
thảo hương ước, quy ước của thôn, buôn văn hoá sao cho đúng với quy đònh pháp
luật của nhà nước và phù hợp với phong tục tập quán tốt đẹp của người dân đòa
phương.
thực hiện và sự quản lý nhà nước đối với hương ước, quy ước mới của các thôn
văn hoá trên đòa bàn huyện Lâm Hà.
Đó là nội dung, kết quả mà đề tài này nhằm đạt đến.
Để thực hiện đề tài này, ngoài sự nỗ lực của các thành viên tham dự, chúng
tôi còn nhận được sự động viên khích lệ của đồng nghiệp của UBND huyện Lâm
Hà, UBND các xã và Ban vận động xây dựng thôn, buôn văn hoá… cùng với đông
đảo nhân dân trong các thôn, buôn văn hoá trên đòa bàn huyện.
Tuy nhiên, vì thời gian có hạn, và khảo sát trên một đòa bàn rừng núi quá
rộng nên đề tài này còn nhiều khuyết thiếu là điều không tránh khỏi. Chúng tôi
mong được sự chỉ bảo của các bậc cao minh , đồng nghiệp góp ý bổ sung.
Đà Lạt, tháng 12 năm 2006 Trang
4
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Nội dung
1
2
3
4
5
Lâm Hà là một huyện miền núi thuộc tỉnh Lâm Đồng. Huyện được thành
lập vào tháng 10 năm 1987 theo quyết đònh số 157/ QĐ – HĐBT, bao gồm vùng
kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng; 5 xã phía Bắc huyện Đức Trọng, Phú Sơn, Đạ
Đờn, Phi Tô, Đinh Văn, Tân Văn và 3 xã mới thành lập là Phi Liêng, Liêng Sarol
và RoMen.
Năm 2004, theo đề nghò của UBND tỉnh, Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam đã cho phép đã tách Phi Liêng, Liêng Sarol và RoMen ra khỏi Lâm Hà để
thành lập huyện mới là huyện Đam rông.
Hiện nay Lâm Hà có ở 16 đơn vò hành chính : ngoài hai thò trấn là Đinh
Văn, Nam Ban thì 14 xã còn lại như Đạ Đờn, Đan Phượng, Đông Thanh, Gia Lâm,
Hoài Đức, Liên Hà, Tân Hà, Mê Linh, Nam Hà, Phi Tô, Phú Sơn, Phúc Thọ, Tân
Hà, Tân Thanh, đâu đâu cũng có khu phố văn hoá và thôn văn hoá (83 thôn và
khu phố văn hoá). Trong tổng số 233 thôn, buôn, khu phố. Chiếm tỷ lệ 62%.
1.1.1
Vò trí đía lý, đòa hình và diện tích
Đònh vò trên đòa hình vùng miền núi, có độ cao trung bình 800m so với mặt
nước biển, đòa hình thấp dần về phía Đông Nam và Tây Bắc. Diện tích đất là
97.853 ha và tổng dân số là 137.015 người (tính đến tháng 6 – 2006). Lâm Hà có
vò trí đòa lý : phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Di Linh, phía Đông giáp huyện Đức
Trọng, thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương.
Do đòa lý như trên, huyện Lâm Hà có nhiều sông suối đều bắt nguồn từ các
vùng núi cao như sông Đa Dâng bắt nguồn từ vùng núi Lang Biang hay sông
K’rông – Knô chạy dọc theo ranh giới giữa huyện Lâm Hà huyện Lắc (Đắc Lắc)
và Đắc Nông… Ngoài hệ thống sông suối, Lâm Hà còn có nhiều hồ đầm và nhiều
thác nước. Với diện tích 1800 ha mặt nước, các hồ, đầm bảo đảm nước phục vụ
cho sản xuất, chăn nuôi, điều hoà sinh thái, tăng mạnh nước ngầm và tạo ra cảnh
quan du lòch hấp dẫn, có khả năng xây dựng các nhà máy thuỷ điện.
Trang
triển các cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày như cây dâu tằm và hoa màu
như: lạc, đậu tương, ngô, khoai, sắn… và các loại cây ăn quả như mít, bơ, chuối, đu
đủ…
vùng đất Lâm Hà đất phù sa thích hợp với cây lúa nước không nhiều,
chiếm khoảng 14% diện tích đất canh tác. Đây là một khó khăn lớn đối với những
người dân vốn quen trồng lúa nước ở khắp mọi miền chọn Lâm Hà là vùng kinh tế
mới để “ phát triển kinh tế hộ gia đình, buộc phải “ cày” trên dốc đất.
Trong lòng đất Lâm Hà không có nhiều khoáng sản như các đòa bàn khác
trong tỉnh. Tuy nhiên có thể khai thác đất đá, cát làm vật liệu xây dựng. Mặt khác
Trang
7
do đặc điểm đòa hình và khí hậu nên Lâm Hà có hệ sinh thái phong phú và đa
dạng. Theo số liệu điều tra rừng năm 1992, trong tổng số 125.520 ha đất lâm
nghiệp có 86.763 ha rừng với trữ lượng 7 triệu m
3
gỗ, và hàng trăm triệu tre, nứa,
lồ ô và rất nhiều loại lâm sản, động vật. Tuy nhiên trong những năm gần đây
thảm thực vật phong phú này đã bò tàn phá nghiêm trọng: “Rừng bò xẻ thòt, động
vật hoang dã quý hiếm càng bò đưa lên bàn nhậu”. Đứng trước tình hình “báo
động đỏ” trên các cấp chính quyền và nhân dân cùng vào cuộc thông qua luật
pháp của Nhà nước và hương ước, quy ước của các thôn văn hoá, đó là bảo vệ
rừng.
1.2
KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH XÃ HỘI
Huyện Lâm Hà được thành lập năm 1987 theo Nghò quyết số 157/QĐ-
HĐBT ( ngày 24- 10- 1987) trên cơ sở sáp nhập vùng KTM Hà Nội vào huyện
Đức Trọng rồi tách huyện Đức Trọng thành 2 huyện lấy tên là huyện Đức Trọng
và huyện Lâm Hà cùng trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.
công lao động xã hội, trong việc sắp xếp công ăn việc làm cho lao động dư thừa
và ảnh hưởng ít nhiều đến an ninh trật tự xã hội trên đòa bàn. Mặc dù được Đảng
và Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, đời sống của nhân
dân trong huyện có nhiều thay đổi, mức sống được nâng lên, nhưng số hộ nghèo
vẫn còn chiếm tới khoảng 7% đến 8%dân số trong toàn huyện.
1.2.2
Tình hình văn hoá- giáo dục, y tế, tôn giáo:
Về văn hoá giáo dục:
Bên cạnh việc củng cố các trường công lập, coi đó là nòng cốt, giữ vai trò
chủ đạo đối với “sự nghiệp trồng người”, ngành giáo dục của huyện cũng đã quan
tâm đến các hình thức đào tạo: ngoài công lập, mở ra các trường bán công, bổ túc
văn hoá… để tạo điều kiện mọi người có cơ hội học tập, nâng cao trình độ, tiếp thu
được những kiến thức mới và tiếp cận được với khoa học- kỹ thuật công nghệ cao.
Toàn huyện hiện có 87 trường học. Số học sinh các cấp toàn huyện năm
2006 là: 30.921 ( trong đó mầm non là 4776, tiểu học là 14.869, trung học cơ sở là
11.326).
Huyện có phương hướng thu hút lực lượng trẻ, có học vấn về công tác
chuyên môn. Có gần 4000 lao động có trình độ đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp từ các trường, các miền trên cả nước đến làm việc trên đòa bàn
huyện Lâm Hà.
Năm 2006, toàn huyện đã có 112 thôn và khu phố và văn hoá; 59 cơ quan
văn hoá. mỗi xã đều có một trạm xá, toàn huyện có một trung tâm y tế đặt tại
thò trấn Đinh Văn.
Trang
9
Trong quá trình khảo sát đòa bàn chúng tôi nhận thấy do cơ sở vật chất
thiếu thốn, do sống ở vùng sâu vùng xa, cư dân có nhiều vấn đề phức tạp, cho nên
số học sinh tiểu học, trung học phổ thông không cao (khoảng 75%); cơ sở vật chất
Phác thảo qua về “đất và người Lâm Hà” chúng tôi muốn khái quát về
điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội của một vùng đất mang những nét đặc thù
Trang
10
riêng trên cao nguyên xanh – vùng đất không những có thế mạnh, tiềm năng để
phát triển kinh tế, có đời sống văn hoá phong phú, đa dạng mà còn là đòa bàn có
vò trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh.
Trong những năm gần đây, một mặt giữ vững kỹ cương phép nước, cấp uỷ
Đảng và Chính quyền ở Lâm Hà cũng chú ý đến việc thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở, không ngừng tạo điều kiện phát huy quy chế dân chủ, tự quản ở cơ sở, một
mặt nhằm nâng cao hiệu lực pháp luật nhà nước, mặt khác phát động phong trào
xây dựng thôn, buôn, khu phố văn hoá, soạn thảo hương ước và quy ước phù hợp
với đặc điểm của đòa phương để góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước đến tận người dân, là công cụ hỗ trợ tất yếu nhằm đảm
bảo cho sự phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và văn hoá hướng tới mục
tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Trang
11
Chương hai:
QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ TỔ CHỨC
SOẠN THẢO HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC Ở CÁC
THÔN VĂN HOÁ HUYỆN LÂM HÀ – LÂM ĐỒNG
2.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ XÂY DỰNG
HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC LÀNG, THÔN VĂN HOÁ
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, để xây dựng xã hội mới, chúng ta chủ
trương xoá bỏ mọi tàn dư của xã hội cũ và từ đó trong một thời gian dài các làng
không còn hương ước. Theo đánh giá của Cố giáo sư Trần Quốc Vượng, thì có lẽ
chúng ta quá mặc cảm với “phép vua thua lệ làng; lệ làng phép nước” mà chúng
đònh làng văn hoá là mô hình tổ chức, quản lý các hoạt động văn hoá xã hội nông
thôn phù hợp với giai đoạn chuyển biến sâu sắc của đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH.
Ngày 19/6/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thò số 24 về việc
xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư.
Thực hiện các Chỉ thò, Nghò quyết trên, công tác xây dựng và thực hiện
hương ước, quy ước ở cơ sở đã được chấn chỉnh một bước so với trước đây. Phần
lớn các hương ước mới đã có nội dung phù hợp với các quy đònh của pháp luật
hiện hành, góp phần phát huy thuần phong mó tục, đề cao các chuẩn mực đạo đức
truyền thống của dân tộc, hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp
luật ở làng, bản, thôn, ấp và các cụm dân cư.
Các đòa phương đã nhận thức rằng, hương ước, quy ước mới là văn bản
quy phạm xã hội trong đó quy đònh các quy tắc xử sự chung cho cộng đồng dân cư,
làng, bản, thôn, ấp và các cụm dân cư thoả thuận nhằm điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội, nâng cao tính tự quản, gìn giữ và phát huy những phong tục tập quán tốt
đẹp và truyền thống văn hoá trong từng làng, bản, thôn, ấp.
Ngày 31/3/2000 Thông tư liên tòch giữa Bộ Tư pháp, Bộ văn hoá thông tin
và Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc “ chỉ
đạo và thực hiện xây dựng hương ước, quy ước ở làng, bản, thôn, ấp và các cụm
dân cư đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đòa phương trong cả nước xây dựng
hương ước, quy ước mới trên cơ sở kế thừa những mặt tích cực của hương ước cũ,
phù hợp với quy đònh của pháp luật hiện hành, trong đó có tỉnh Lâm Đồng.
Trang
13
2.2 KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ
Ở XÃ. THÔN, THỊ TRẤN Ở HUYỆN LÂM HÀ
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá”:
Thực hiện cuộc vận động “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
Danh sách các thôn, buôn văn hoá huyện Lâm Hà
Stt Thôn- buôn Xã Năm công nhận
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
Tân Lập
Phúc Tân
Mỹ Hoà
Đan Phượng
Tân Văn
Đông Thanh
Đạ Đờn
Phú Sơn
Gia Lâm
Tân Hà
Phi Tô
Mê Linh
Hoài Đức
Đan Phượng
Đan Phượng
Đan Phượng
Đông Thanh
Phúc Thọ
Gia Lâm
Gia Lâm
Tân Thanh
Mê Linh
Phúc Thọ
Đạ Đờn
Tân Văn
Đông Thanh
Tân Thanh
Liên Hà
Tân Văn
Gia Lâm
2003
2003
2003
2004
Trang
15
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
Tân Hiệp
Thôn 2
Đạ Ty
Rờ Lơm
Sóc Sơn
Thôn 3
Tầm Xã
Gia Lâm 5
Pr Teng
Tân Lin
Liên Kết
Thạch Thất 1
Phúc Trạch
Vân Khánh
Nam Hà
Phú Sơn
Liên Hà
Hoài Đức
Tân Hà
Gia Lâm
Liên Hà
Nam Hà
Phúc Thọ
Phú Sơn
Liên Hà
Nam Hà
Gia Lâm
Tân Văn
Hoài Đức
Mê Linh
2005
2005
2005
2005
2005
2005
2005
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
2006
Trang
16
65
66
67
68
Đông Anh 1
Đông Anh 2
2-
Biên bản dự thảo bản quy ước mới phải tuân thủ theo những nội dung
cơ bản sau đây:
- Phần mở đầu:
+ Giới thiệu ý nghóa, mục đích của việc xây dựng thôn, khu phố văn
hoá
+ Truyền thống lòch sử của thôn, khu phố
- Nội dung:
+ Xây dựng phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo
+ Xây dựng đời sống văn hoá và phong tục tập quán
+ Xây dựng cảnh quan môi trường
+ Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động VHTT – TDTT
ở thôn, khu phố, các điểm vui chơi giải trí cho người dân.
- Ýù thức chấp hành pháp luật và các quy ước cộng đồng khu dân cư.
Trang
17
- Tổ chức thực hiện (thưởng, phạt và tổ chức thi hành quy ước)
3-
Tổ chức thông qua dự thảo quy ước : lấy ý kiến đóng góp xây dựng của
nhân dân trong thôn, khu phố và tranh thủ ý kiến của người già và những người
hiểu biết trong thôn, khu phố.
4-
Hoàn chỉnh quy ước: Sau khi có ý kiến cuối cùng của nhân dân trong
thôn, khu phố, Ban biên soạn tiến hành biên tập hoàn chỉnh quy ước
5- Đề nghò UBND xã, tổ khu phố xem xét cho ý kiến hoàn chỉnh hương
ước, quy ước, sau đó lập tờ trình đề nghò phòng VHTT và phòng Tư pháp, huyện, thò
trấn xem xét chỉnh sửa lần cuối, có thể tổ chức lấy ý kiến chung với sự tham gia của
chính quyền và đại diện xã, khu phố sau khi hoàn chỉnh sẽ trình lên UBND huyện,
thò xem xét ban hành quy ước
Bên cạnh những quy đònh về quy trình xây dựng thôn văn hoá và khu phố
đối với đồng bào dân tộc thực hiện xoá mù chữ… có trạm xá, có trụ sở sinh hoạt
hội họp, có hệ thống truyền thanh công cộng, có tủ sách báo, trong đó thường
xuyên phải có báo Nhân dân, Lâm Đồng… phải có 95%- 100% số hộ gia đình có
Radio, cassette; nơi có điện lưới quốc gia thì 15% trở lên đối với đồng bào dân
tộc, 30% trở lên đối với thôn người Kinh.
c. Có môi trường cảnh quan sạch đẹp, đường xá đi lại phải phong quang,
sạch đẹp; 100% số hộ được sử dụng nước sạch, ăn ở vệ sinh.
d. Thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước: trong đó 100% số hộ gia đình tham gia sinh hoạt, hội họp đầy đủ…
Chúng tôi đánh giá cao quy trình vận động toàn dân tham gia thôn, buôn
văn hoá và xây dựng hương ước, quy ước mới của thôn, buôn văn hoá ở huyện
Lâm Hà. Nhưng trong quá trình khảo sát thực tế tại một số thôn như: thôn Sình
Công xã Liên Hà, hay thôn 1( thôn Thực Nghiệm) ở xã Mê Linh… thực tế hộ đói
nghèo ở đây còn quá nhiều, con em đồng bào dân tộc K’Ho vẫn còn ở trong tình
trạng mù chữ, số lượng người thất nghiệp và thất học không nhỏ (33%). Vì vậy
bốn nội dung tiêu chuẩn thôn văn hoá khu phố văn hoá được áp dụng chung trên
đòa bàn toàn tỉnh sẽ loại bỏ “ thôn, buôn này ra khỏi danh hiệu thôn, buôn văn hoá
“ mà người dân ở đây khát khao, mong đợi của các cấp chính quyền.
Khi trao đổi với chúng tôi vợ chồng, anh Trúc chò Hoa (thôn Thực
Nghiệm xã Mê Linh), thôn có tới 95% người dân K’Ho sinh sống đã bức xúc nói
lên vấn đề này: “Tiêu chuẩn thôn văn hoá khó quá, chúng tôi tự mình hội họp với
nhau không phân biệt quê hương bản quán, dân tộc để quy ước với nhau về những
vấn đề sinh hoạt kinh tế, an ninh trật tự ở trong khu vực và đề nghò với các cấp
chính quyền xem xét đặc thù của đòa phương để công nhận thôn văn hoá.
Nên chăng UBND huyện Lâm Hà và BCH toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá huyện Lâm Hà, trong khi triển khai thực hiện, cần căn cứ vào
Trang
19
tình hình đặc điểm cụ thể của từng thôn, buôn ( nhất là đối với các buôn, thôn có
đồng bào dân tộc thiểu số) để tạo ra điều kiện các đơn vò cơ sở này phát huy tinh
Do thành phần cư trú của cư dân ở các thôn, buôn văn hoá trên đòa bàn
Lâm Hà khá đa dạng. Trong đó người dân tộc chiếm một phần không nhỏ. Ví dụ
thôn Thực Nghiệm- xã Mê Linh, có tới 95% là đồng bào K’Ho. Nhưng khi đề nghò
Trang
20
xây dựng thôn văn hoá và dự thảo quy ước thôn văn hoá, thì không có sự tham dự
của già làng, chúng tôi nhận thấy rằng đây là một trong những khuyết thiếu ở
khâu tổ chức và làm ảnh hưởng ít nhiều đến đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và chính vì vậy gây ảnh hưởng lớn: duy trì
luật tục “ chúng tôi đã nghe theo già làng” ở buôn Chuối ( Mê Linh) và 4 thôn ở
xã Mê Linh phàn nàn như vậy.
Theo chúng tôi trong điều kiện sinh hoạt kinh tế, phong tục tập quán hiện
tại đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở đây, thì vai trò già làng có ảnh hưởng rất
lớn đối với các buôn, thôn. Bỏ qua vấn đề này, chúng ta đã tự mình đánh mất đi cơ
sở lớn: dân chủ và tự quản ở các buôn, thôn văn hoá nơi đồng bào dân tộc thiểu số
cư trú.
2.3.3
Về vấn đề tổ chức triển khai:
Theo nội dung tinh thần của kế hoạch triển khai quy chế thực hiện dân
chủ ở xã, thò trấn huyện Lâm Hà trong việc tổ chức quán triệt, học tập : UBND
huyện sẽ tổ chức, quán triệt cho cán bộ chủ chốt ở các xã, thò trấn, trưởng các
đoàn thể các ngành, các doanh nghiệp đóng trên đòa bàn huyện những nội dung
chỉ thò số 30/CT – TW ngày 18/2/1998 của Bộ chính trò; chỉ thò số 22/CT – TTg
của thủ tướng Chính phủ và kế hoạch của UBND tỉnh Lâm Đồng về thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở.
Một trong nhiều nội dung của kế hoạch triển khai quy chế thực hiện dân
chủ ở xã, thò trấn Lâm Hà số 12/KM- BCB ngày 8/10/1998 đã xác đònh các bước
tổ chức triển khai nội dung cần tập trung chỉ đạo tổ chức quy chế: chỉ thò nêu rõ
UBND các xã, thò trấn chỉ đạo các thôn, khu phố trưởng dự thảo: xây dựng hương
ước, quy ước cộng đồng ở cụm dân cư, nhân dân thảo luận. Sau đó UBND huyện
22
Chương ba:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NỘI DUNG
CỦA HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC, VÀ TỔ CHỨC
THỰC HIỆN CỦA CÁC THÔN VĂN HOÁ
HUYỆN LÂM HÀ-LÂM ĐỒNG
3.1. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VỀ NỘI DUNG VÀ THỰC HIỆN
HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC CỦA BAN CHỈ ĐẠO QUY CHẾ THỰC HIỆN
DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ HUYỆN LÂM HÀ-LÂM ĐỒNG
Theo chỉ thò số 24/1998, ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn ấp, cụm dân
cư. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thò (Trích dẫn những nội dung cơ bản)
Nội dung của hương ước, quy ước cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản
sau đây:
- Bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục, thực hiện các
hành vi ứng xử văn minh trong giao tiếp, ăn ở, đi lại. Xoá bỏ các hủ tục, phát triển
các hình thức hoạt động văn hoá lành mạnh, phát huy tình làng, nghóa xóm, đoàn
kết, tương thân, tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư.
- Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản cộng đồng và tài sản
của công dân, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ rừng, biển, sông, hồ, danh lam
thắng cảnh, đền chùa, miếu mạo, các nguồn nước, đập nước, kênh mương, kè
cống. Xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, trồng cây xanh, chống ô
nhiễm các nguồn nước ở đòa phương.
- Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹ tục, bài trừ các hủ tục
trong ma chay, cưới hỏi, thờ phục lễ hội ở các đòa phương.
- Thực hiện đúng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá…
- Xây dựng tình đoàn kết tương thân, tương ái trong công đồng, vận
xây dựng kế hoạch chi tiết như thông tin cho nhân dân, thực hiện những việc dân
bàn, dân kiểm tra, dân giám sát trong quy trình xây dựng nội dung hương ước, quy
ước).
Chúng tôi đánh giá “ Kế hoạch triển khai quy chế thực hiện dân chủ ở xã,
Lâm Hà của Ban chỉ đạo quy chế thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở” là khá tích cực,
thực hiện tốt theo tinh thần mà trong bài nói của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại hội nghò
lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII ngày 03/6/1993 “Nhà
nước cần sớm nghiên cứu đề ra quy chế thích hợp với chức năng, vai trò của xã,
của thôn xóm, làng bản trong tình hình mới. Trong khuôn khổ pháp luật và dựa
Trang
24
vào những quy đònh này, xã có thể xây dựng “Hương ước làm cơ sở để tổ chức,
quản lý hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng … trên đòa bàn tỉnh”.
Nhưng có một điều, khi chúng tôi khảo sát tại một số thôn, buôn văn hoá,
thì chúng tôi “ít” tìm được văn bản hướng dẫn về quy trình soạn thảo và nội dung
của hương ước, quy ước và do vậy các thôn, buôn văn hoá trên đòa bàn huyện “ cứ
sao chép của nhau”, và tuỳ tiện đưa vào những chương mục, điều khoản không
phù hợp với đơn vò cư trú ( chúng tôi sẽ giải trình và kiến nghò ở phần sau).
Nên chăng Ban chỉ đạo quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở của huyện
Lâm Hà cần phải có chỉ thò hay quy đònh cụ thể về việc quản lý Nhà nước đối với
việc lập, ban hành và nội dung của hương ước, quy ước đối với các thôn, buôn văn
hoá trên đòa bàn huyện, để tránh những vấn đề bất cập trên.
3.2.
NỘI DUNG CÁC BẢN HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC THÔN, BUÔN
VĂN HOÁ Ở LÂM HÀ
3.2.1
Bố cục trình bày:
Nhìn một cách tổng thể, các bản hương ước, quy ước ở các thôn, buôn văn