Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYÊN ĐỀ
Sau 23 năm đổi mới, nước ta đã dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
theo đó sự vận hành của nền kinh tế vừa tôn trọng các quy luật khách quan của cơ
chế kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên
tắc và bản chất của định hướng xã hội chủ nghĩa. Thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đã được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường
quốc tế được nâng cao. Chúng ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ
chức thương mại thế giới (WTO).
Tài nguyên và môi trường có vai trò thiết yếu đối với con người, là nền tảng
tồn tại và phát triển của xã hội, là đầu vào và chứa đựng chất thải đầu ra của các hoạt
động kinh tế, đóng góp quan trọng cho ngân sách và tăng trưởng của mọi nền kinh tế.
Trong thế giới hiện đại ngày nay, khi toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, tài nguyên trở
thành nguồn lực khan hiếm, là đối tượng tranh chấp quyết liệt giữa các thế lực kinh
tế, môi trường đã và đang bị ô nhiễm, suy thoái nhanh, trở thành vấn đề toàn cầu, mối
lo chung của toàn nhân loại, công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được
nhiều quốc gia trên thế giới đặt ở tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển
bền vững đất nước.
Nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nỗ lực
tăng trưởng nhanh và bền vững, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa nhằm thu hẹp nhanh khoảng cách tụt hậu đối với thế giới. Quá trình này đòi hỏi
phải có những thay đổi cơ bản trong cơ chế quản lý và phương thức điều hành của
toàn bộ nền kinh tế, từng bộ phận, từng khâu, trong đó có ngành tài nguyên và môi
trường.
Thời gian qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, công tác quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường đã có những chuyển đổi tích cực theo hướng kinh tế
hoá, thị trường hoá. Một số cơ chế, công cụ kinh tế được đưa vào áp dụng trong quản
lý đất đai và bảo vệ môi trường đã phát huy tác dụng, tạo nên bước đột phá về đóng
góp ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp kế thừa
Là phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu thực hiện trước
đây, kế thừa những kết quả điều tra, đánh giá, nghiên cứu đã có cả trong và ngoài
nước. Phương pháp này chủ yếu sử dụng ở phần II: Phân tích và đánh giá thực trạng
kinh tế hóa ngành trong xây dựng và tổ chức kế hoạch 5 năm của Bộ Tài nguyên và
Môi trường. Các bảng số liệu như: Số văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng và
ban hành; Thiệt hại môi trường ở một số nước, tổng thu thuế tài nguyên so với tổng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thu ngân sách… là kế thừa kết quả nghiên cứu của cán bộ Bộ Tài nguyên và Môi
trường và kết quả nghiên cứu từ các tổ chức nước ngoài.
2. Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp
Phương pháp này cũng chủ yếu được sử dụng ở phần II, dựa trên những số
liệu thực tế, từ đó đưa ra được những đánh giá tổng quát về thành tựu, hạn chế và
những nguyên nhân của việc thực hiện kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường
trong giai đoạn 2006-2010. Dựa vào bảng biểu để đánh giá sự biến động số liệu qua
các năm.
3. Phương pháp dự báo
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở phần III: Giải pháp đẩy mạnh kinh
tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. Dựa trên kết quả đánh giá thu thập được ở
phần II và căn cứ vào bối cảnh chung của việc xây dựng kế hoạch 5 năm ngành tài
nguyên và môi trường theo hướng kinh tế hóa, từ đó làm căn cứ để dự báo các chỉ
tiêu thực hiện trong 5 năm tiếp theo.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chuyên đề nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về kinh tế hóa ngành tài nguyên
và môi trường; đánh giá khả năng áp dụng và xây dựng, đề xuất khung chính sách
tổng thể đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường trong việc xây dựng
và tổ chức kế hoạch 5 năm.
Việc điều tra nghiên cứu được thực hiện với tất cả 7 lĩnh vực quản lý nhà
TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
I. KẾ HOẠCH 5 NĂM TRONG HỆ THỐNG KẾ HOẠCH HOÁ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI.
1
1. Hệ thống kế hoạch hoá phân theo thời gian trong nền kinh tế quốc dân.
Hệ thống kế hoạch hoá là một hệ thống các loại hình thức kế hoạch phát triển,
đó là hệ thống các công cụ điều hành và quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Trong hệ thống kế hoạch hoá, mỗi loại hình kế hoạch khác nhau có vai trò khác nhau
và chúng có thể được phân loại theo nhiều góc độ khác nhau.
Nếu xem xét hệ thống kế hoạch hoá theo góc độ nội dung thì hệ thống kế
hoạch hoá bao gồm các bộ phận cấu thành như: chiến lược phát triển kinh tế xã hội;
quy hoạch phát triển; kế hoạch phát triển và các chương trình dự án phát triển.
Trong đó chiến lược phát triển kinh tế xã hội là hệ thống các phân tích, đánh
giá và lựa chọn về quan điểm mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển các lĩnh vực
chủ yếu của đời sống xã hội và các giải pháp cơ bản, trong đó bao gồm các chính
sách về cơ cấu, cơ chế vận hành hệ thống kinh tế xã hội nhằm thực hiện mục tiêu đặt
ra trong một khoảng thời gian dài.
Quy hoạch phát triển là sự thể hiện của chiến lược phát triển trong thực tiễn
phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Quy hoạch phát triển thể hiện tầm nhìn, sự bố
trí chiến lược về thời gian và không gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức
không gian để chủ động hướng tới mục tiêu đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững
trong tương lai.
Kế hoạch phát triển là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc
dân, nó là sự cụ thể hoá các mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội
theo từng thời kỳ bằng hệ thống các mục tiêu chỉ tiêu và chỉ tiêu biện pháp định hướng và
hệ thống các chính sách, cơ chế áp dụng trong thời kỳ kế hoạch.
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội được xem như là một công cụ
triển khai thực hiện các kế hoạch phát triển nhằm giải quyết các vấn đề bức xúc về
1
Trích nguồn: Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
câu hỏi: Chúng ta đang đứng ở đâu?
- Xây dựng các quan điểm phát triển, đó là những tư tưởng chủ đạo thể hiện
tính định hướng của các kế hoạch dài hạn. Việc xác định các quan điểm chủ đạo có ý
nghĩa quan trọng trong việc tìm ra các bước ngoặt của con đường phát triển, nó tạo
động lực cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển của đất nước.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Xây dựng hệ thống mục tiêu, các mục tiêu chủ yếu là mục tiêu tổng quát, chủ
yếu tập trung vào các vấn đề nâng cao đời sống xã hội của các tầng lớp dân cư, thay
đổi bộ mặt đất nước, tạo thế vững chắc cho đất nước, phản ánh những biến đổi quan
trọng của nền kinh tế.
- Xây dựng hệ thống chính sách và biện pháp. Đây là thể hiện sự hướng dẫn
về cách thức thực hiện các mục tiêu đề ra. Nó bao gồm các chính sách và biện pháp
về cơ cấu và cơ chế vận hành hệ thống kinh tế – xã hội, các chính sách về bồi dưỡng,
khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng hợp lý cá nguồn lực phát triển.
1.2. Kế hoạch trung hạn
Kế hoạch trung hạn là những kế hoạch có khoảng thời gian từ 3 đến 10 năm.
Ở một số nước trên thế giới như nước Pháp, khi phân chia theo thời gian thì hình
thức duy nhất của kế hoạch là kế hoạch 5 năm, nước Đức thường xây dựng kế hoạch
trung hạn 5 năm, ở Malaysia có kế hoạch trung hạn 5 năm, kế hoạch trung hạn 3 năm,
ở Việt Nam kế hoạch trung hạn thường là kế hoạch 5 năm.
Kế hoạch trung hạn (kế hoạch 5 năm) là sự cụ thể hoá các chiến lược phát
triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển trong lộ trình phát triển dài hạn của đất
nước. Kế hoạch trung hạn xác định các mục tiêu chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, nâng
cao phúc lợi xã hội trong thời kỳ kế hoạch và xác định các cân đối, các chính sách
phân bổ nguồn lực, vốn cho các chương trình phát triển của khu vực kinh tế Nhà
nước và khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
1.3. Kế hoạch ngắn hạn
Trong hệ thống kế hoạch phát triển thì kế hoạch 5 năm là công cụ chính sách
định hướng còn kế hoạch hàng năm là công cụ thực hiện. Đặc biệt nếu thực hiện kế
2.2. Sự cần thiết lựa chọn kế hoạch 5 năm làm kế hoạch trọng tâm trong hệ
thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế –xã hội.
Nghị quyết Đại hội 9 của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định “xây dựng kế
hoạch 5 năm trở thành công cụ chủ yếu của hệ thống kế hoạch hoá phát triển”.
Trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội ta thấy kế hoạch 5 năm
(kế hoạch trung hạn) là loại hình kế hoạch có khoảng thời gian nằm giữa kế hoạch dài
hạn (chiến lược phát triển, quy hoạch phát triển) và kế hoạch ngắn hạn (kế hoạch
hàng năm). Do vậy khi xét về mặt thời gian thì điều đâu tiên ta thấy kế hoạch 5 năm
đã đảm bảo mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Do khoảng thời gian 5 năm vừa
đúng bằng một nhiệm kỳ làm việc của cơ quan chính phủ, là thời hạn mà theo đó lợi
tức đầu tư bắt đầu có sau 1 năm hoặc một vài năm, do vậy tạo thuận lợi cho việc tập
trung quan điểm lãnh đạo, thuận lợi cho việc đổi mới và hoàn thiện việc thực hiện
các kế hoạch phát triển mới. Khi một nhiệm kỳ làm việc của chính phủ kết thúc cũng
là lúc một kế hoạch 5 năm kết thúc, do vậy trong quá trình thực hiện kế hoạch phát
triển nếu còn tồn tại những hạn chế hay không đạt được những mục tiêu đã đề ra,
việc quy kết trách nhiệm sẽ dễ dàng hơn. Từ đó buộc mỗi cá nhân có trách nhiệm
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thực hiện mục tiêu chung một cách tốt nhất, không để xảy ra tình trạng thiếu tinh thần
trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao rồi bắt người đi sau (nhiệm kỳ
sau) phải giải quyết hậu quả do chính mình gây ra.
Kế hoạch 5 năm là khoảng thời gian đủ ngắn để đảm bảo tính chính xác của
các mục tiêu đề ra. Do sự biến động không ngừng của nền kinh tế, sự phát triển mạnh
mẽ không ngừng của nền sản xuất xã hội cũng như việc hiện đại hoá các công cụ dự
báo dẫn đển rủi ro cao đối với các chỉ tiêu của các kế hoạch dài hạn.
Đối với kế hoạch 1 năm thì khoảng thời gian 1 năm không đủ để đánh giá
những phát sinh của chương trình dự án. Những chương trình dự án khi hoàn thành
đôi khi chưa bộc lộ hiệu quả hay những phát sinh ngay mà phải trải qua một thời gian
đi vào sử dụng do vậy trong vòng một năm không thể nhận biết được điều đó. Trong
khi đó kế hoạch 5 năm đủ dài để đánh giá các chính sách giải pháp, chương trình dự
giai đoạn 5 năm. Các mục tiêu kế hoạch 5 năm thường hướng tới, bao gồm: Mục tiêu
tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; mục tiêu ổn định tài chính quốc
gia tăng khả năng và tiềm lực tài chính, xử lý hài hòa tích lũy với tiêu dùng, tăng khả
năng đầu tư kiềm chế và khống chế lạm phát, bảo đảm giá trị đồng tiền, cải thiện cán
cân thanh toán, tăng khả năng kinh tế đối ngoại, xuất – nhập khẩu và thu hút nguồn
vốn bên ngoài; bảo đảm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, phát triển dân trí và
nâng cao phúc lợi xã hội.
Để thực hiện các mục tiêu trên, nhất là xác định các chỉ tiêu kế hoạch cần phải
dự báo nhiều phương án khác nhau, việc lựa chọn phương án cần trên cơ sở mục tiêu
đặt ra, gắn cụ thể với khả năng nguồn lực và theo quan điểm chủ động khai thác, huy
động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế đa phần sở hữu và mở cửa
hội nhập.
1.3. Xây dựng các cân đối vĩ mô và giải pháp lớn
Thứ nhất, là xác định các cân đối vĩ mô chủ yếu: Cân đối vốn đầu tư, cân đối
xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế, cân đối sức mua toàn xã hội; xác định
khả năng thu hút vốn cả trong và ngoài nước, đồng thời xác định những quan hệ lớn
về phân bổ đầu tư giữa các vùng kinh tế, giữa công nghiệp, nông nghiệp và các lĩnh
vực văn hóa, xã hội; xác định quan hệ cung cầu một số hàng hóa chủ yếu.
2. Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch 5 năm
Một nội dung quan trọng không thể thiếu của kế hoạch nói chung và kế hoạch
5 năm nói riêng đó là xây dựng hệ thống chỉ tiêu. Hệ thống chỉ tiêu trong kế hoạch
phát triển được hiểu là thước đo cụ thể nhiệm vụ cần đạt được trong thời kỳ kế
hoạch. Các thước đo này thể hiện cả về số lượng và chất lượng. Nó cho phép xác
định nội dung cơ bản của quá trình phát triển kinh tế, các bộ phận cấu thành cụ thể
của nó và được Nhà nước sử dụng dể thực hiện quá trình điều tiết nền kinh tế. Có
nhiều cách phân loại hệ thống chỉ tiêu kế hoạch:
- Đứng trên góc độ phạm vi tính toán, hệ thống chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu
kế hoạch quốc gia như: Chỉ tiêu phản ánh chương trình phát triển kinh tế đất nước,
các dự báo kinh tế-xã hội, các chỉ tiêu của hệ thống tài khoản quốc gia, nguồn ngân
sách Chính phủ và tài chính Nhà nước. Các chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh, thành phố bao
dẫn thường mang tính định hướng hoạt động của các ngành, địa phương, các đơn vị
kinh tế và dùng để phân tích, so sánh đánh giá mức độ phát triển của các đối tượng kế
hoạch hoá. Các chỉ tiêu dự báo ở tầm vĩ mô làm cơ sở luận chứng cho các chỉ tiêu
pháp lệnh phê chuẩn và được xem như các số liệu, thông tin kinh tế cho các đơn vị
kinh tế, các ngành, địa phương và các cơ quan có liên quan tham khảo.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Theo phạm vi đơn vị đo lường, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch gồm có các chỉ
tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị. Chỉ tiêu hiện vật xác định mặt vật chất của sản xuất,
được đo lường bằng các đơn vị đo hiện vật như: Cái, trọng lượng, kích thước, dung
tích v..v.. Chỉ tiêu hiện vật có tác dụng xác định cụ thể quy mô của sản xuất và dịch
vụ, nó đưa ra khả năng thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa mục tiêu sản xuất sản
phẩm với khối lượng nhu cầu cung cấp các hàng hoá trung gian. Chỉ tiêu giá trị đo
lường các nhiệm vụ, mục tiêu và quy mô phát triển của nền kinh tế dưới hình thái
tiền tệ, nó được sử dụng để hình thành các cân đối vĩ mô, các con số phản ánh tổng
hợp nội dung phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hướng phát triển của
các ngành, vùng v..v..
- Ngoài các cách phân loại chủ yếu trên, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch còn được
chia thành chỉ tiêu tương đối và chỉ tiêu tuyệt đối; chỉ tiêu phản ánh chất lượng và số
lượng. Tất cả các chỉ tiêu đều góp phần tăng cường tính định lượng trong kế hoạch
hoá phát triển. Tuy vậy, để thích ứng với các điều kiện thường xuyên biến đổi của
kinh tế thị trường và theo yêu cầu phát triển ngày càng cao của đời sống, xã hội, các
kế hoạch phát triển hiện nay đặt trọng tâm vào các chỉ tiêu xã hội, các chỉ tiêu giá trị,
cá chỉ tiêu mang tính chất hướng dẫn và dự báo.
3. Một số phương pháp xây dựng và quản lý kế hoạch 5 năm phát triển
kinh tế - xã hội
3.1. Phương pháp truyền thống
Xây dựng và quản lý các kế hoạch 5 năm theo phương pháp truyền thống đã
được áp dụng từ rất lâu trong hệ thông kinh tế xã hội chủ nghĩa, và ngày nay nền kinh
tế nước ta vẫn còn áp dụng dưới những hình thức khác nhau. Đặc trưng của phương
hoạch phát triển kinh tế –xã hội của các quốc gia này. Sự khác biệt của phương pháp
này so với kế hoạch hoá kiểu truyền thống thể hiện ở các điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, thời kỳ kế hoạch 5 năm không cố định mà được thay đổi theo kiểu
cuốn chiếu sau mỗi năm kế hoạch. Khi một năm thực hiện kế hoạch qua đi thì một
năm kế hoạch mới lại được đưa vào khuôn khổ trung hạn. Ví dụ như kế hoạch 2006-
2010 rồi đến kế hoạch 2006-2011, v..v..
Thứ hai, các con số kế hoạch được tính theo những mục tiêu tổng thể, bao
gồm kế hoạch chính thức cho một năm hiện hành, kế hoạch dự tính cho năm tiếp theo
và dự báo cho kế hoạch ba năm còn lại. Mức độ chi tiết cụ thể và chính xác của các
con số kế hoạch các năm sau phụ thuộc vào số lượng, độ tin cậy và khả năng cập nhật
thông tin.
Thứ ba, cuối mỗi năm của thời kỳ kế hoạch, trên cơ sở kết quả thực hiện kế
hoạch và những dự báo, thông tin mới, quá trình xây dựng kế hoạch 5 năm thời kỳ
cuốn chiếu mới lại được thực hiện với các nội dung: xây dựng kế hoạch chính thức
cho năm tiếp theo (năm đầu của thời kỳ mới); điều chỉnh và chính xác hoá thêm cho
những dự báo kế hoạch của năm thứ 2,3,4 và dự báo sơ bộ kế hoạch năm cuối cùng
(năm thứ 5 của thời kỳ mới). Đi kèm theo các chỉ tiêu kế hoạch là những dự kiến về
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cơ hội, thách thức của thời kỳ kế hoạch và những kiến nghị, giải pháp cụ thể phù hợp
với các diễn biến xảy ra.
Phương pháp "cuốn chiếu" với các nội dung tổng quát nêu trên sẽ khắc phục
được tính nhất thời và không phù hợp mục tiêu kế hoạch với sự đổi thay thường
xuyên của môi trường. Theo phương pháp này việc xây dựng và triển khai kế hoạch 5
năm sẽ không còn mang tính chất “thời vụ” mà nó tiếp tục được thời sự hóa để phù
hợp với hoàn cảnh và những yêu cầu mới đặt ra. Các chỉ tiêu kế hoạch sẽ đủ độ tin
cậy cho các nhà quản lý và lãnh đạo sử dụng với tư cách là công cụ định hướng vĩ mô
nền kinh tế quốc dân, làm cho kế hoạch thực hiện tốt chức năng tổ chức can thiệp của
Chính phủ vào nền kinh tế thị trường, đương đầu với khó khăn, biến động bất thường
từ thế giới bên ngoài. Ngoài ra, do các khuôn khổ 5 năm kế hoạch 5 năm kế tiếp nhau
Đánh giá có nghĩa là việc xác định, phản ánh kết quả của những gì đã được
thực thi, và xét đoán giá trị của chúng. Đánh giá có thể được thực hiện bởi những
người có trách nhiệm quản lý hay bởi những người bên ngoài có liên quan.
Đánh giá là một quá trình tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống một dự
án, chương trình hay một kế hoạch đang được thực hiện hoặc đã kết thúc, bao gồm
đánh giá từ việc lập kế hoạch, thiết kế chương trình, dự án đến quá trình thực hiện và
kết quả của quá trình thực hiện.
Xét theo quy trình xây dựng và thực hiện kế hoạch, đánh giá được phân thành
3 loại chính:
- Đánh giá giữa kỳ: là việc đánh giá định kỳ tiến độ thực hiện kế hoạch kiểm
tra tính phù hợp và khả năng tạo ra những đầu ra hoặc tác động ảnh hưởng, mong đợi
của kế hoạch. Đánh giá giữa kỳ còn giúp kiểm tra xem các giả thiết đã nêu trong kế
hoạch có giữ nguyên giá trị hay không, nếu không thì giải thích tại sao cần khuyến
nghị các điều chỉnh để đảm bảo đạt được các mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu kế
hoạch đề ra.
- Đánh giá cuối kỳ: là đánh giá được tiến hành khi kết thúc kỳ kế hoạch nhằm
đánh giá các kết quả đạt được, tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện rút ra kinh
nghiệm, xem xét khả năng điều chỉnh kế hoạch kỳ tiếp theo nhằm đảm bảo mục tiêu
trung hạn và dài hạn.
- Đánh giá tác động: là đánh giá được tiến hành tại một thời điểm thuận lợi
sau khi kết thúc kỳ kế hoạch, xem xét việc thực hiện kế hoạch có tạo ra được tác
động như mong muốn hay không, tức là đánh giá hiệu lực của kế hoạch.
2. Vai trò của theo dõi và đánh trong quy trình kế hoạch hóa phát triển
kinh tế-xã hội
Theo dõi và đánh giá có vai trò rất quan trọng trong quá trình tổ chức thực
hiện các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Theo dõi cho phép các cấp chính quyền (chính phủ hoặc chính quyền địa
phương) nắm bắt kịp thời tình hình triển khai thực hiện các mục tiêu kế hoạch đề ra,
từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhằm đảm bảo quá trình thực hiện diễn
ra theo đúng kế hoạch. Không có thông tin theo dõi hoặc theo dõi không hiệu quả sẽ
nhau. Hoạt động theo dõi thu thập thông tin về tình hình thực hiện từng mục tiêu kế
hoạch. Xét về hiệu quả, nếu làm tốt công tác theo dõi thì có thể phòng chống tốt các
rủi ro có thể phát sinh và đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đề ra hoặc kịp thời điều
chỉnh mục tiêu kế hoạch nào đó nếu có nguy cơ không đạt hay có diễn biến bất
thường trong nền kinh tế.
2.2. Theo dõi đánh giá dựa trên kết quả
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Theo dõi và đánh giá dựa trên kết quả là một quá trình liên tục thu thập và
phân tích số liệu về chỉ số theo dõi để so sánh với các kết quả dự định, xem xét mức
độ thực hiện của các mục tiêu kế hoạch mà còn xem xét kết quả và tác động của thực
hiện kế hoạch dựa trên mối liên hệ logic giữa các chỉ số giám sát.
Cơ sở của theo dõi và đánh giá dựa trên kết quả là lý thuyết về quản lý dựa
trên kết quả phát triển. Quản lý dựa trên kết quả phát triển là một chiến lược hay
phương pháp quản lý mà tổ chức sử dụng để đảm bảo rằng các hoạt động, sản phẩm
dịch vụ của mình góp phần vào việc đạt được kết quả mong muốn.
IV. NHỮNG LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HÓA NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG
1. Khái niệm về kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường
"Kinh tế hoá", "tài chính hoá" từ một thuật ngữ kinh tế học, gần đây đã được
Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường đề cập như một chủ trương, định hướng phát
triển của ngành tài nguyên và môi trường nước ta. Việc thực hiện chủ trương ấy sẽ
tạo ra quá trình chuyển biến căn bản các quan hệ hành chính trong lĩnh vực tài
nguyên và môi trường thành các quan hệ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Thuật ngữ “kinh tế hóa” tuy không còn mới lạ nhưng việc kinh tế hóa ngành
tài nguyên môi trường ở nước ta nói chung và ngành tài nguyên môi trường nói riêng
vẫn còn mới mẻ. Xung quanh việc định nghĩa kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi
trường có nhiều ý kiến. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Cao Bằng: “Kinh tế hoá,
tài chính hoá là quá trình chuyển hoá các thành tố tài nguyên và môi trường từ trạng
Kinh nghiệm thế giới cho thấy đóng góp chính của khu vực “tài nguyên và
môi trường” cho ngân sách là thuế đất đai, các loại thuế/phí môi trường, thuế khai
thác, sử dụng tài nguyên và một số hình thức thu khác. Tùy theo từng quốc gia và
từng giai đoạn khác nhau mà cách thức và phần đóng góp này là khác nhau. Đối với
các nước có hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, tài nguyên thì họ chỉ thu thuế, phí.
Còn các nước có chế độ sở hữu nhà nước về tài nguyên thiên nhiên thì ngoài thu
thuế, phí còn các khoản thu về giao quyền sử dụng, cho thuê đất đai, tài nguyên. Số
thu từ bán, cho thuê đất đai, tài nguyên rất lớn so với thuế, phí. Tuy nhiên, những
khoản thu này không bền vững như thuế, phí vì đất, tài nguyên đều có giới hạn và
không thể tái tạo được. Đây cũng chính là điểm khác nhau giữa quan hệ sở hữu ảnh
hưởng đến định đoạt nguồn thu của các nước có chế độ sở hữu đất đai, tài nguyên
khác nhau. Có thể tóm tắt về các lĩnh vực như sau:
(1) Từ đất đai: Thuế đất đai là một loại thuế có nguồn gốc lâu đời và tồn tại
tất cả mọi nơi trên thế giới. Mặc dù không phải chiếm một tỷ trọng cao trong tổng
GDP và tổng nguồn thu quốc gia những năm gần đây, thuế đất đai mới được sử dụng
như là một công cụ hữu hiệu để tăng nguồn thu và giúp cân đối ngân sách, đặc biệt
tại các quốc gia đang phát triển. Theo IMF (2006), trên toàn thế giới, thuế đất chiếm
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trung bình khoảng 2% tổng GDP và 12% tổng thu từ tất cả các loại thuế. Riêng tại
các nước đang chuyển đối, thuế đất chiếm khoảng 0.95% GDP và 7.2% tổng thu từ
thuế.
(2) Từ môi trường: Trong các nhóm thuế/ phí môi trường, nhìn chung phần đóng
góp từ khu vực giao thông chiếm phần lớn trong tổng doanh thu thuế mà chủ yếu là từ
thuế xăng, dầu diezen và phương tiện gắn máy (ô tô, xe máy khi mua mới phải đóng thuế
môi trường). Có hai xu hướng trong những năm gần đây là việc áp dụng mới các loại
thuế liên quan đến chất thải rắn, đồng thời suất thuế cho chất thải rắn cũng tăng (do việc
quản lý chất thải rắn ngày càng trở nên khó khăn và tốn kém hơn).
Một số loại thuế/phí ô nhiễm môi trường phổ biến bao gồm: phí gây ô nhiễm
không khí, thuế carbon, thuế lưu huỳnh, phí gây suy thoái tầng ôzôn, phí nước thải,
Phí phạt phải đủ cao để người gây ra tác động ô nhiễm môi trường giảm thiểu hành vi
gây tác hại đến môi trường. Cơ chế này thực tế đòi hỏi việc quan trắc, thanh tra và cơ
chế quản lý tốt.
(2) Ký quỹ: Đây là cơ chế tài chính trong đó một khoản đặt cọc mà người gây
ra ô nhiễm môi trường hay tổn thất tài nguyên phải hoàn trả để cam đoan việc tuân
thủ các yêu cầu về tài nguyên và môi trường. Khoản tiền đặt cọc này sẽ được trả lại
nếu tuân thủ hoàn tất các quy định như đã cam kết.
(3) Bồi thường thiệt hại: Hệ thống này đảm bảo rằng khoản bồi thường sẽ
được trả cho thiệt hại gây ra phát sinh từ hoạt động gây ô nhiễm. Khoản tiền này có
thể trả trực tiếp cho nạn nhân (chịu ô nhiễm) hoặc cho chính phủ hoặc cho một quĩ
đặc biệt (quĩ tràn dầu…).
(4) Hệ thống đặt cọc- hoàn trả: Ý tưởng chính của hệ thống đặt cọc- hoàn trả
là làm cho cá nhân xả thải có trách nhiệm chịu chi phí và có động cơ tái sử dụng và
thu hồi sản phẩm, phế phẩm sau khi đã sử dụng. Trong cơ chế này thì một khoản tiền
đặt cọc thêm vào được chi trả khi mua sản phẩm. Sau đó khoản tiền này sẽ được trả
lại khi sản phẩm đã qua sử dụng được đem trả lại cho nhà sản xuất.
3.3. Lượng giá và buộc bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường
Trong những năm gần đây lĩnh vực kinh tế môi trường đã nâng cao khả năng
tính toán chi phí kinh tế của việc suy thoái tài nguyên và môi trường. Áp dụng những
thành tựu này nhiều quốc gia đã tiến hành tính toán chi phí thiệt hại do môi trường
gây ra. Bảng 1 tóm tắt lại kết quả của thiệt hai về kinh tế của một quốc gia.
Bảng 1: Thiệt hại môi trường ở một số nước
Quốc gia và năm Loại hình thiệt hại môi trường
Chi phí% hàng
năm trong GNP
Burkina Faso, 1988 Suy thoái đất 8.8
Costa Rica, 1989 Phá rừng (Deforestation) 7.7
Ethiopia, 1983 Phá rừng (Deforestation) 6.0-9.0
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và các tài nguyên môi trường nói chung chưa được đánh giá đúng, để dẫn đến lãng
phí; lợi nhuận rơi vào một số ít cá nhân doanh nghiệp; ngân sách quốc gia thất thu;
những người tạo ra sản phẩm giá trị không được thụ hưởng xứng đáng…
Kinh tế hóa ngành có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất
nước. Công tác kinh tế hóa, tài chính hóa ngành tài nguyên môi trường, ví dụ từ đấu
giá quyền sử dụng đất chuyển sang đấu giá quyền thăm dò khai thác khoáng sản, đấu
giá mỏ, bán thông tin, dữ liệu… Nếu làm tốt thì ngành này có thể mang lại nguồn thu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cho ngân sách nhà nước tương đương với nguồn thu dầu khí (khoảng 30% ngân
sách).
Kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường thúc đẩy việc đổi mới công tác
quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường theo hướng thị trường hoá các nguồn tài
nguyên, chủ động vận dụng các quy luật khách quan, khả năng tự điều tiết của kinh tế
thị trường, tăng cường áp dụng các cơ chế, công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực tư duy, nghiên cứu và phân tích kinh tế
trong ngành tài nguyên và môi trường.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KINH TẾ HÓA NGÀNH
TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
5 NĂM 2006 – 2010 CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường mới được
ban hành vào tháng 12 năm 2009. Tuy nhiên trong giai đoạn xây dựng và tổ chức
thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, kể cả những
giai đoạn trước đó, nhiều hoạt động tuy chưa được gọi tên và điều tra đánh giá cụ thể
nhưng vẫn mang bản chất là kinh tế hóa. Trước hết chúng ta cần xem xét bối cảnh
chung kinh tế hóa ngành trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch 5
năm 2006-2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
I. BỐI CẢNH KINH TẾ HÓA NGÀNH TRONG XÂY DỰNG VÀ TỔ
trưởng khá. Trừ ngành công nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của suy thoái kinh
tế thế giới, các ngành và lĩnh vực khác nhìn chung đều đạt được những tốc độ phát
triển nhất định. Sơ bộ tính toán ban đầu, quy mô nền kinh tế GDP năm 2010 tính theo
giá so sánh tăng khoảng 2 lần so với năm 2000.
Huy động được nhiều nguồn lực phục vụ cho đầu tư phát triển, trong đó
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư của kinh tế tư nhân đều tăng
cao. Cơ cấu đầu tư có sự chuyển dịch tích cực, tập trung hơn cho những mục tiêu
quan trọng về phát triển bền vững kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.
Mặc dù nền kinh tế bị nhiều ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và kinh tế
thế giới song công tác xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội vẫn đạt những kết
quả tích cực, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.
Quan hệ quốc tế được mở rộng, các cam kết quốc tế được triển khai thực hiện
tốt, vị thế chính trị của đất nước trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và
nâng cao.
Chính trị giữ vững, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được bảo đảm, hiệu
lực; hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường một bước, cải cách hành chính và
phòng chống tham những đạt nhiều kết quả.
2. Những mặt còn hạn chế
Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, mức
tăng trưởng kinh tế không đạt được mục tiêu đã đề ra; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
chậm, chưa đạt mức mong muốn, triển khai không đồng đều.
Việc thể chế hóa chủ trương phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa còn nhiều bất cập, chưa bắt kịp những yêu cầu của xã hội.
Hiệu quả công tác đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế còn nhiều hạn chế, làm
giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra khá phổ biến. Môi trường vẫn tiếp tục
bị xuống cấp nhanh do ý thức người dân và doanh nghiệp, cũng như công tác bảo vệ
Thủ tướng Chính phủ là 74; số văn bản trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội
là 11. Cụ thể từng năm như sau:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368