VAI TRÒ NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
KẾ HOẠCH KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
I. Vai trò của kế hoạch kinh doanh trong hoạt động của doanh nghiệp
thương mại
1. Tính tất yếu và bản chất của kế hoạch kinh doanh ở doanh nghiệp
thương mại
Kế hoạch kinh doanh được coi là một văn bản trong đó phác thảo ra những
gì sẽ làm trong thời gian tới: đó là những gì mua vào, sản xuất, bán ra và bán cho
ai, cần nguồn nhân lực vật lực như thế nào để công ty tồn tại và phát triển.
Sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang xây dựng cơ chế thị
trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã và đang đặt ra nhiều vấn đề về lý luận
và thực tiễn cần phải nghiên cứu và giải quyết. Một trong những vấn đề đó là lĩnh
vực kế hoạch hóa. Trong những năm chuyển đổi vừa qua có không ít những ý kiến
bàn luận về vai trò và sự tồn tại khách quan của công tác này. Những ý kiến không
hoàn toàn thống nhất với nhau mà còn thậm chí trái ngược nhau. Một số ý kiến cho
rằng: trong nền kinh tế thị trường, trong cơ chế quản lý mới này không có chỗ cho
công tác kế hoạch hóa, tức là kế hoạch hóa không thể tồn tại trong kinh tế thị
trường, công tác này chỉ thích hợp trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Một
số ý kiến khác lại cho rằng: giờ đây khi thị trường trực tiếp điều tiết và chỉ dẫn cho
các doanh nghiệp trong các hoạt động nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản,
dù trong điều kiện nào công tác kế hoạch hóa nói chung và công tác kế hoạch hóa
trong doanh nghiệp nói riêng vẫn tồn tại như một khâu, một bộ phận của hoạt động
quản lý và là một trong những yếu tố cấu thành của cơ chế quản lý. Khi môi trường
và điều kiện hoạt động thay đổi, cùng với các bộ phận khác của cơ chế quản lý mới,
công tác kế hoạch hóa cũng cần được nghiên cứu và đổi mới.
Những bài học thực tiễn trong cơ chế cũ không phải ít, với cơ chế điều hành
cứng nhắc từ trên xuống dưới thể hiện ở các chỉ tiêu pháp lệnh thông qua hệ thống
kế hoạch pháp lệnh đã để lại một sự ăn mòn trong công tác xây dựng kế hoạch kinh
doanh của các công ty mà cho đến nay vẫn còn chưa xoá nhòa được. Hậu quả của cơ
chế cũ đã làm cho các doanh nghiệp không biết đến thị trường, đi ngược lại với các
quy luật của thị trường như: quy luật cung cầu, quy luật giá cả…và do đó điều hành
xuất theo quy luật tái sản xuất mở rộng ở mọi cấp độ của nền kinh tế.
Trong thực tế ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển họ đều rất quan
tâm đến công tác kế hoạch ở cấp công ty. Họ đánh giá đúng vai trò, vị trí, xác định rõ
chức năng và tổ chức nghiên cứu, thực thi nhiều giải pháp nhằm thực hiện hoàn
chỉnh công tác này. Qua những thử nghiệm và đánh giá các nhà kinh tế học nhận
định rằng: hoạt động kế hoạch hóa công ty là sự cần thiết nhằm thực hiện hai mục
đích là tận dụng các cơ hội để tăng khả năng thành công trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và tránh các rủi ro, đe doạ của môi trường đến các
doanh nghiệp. Và thực tế ngày nay trong các doanh nghiệp công tác kế hoạch hoá đã
được quan tâm hàng đầu bởi lẽ hoạt động này giúp cho các đơn vị kinh tế hoạch
định các mục tiêu hoạt động, dự báo các khả năng và nguồn lực của doanh nghiệp,
xây dựng và đánh giá các phương án, hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu sản
xuất kinh doanh đã dặt ra cho năm kế hoạch.
Ra đời từ sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội, doanh
nghiệp thương mại trở thành một bộ phận trung gian độc lập giữa sản xuất và tiêu
dùng, thực hiện chức năng phục vụ nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng về các loại hàng
hóa trong nền kinh tế quốc dân, phát hiện nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trên thị
trường và tìm mọi cách để thỏa mãn các nhu cầu đó. Không ngừng nâng cao trình độ
thỏa mãn nhu cầu của các khách hàng để nâng cao hiệu quả kinh doanh; giải quyết
tốt các mối quan hệ nội bộ doanh nghiệp và quan hệ giữa doanh nghiệp với bên
ngoài. Sự thành công trong kinh doanh chỉ đến với doanh nghiệp khi doanh nghiệp
biết phối hợp tốt nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Kế hoạch kinh
doanh là một công cụ, một yếu tố để tổ chức và quản trị các hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp sao cho có hiệu quả. Kế hoạch kinh doanh có chức năng chủ yếu là
tính toán các nguồn tiềm năng, dự kiến khai thác các khả năng có thể huy động và
phối hợp các nguồn tiềm năng ấy theo những định hướng chiến lược đã định để tạo
ra một cơ cấu hợp lý thúc đẩy tăng trưởng nhanh và giữ cân bằng các yếu tố trên
tổng thể.
* Khái niệm kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại
Doanh nghiệp thương mại khi tiến hành kinh doanh thường phải lập nhiều
mà phải huy động. Chính vì vậy mà ngay từ khi triển khai thực hiện kế hoạch
doanh nghiệp cần phải có chính sách từng bước huy động các nguồn lực với chất
lượng cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
- Các bộ phận của kế hoạch nguồn nhân lực là kế hoạch đầu tư xây dựng
cơ bản, kế hoạch trang thiết bị cơ sở vật chất phục vụ sản xuất và quản lý, kế
hoạch nguồn vốn, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực (kế hoạch đào tạo, kế hoạch
lao động tiền lương). Bên cạnh đó là việc hệ thống hoá các chính sách Marketing,
chính sách tiêu thụ sản phẩm, chính sách phát triển các dịch vụ trong và sau khâu
bán hàng…nhằm đẩy nhanh tốc độ hoàn thành kế hoạch.
- Yêu cầu của kế hoạch nguồn lực là phải xuất phát từ kế hoạch mục tiêu
(có cả sự kết hợp các mục tiêu dài hạn), lấy kế hoạch làm cơ sở cho các quá trình
tính toán, xây dựng kế hoạch.
Giữa kế hoạch mục tiêu và kế hoạch nguồn nhân lực cho sự phát triển có
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Kế hoạch mục tiêu là cơ sở cho kế hoạch nguồn
nhân lực lại là điều kiện để có thể đạt được kế hoạch mục tiêu. Nếu các nguồn lực
không cho phép thì các chỉ số của kế hoạch mục tiêu bắt buộc phải giảm bớt.
Ngược lại nếu nguồn lực huy động được vượt qua sự cần thiết để hoàn thành kế
hoạch có thể dẫn đến sự lãng phí nguồn lực, đặc biệt là yếu tố con người.
Xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch trong kế hoạch nguồn nhân lực: là việc xác
định các thông số kỹ thuật, kinh tế hay các thông số về nguồn lực cần đạt được
trong thời gian tới, với tiến độ kịp thời, có lợi nhất cho việc thực hiện kế hoạch
mục tiêu. Kế hoạch đầu tư cần có sự chi tiêu, cụ thể tránh sự chồng chéo, chậm trễ
hay lãng phí.
2.2.3 Kế hoạch các chính sách xã hội và phân phối kết quả kinh doanh là
việc hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước (nếu là doanh nghiệp Nhà nước),
việc thực hiện các hoạt động mang tính chất tích cực nâng cao phúc lợi cho người
lao động trong đó chủ yếu là chính sách an toàn lao động, thưởng, trợ cấp, giúp
đỡ người lao động lúc khó khăn…Việc thực hiện các chính sách này được thực
hiện bằng cách trích lập các quỹ dành cho người lao động. Các quỹ này được tài
trợ bởi kết quả tài chính mà doanh nghiệp đạt được. Các kết quả tài chính này có
hoặc theo tiến độ thời gian…) gắn liền với việc triển khai các phương án kế hoạch
còn các dự án về cải tạo hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, đào tạo nghiên cứu phát
triển…lại gắn liền với việc thực thi các chương trình hoặc các chương trình đồng bộ
có mục tiêu.
* Căn cứ vào mối quan hệ giữa các loại hoạt động kế hoạch hóa phạm vi doanh
nghiệp có:
- Bộ phận kế hoạch mục tiêu: đây là bộ phận kế hoạch quan trọng nhất của
doanh nghiệp, có nhiệm vụ hoạch định các mục tiêu về sản xuất, thị trường quy mô
và cơ cấu các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó bộ phận kế hoạch mục
tiêu cũng xác định các mục tiêu tài chính cơ bản nhằm xác định hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh gắn liền với từng phương án được hoạch định.
- Các kế hoạch điều kiện, hỗ trợ về vốn, vật tư, nhân lực, tiền lương…xác định
chính sách giải pháp, phương hướng huy động khai thác các khả năng nguồn lực
nhằm thực hiện có hiệu quả các phương án kế hoạch mục tiêu và gắn liền với kế
hoạch mục tiêu. Việc xác định các kế hoạch này nhằm đảm bảo tính đồng thời trong
mục tiêu, giải pháp và điều kiện thực hiện các kế hoạch quản lý. Độ dài thời gian và
các yêu cầu của kế hoạch mục tiêu sẽ quyết định cá vấn đề tương lai của các kế
hoạch điều kiện. Cuối cùng việc xây dựng và thực hiệc các kế hoạch điều kiện là nhằm
đảm bảo và nâng cao tính khả thi của các phương án và các chương trình kế hoạch
của các doanh nghiệp.
4. Vai trò của kế hoạch kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp thương mại
Trong phạm vi doanh nghiệp, kế hoạch là chức năng đầu tiên và quan trọng
của quản lý doanh nghiệp. Theo Henry Foyol “Doanh nghiệp chỉ thu được kết
quả khi nó được hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động, một kế
hoạch nhất định nhằm xác định rõ: Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách
nào? Bán cho ai? Với nguồn tài chính nào?”
Trước kia, trong cơ chế bao cấp, các chỉ tiêu kế hoạch được các cơ quan cấp
trên giao xuống theo nhiệm vụ của từng ngành, do đó thường không sát với thực
tế của doanh nghiệp, trong quá trình thực hiện phải có sự điều chỉnh mới có thể
hợp.
- Thứ năm: Kế hoạch thiết lập nên những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công
tác kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp mà không biết
rõ phải đạt tới cái gì và đạt được bằng cách nào thì đương nhiên không thể xác
định liệu nó đã thực hiện được mục tiêu hay chưa và cũng không có những biện
pháp điều chỉnh kịp thời khi có những lệch lạc xảy ra. Vì vậy, không có kế hoạch thì
cũng không có kiểm tra.
Tóm lại: Chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên, là xuất phát điểm của mọi
quá trình quản lý trong doanh nghiệp trong doanh nghiệp. Thực tế đã chứng minh,
trong cơ chế thị trường kinh doanh của doanh nghiệp mà không có kế hoạch hoặc
chất lượng của kế hoạch không cao thì không bao giờ đạt hiệu quả cao. Việc vạch ra
các kế hoạch hiệu quả là chiếc chìa khoá vàng đem lại sự thành công cho doanh
nghiệp.
5. Ý nghĩa của việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hoá ở doanh nghiệp
thương mại
Kinh doanh là quá trình đầu tư tiền của, sức lao động vào lĩnh vực nào đó để
kiếm lời. Doanh nghiệp thương mại chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi nó thực
hiện hành vi kinh doanh thương mại, nó làm cầu nối giữa người sản xuất và người
tiêu dùng cuối cùng, nó thực hiện chức năng phục vụ nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng
về các loại hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân.
Kinh doanh là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, nó quyết định
việc mở rộng và phát triển của doanh nghiệp. Muốn kinh doanh tốt thì phải làm tốt
công tác lập kế hoạch kinh doanh và thực hiện tốt kế hoạch đó, có thế doanh nghiệp
mới hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao cho và biết được khả năng
của bản thân:
- Kế hoạch kinh doanh bảo đảm cho doanh nghiệp chủ động ứng phó với những
biến động của thị trường.
- Kế hoạch kinh doanh bảo đảm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
- Kế hoạch kinh doanh là một công cụ chủ yếu để quản lý mọi mặt hoạt động
sản xuất kinh doanh, là đòn bẩy quan trọng để khai thác mọi khả năng tiềm tàng
mà doanh nghiệp hướng tới.
Tóm lại, kế hoạch kinh doanh có ý nghĩa quan trọng, nó ảnh hưởng đến thành
công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, có lập
kế hoạch kinh doanh thì doanh nghiệp mới có khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường
và chủ động đối phó với những diễn biến phức tạp để chuẩn bị kế hoạch kinh doanh
hợp lý nhằm phục vụ nhu cầu khách hàng một cách hợp lý, đem lại lợi nhuận kinh tế
cao. Vì vậy mỗi doanh nghiệp cần chú trọng hơn với công tác lập kế hoạch, có thể
thành lập riêng một đội ngũ chuyên lập kế hoạch sao cho hợp lý và chính xác, tạo tiền
đề vững chắc thực sự cho công tác kế hoạch hàng hoá dịch vụ.
II. Nội dung của công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh
doanh của doanh nghiệp thương mại
1. Nghiên cứu thị trường, tìm kiếm cơ hội hấp dẫn và xác định mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp
1.1. Nghiên cứu thị trường tìm kiếm cơ hội hấp dẫn
Công việc đầu tiên khi xây dựng một kế hoạch kinh doanh là nghiên cứu thị
trường bởi vì doanh nghiệp thương mại là một tác nhân trên thị trường mà thị
trường luôn biến động, đầy bí ẩn và thay đổi không ngừng. Mục đích của việc nghiên
cứu thị trường là tìm ra những cơ hội hấp dẫn để từ đó có thể khai thác cơ hội đó
một cách hiệu quả nhất.
Mỗi loại hàng hoá có một nguồn sản xuất, nguồn cung ứng khác nhau, có đặc
tính lý hoá cơ học khác nhau và phục vụ nhu cầu tiêu dùng khác nhau. Do đó nó có
tính chất đặc thù không giống nhau. Khi nghiên cứu thị trường doanh nghiệp sẽ
nghiên cứu thị trường nguồn hàng (nguồn sản xuất, người cung ứng) và thị trường
tiêu thụ sản phẩm. quá trình nghiên cứu thị trường đầu vào cũng như đầu ra của
doanh nghiệp thương mại đều phải trải qua các bước như:
- Nghiên cứu khái quát thị trường: Tổng cung, tổng cầu hàng hoá, giá cả thị
trường, chính sách của chính phủ...
- Nghiên cứu chi tiết thị trường: nhà cung ứng, khách hàng, đói thủ cạnh tranh,
cơ cấu mặt hàng kinh doanh...
Để nghiên cứu thị trường doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp nghiên
- Bảo tồn vốn kinh doanh
Các mục tiêu không mang
tính chất tiền lệ
- Tăng tỷ trọng thị phần
- Sự phát triển của DN
- Sức mạnh v uy là ực DN
- Sự độc lập
- Phục vụ khách h ngà
- Cải tiến chất lượng
Hình 1.2.1:Mục tiêu kinh doanh
(1) Lãnh đạo doanh nghiệp
- Chủ tịch
- Giám đốc
(2) Đặt mục tiêu (sẽ)
- D.số, L.nhuận,
C. phí
- Các tỷ xuất
- Chất lượng
- Khả năng thanh toán
(tiềm lực t i chính)à
Chỉ huy các lĩnh vực
-Lĩnh vực Vật tư
-Lĩnh vực Sản xuất
-Lĩnh vực Nhân sự
-Lĩnh vực T i chính kinh tà ế
-Lĩnh vực Tổ chức thị trường
-Lĩnh vực H nh chính, pháp chà ế
(6) Phân tích
- So sánh (sẽ v à đã)
- Phân tích mạnh v yà ếu