CHƯƠNG IX
LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ
LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ
CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM
CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM
I. LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ VAI
I. LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ VAI
TRÒ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NÓ
TRÒ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NÓ
1. Những cơ sở xuất phát để xây dựng lý
1. Những cơ sở xuất phát để xây dựng lý
luận hình thái kinh tế-xã hội
luận hình thái kinh tế-xã hội
- Các quan điểm trước Mác
- Các quan điểm trước Mác
Trong lịch sử, đã có nhiều cách xuất phát để xem
xét xã hội:
“Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không
phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo
điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ
có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là
những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và
những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những
điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều
kiện do hoạt động của chính họ tạo ra. Như vậy,
những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm bằng con
đường kinh nghiệm thuần túy”.
(C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.3, tr. 28-29).
- Hoạt động xã hội cơ bản của con người
trước hết là lao động sản xuất vật chất.
Sản xuất là hành vi lịch sử đầu tiên của con
người, là yếu tố cơ bản phân biệt con người
với con vật, là động lực cơ bản nhất của sự
phát triển của xã hội, là cơ sở nảy sinh tất cả
những hiện tượng khác trong đời sống xã hội.
Mỗi thời kỳ lịch sử có một cách thức sản
xuất nhất định, gọi là phương thức sản xuất.
Loài người đã biết đến 5 phương thức sản
xuất (PTSX): cộng đồng nguyên thủy, chiếm
hữu nô lệ, phong kiến, TBCN và XHCN.
- PTSX trước hết là phương thức sinh sống
của con người, con người sống như thế nào,
trước hết phụ thuộc vào việc họ sản xuất như
thế nào.
C. Mác và Ph. Ăngghen viết:
“Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy
của LLSX.
QHSX tác động trở lại (thúc đẩy hay
kìm hãm) sự phát triển của lực lượng sản
xuất.
- PTSX là yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
(TTXH).
TTXH là đời sống vật chất của xã hội.
Xã hội còn có đời sống tinh thần phong phú
bao gồm những hình thái ý thức xã hội
(YTXH), những hoạt động tinh thần gắn liền
với những hình thái ý thức xã hội đó.
Các nhà sáng lập ra CNDVLS chỉ ra mối quan hệ
giữa TTXH và YTXH, vai trò quyết định của TTXH
đối với YTXH và sự tác động to lớn của YTXH trở
lại TTXH.
2. Cấu trúc xã hội và phạm trù hình thái
2. Cấu trúc xã hội và phạm trù hình thái
kinh tế-xã hội
kinh tế-xã hội
Các nhà triết học trước Mác khi nghiên cứu xã hội chỉ
xem xét một mặt, tuyệt đối hóa một bộ phận nào đó của xã
hội, do đó chưa đưa ra được một mô hình lý luận phản ánh
xã hội trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó.
Xã hội loài người là một bộ phận, một trình độ
phát triển cao nhất của thế giới vật chất nên cấu
trúc của nó vô cùng phức tạp bao gồm nhiều mặt,
nhiều lĩnh vực, nhiều bộ phận có mối liên hệ tác
động lẫn nhau, quy định lẫn nhau. Do đó, xem xét
xã hội đòi hỏi phải có một cách tiếp cận toàn diện.
quan hệ cơ bản nhất, là cơ sở nảy sinh và phát
triển của tất cả những quan hệ xã hội khác.
Lênin nhận xét: “Bằng cách là trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội, ông đã làm nổi bật
riêng lĩnh vực kinh tế, bằng cách là trong tất cả mọi
quan hệ xã hội ông đã làm nổi bật riêng những quan
hệ sản xuất, coi đó là những quan hệ cơ bản, ban đầu
và quyết định tất cả mọi quan hệ khác”.
(V.I. Lênin, Toàn tập, t. 1, tr. 159)
“Cho đến nay, trong cái mạng lưới phức tạp những
hiện tượng xã hội, các nhà xã hội học lúng túng không
phân biệt được những hiện tượng nào là quan trọng,
và những hiện tượng nào là không quan trọng (đó là
căn nguyên của chủ nghĩa chủ quan trong xã hội học),
và họ không thể tìm được một tiêu chuẩn khách quan
cho sự phân biệt đó. Chủ nghĩa duy vật đã cung cấp
một tiêu chuẩn hoàn toàn khách quan bằng cách tách
riêng những quan hệ sản xuất, với tư cách là cơ cấu
của xã hội, và bằng cách cho chúng ta có khả năng
ứng dụng vào những quan hệ ấy cái tiêu chuẩn khoa
học chung về tính lặp lại, tiêu chuẩn mà phái chủ quan
cho là không thể đem ứng dụng vào xã hội học được.
(V.I. Toàn tập , t. 1, tr. 162).
Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội,
QHSX không tách rời lực lượng sản xuất.
Mác chỉ ra rằng QHSX phải phù hợp
với trình độ phát triển của LLSX.
LLSX và QHSX hợp thành một
phương thức sản xuất.
Sự thay đổi trong LLSX dẫn đến sự
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất (cơ sở hạ
tầng) và kiến trúc thượng tầng.
Các mặt, các bộ phận của đời sống xã hội
có mối liên hệ bản chất, tất yếu, ổn định. Điều
này được Mác và Ăngghen phản ánh trong quy
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy
luật về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng và quy luật về mối quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
3. Phép biện chứng của sự vận động,
3. Phép biện chứng của sự vận động,
phát triển các hình thái kinh tế - xã hội
phát triển các hình thái kinh tế - xã hội a) Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
a) Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất
quan hệ sản xuất
Để sản xuất được, con người phải có hai
mối quan hệ: quan hệ giữa người với tự nhiên
(LLSX) và quan hệ giữa người với người
(QHSX).
● Lực lượng sản xuất là sự kết hợp
giữa người lao động với tư liệu sản xuất,
●
Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng
là toàn bộ
những hiện tượng xã hội hình thành và phát
triển bên trên cơ sở hạ tầng, bao gồm những
tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng
với những tư tưởng đó.